Chuyên đề Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập chung trong môn Toán lớp 3 - Năm học 2023-2024 - Trường Tiểu học Phạm Công Bình

docx 13 trang baochau 11/09/2025 2640
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập chung trong môn Toán lớp 3 - Năm học 2023-2024 - Trường Tiểu học Phạm Công Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxchuyen_de_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giang_day_tie.docx

Nội dung tài liệu: Chuyên đề Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập chung trong môn Toán lớp 3 - Năm học 2023-2024 - Trường Tiểu học Phạm Công Bình

  1. PHÒNG GD&ĐT YÊN LẠC TRƯỜNG TIỂU HỌC PHẠM CÔNG BÌNH =====***===== BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN TOÁN LỚP 3 Tên chuyên đề: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập chung trong môn Toán lớp 3 Tác giả : Giáo viên tổ 3 Trường TH : Phạm Công Bình Yên Lạc, tháng 1 năm 2024
  2. 1 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY TIẾT LUYỆN TẬP CHUNG TRONG MÔN TOÁN LỚP 3 A. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình xây dựng và phát triển ở mỗi quốc gia thì nhân tố con người luôn giữ vai trò quan trọng nhất. Mà con người là sản phẩm của giáo dục. Vì vậy giáo dục cần đổi mới không ngừng để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng lao động. Sự đổi mới đó cần diễn ra đồng bộ ở tất cả các cấp học, trong đó có cấp Tiểu học. Như tất cả các cấp học, bậc Tiểu học có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, là bậc học nền tảng giúp các em hình thành các kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất, tạo cơ sở tiếp thu kiến thức ở các bậc học cao hơn. Bậc Tiểu học trang bị cho học sinh kiến thức ở nhiều lĩnh vực từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội. Trong đó, Toán học là môn học quan trọng, chiếm nhiều thời lượng trong phân phối chương trình giáo dục tiểu học. Cũng như các khối lớp khác, môn Toán 3 cũng sắm vai trò là môn học chính, không những cung cấp cho học sinh những kiến thức, mà nó còn góp phần quan trọng trong việc phát triển năng lực tư duy, hình thành nhân cách ở học sinh, giúp các em phát triển toàn diện. Môn Toán lớp 3 theo chương trình giáo dục phổ thông mới chú trọng hình thành kiến thức song song với kết nối thực tiễn. Chương trình môn Toán 3 gồm các mạch kiến thức chính là: Số và phép tính, Hình học và đo lường, Thống kê và xác xuất. Trong các mạch kiến thức này đều thiết kế các bài học từ hình thành kiến thức đến luyện tập, Sau một số đơn vị bài học đều có các bài luyện tập chung để củng cố kiến thức. Các tiết luyện tập chung chiếm vị trí rất quan trọng trong chương trình môn Toán lớp 3. Thông qua các tiết luyện tập chung, học sinh được ôn lại các kiến thức đã học, kết nối các kiến thức đã học để giải các bài tập mang tính tổng hợp kiến thức từ nhiều hơn một dạng bài. Ngoài ra, các bài tập ở tiết luyện tập chung bên cạnh tính tổng hợp cao còn thường có tính kết nối mạnh mẽ với thực tiễn. Nhiều ngữ liệu thực tiễn được đưa vào đề toán. Với đặc thù như vậy, có thể nói, tiết luyện tập chung thường là thiếu hấp dẫn hơn so với các tiết học mang tính khám phá và thường khó hơn đối với học sinh. Việc dạy tiết luyện tập chung không đơn thuần là giúp học sinh chữa bài tập, mà mục tiêu cốt lõi là giúp học sinh nhớ lại, hệ thống lại các kiến thức đã học sau một số đơn vị bài học; giúp các em vận dụng các kiến thức đó vào giải quyết các tình huống toán học đa dạng hơn trong cuộc sống. Qua đó, một lần nữa các em được củng cố, đưa các kiến thức đó vào trí nhớ dài hạn hơn. Khi dạy luyện tập chung, nếu không có một kế hoạch giảng dạy chi tiết thì giờ học khó thành công. Qua thực tiễn giảng dạy học sinh lớp 3, chúng tôi nhận thấy các em còn gặp nhiều khó khăn trong việc kết nối kiến thức để giải
  3. 2 các bài tập mang tính tổng hợp. Các em cũng khá lúng túng với một số bài tập mang tính kết nối với cuộc sống. Nguyên nhân do sau một số đơn vị bài học thì các em thường hay quên các kiến thức riêng lẻ. Ngoài ra, do vốn sống của các em cũng hạn hẹp, nhiều ngữ liệu thực tế đưa vào bài toán mà các em có thể chưa gặp, chưa thấy, còn chưa hình dung, tưởng tượng được, Từ thực trạng đó, chúng tôi đã nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập chung trong môn Toán lớp 3”. Qua thực tế áp dụng vào giảng dạy trên lớp, chúng tôi đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Cụ thể, trong các tiết học luyện tập chung, các em học sinh sôi nổi, tích cực hơn; ghi nhớ, vận dụng tốt hơn; giờ học đạt hiệu quả cao. Từ những kết quả đó, chúng tôi mạnh dạn trao đổi cùng đồng nghiệp chuyên đề: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập chung trong môn Toán lớp 3.” B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. MỤC TIÊU CỦA CÁC BÀI LUYỆN TẬP CHUNG TRONG MÔN TOÁN 3 1. Kiến thức, kĩ năng - Nhận biết được các kiến thức đã học sau một chủ đề. - Hệ thống lại và nâng cao phần lí thuyết của các bài học trong một chủ đề. - Củng cố cho học sinh các kĩ năng, thuật toán hoặc phương pháp giải toán dựa trên cơ sở các kiến thức đã học thông qua hệ thống các bài tập. 2. Phát triển năng lực - Thông qua các hoạt động học, học sinh được phát triển các năng lực tư duy như so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa; phát triển trí tưởng tượng không gian - Thông qua các hình thức học tập học sinh được phát triển các năng lực giao tiếp, làm việc nhóm, tự giải quyết vấn đề, - Phát triển năng lực ứng dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống toán học mà các em gặp phải trong cuộc sống. 3. Phát triển phẩm chất - Rèn luyện cho học sinh tính chăm chỉ, chịu khó tìm tòi, sáng tạo. - Hình thành ở học sinh tình yêu đối với toán học. II. THỰC TRẠNG DẠY BÀI LUYỆN TẬP CHUNG TRONG MÔN TOÁN 3 1. Thuận lợi - Ban Giám hiệu chỉ đạo sát sao; đội ngũ giáo viên nhiệt tình, ham học hỏi nên việc tiếp cận với chương trình mới, với việc đổi mới phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại của đa số giáo viên khá nhanh chóng, thành thạo. - Giáo viên được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo. - Cơ sở vật chất nhà trường được trang bị tương đối đầy đủ như máy chiếu, đồ dùng dạy học cũng tạo điều kiện thuận lợi giúp giáo viên và học sinh hoàn
  4. 3 thành tốt việc dạy và học. - Sách giáo khoa mới có kích thước to, rộng hơn sách cũ, màu sắc sắc nét, chất liệu giấy tốt, bóng, kênh hình, kênh chữ đa dạng và phong phú làm cho học sinh thích thú học tập, tò mò với những bức tranh và những nội dung trong bài mới. - Tư liệu dạng số hóa khá đa dạng, phong phú nên giáo viên có thể dễ dàng khai thác để phục vụ cho bài dạy của mình. 2. Khó khăn - Đồ dùng và thiết bị dạy học lớp 3 cho học sinh và giáo viên có nhưng còn hạn chế. - Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học của một số giáo viên còn hạn chế. - Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Các em học sinh còn hay quên, thiếu kiên nhẫn, sự liên hệ, liên tưởng của các em còn hạn chế do vốn sống hạn hẹp. - Nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc, nên việc quán xuyến việc học hành của con vẫn chưa sát sao. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY BÀI LUYỆN TẬP CHUNG TRONG MÔN TOÁN LỚP 3 1. Giúp học sinh nắm chắc lí thuyết thông qua các bài học riêng lẻ trong chủ đề Chương trình toán 3 được thiết kế theo từng chủ đề rất rõ ràng. Trong mỗi chủ đề, mỗi bài học cung cấp cho học sinh một đơn vị kiến thức riêng. Cuối mỗi chủ đề và cuối kì học đều có bài luyện tập chung để giúp học sinh củng cố kiến thức đã học trong chủ đề đó hoặc toàn bộ kì học. Để học sinh có thể học tốt giờ luyện tập chung thì học sinh cần học tốt các bài học riêng lẻ trước đó. Vì vậy khi dạy các bài học mang tính lí thuyết, giáo viên cần thiết kế bài giảng chi tiết, chuẩn bị đồ dùng giảng dạy chu đáo để tạo cảm hứng học tập cho học sinh, giúp học sinh chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức. Có như vậy các em mới nhớ lâu kiến thức. Ví dụ: Để học tốt Bài 29. Luyện tập chung (trang 83 – SGK Toán 3 tập 1), học sinh cần nắm chắc các kiến thức về nhân số có hai chữ số với số có một chữ số, gấp một số lên một số lần, phép chia hết và phép chia có dư, chia số có hai chữ số cho số có một chữ số, giảm đi một số lần và bài toán giải bằng hai bước tính được phân bố trong các bài từ 23 đến 28 (trang 67 – 81, SGK Toán 3 tập 1). 2. Sử dụng trò chơi học tập để tạo hứng thú học tập cho học sinh - Tính tích cực, tự giác và chủ động và năng lực tự học của học sinh thể hiện qua một số mặt sau: biết tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề, không rập khuân, máy móc; có kĩ năng ghi nhớ sâu kiến thức một cách tự nhiên, không gò ép, luôn hứng thú và yêu thích môn học; có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế. Để tạo ra sự chủ động trong nhận thức cho học sinh thì cần tạo ra hứng thú học tập cho các em. Phương pháp trò chơi học tập được xem là một trong các phương pháp hiệu quả trong việc tạo hứng thú học tập cho học sinh. - Để nắm bắt được mức độ ghi nhớ kiến thức của học sinh và linh hoạt điều chỉnh,
  5. 4 xử lí tình huống trong quá trình dạy học, giáo viên cần kiểm tra kiến thức của học sinh thông qua một số câu hỏi. Các câu hỏi này có thể được đề cập qua một trò chơi bố trí ngay đầu tiết học nhằm giảm áp lực và tạo hứng thú cho học sinh hoặc ở cuối tiết học để củng cố, liên hệ kiến thức cho học sinh. Bên cạnh đó thì cũng có thể thiết kế việc giải một tập trong tiết học qua một trò chơi. Dù sử dụng trò chơi ở phần nào của bài học thì trò chơi cũng cần được thiết kế khoa học, phù hợp về mặt thời lượng, hấp dẫn về âm thanh và hình ảnh, hình thức tổ chức để lôi cuốn học sinh. - Các bước chuẩn bị và tiến hành trò chơi như sau: + Giáo viên và học sinh chuẩn bị các dụng cụ cần thiết cho trò chơi + Giải thích cách chơi và luật chơi một cách rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu. + Giáo viên cần bao quát học sinh trong quá trình chơi. - Các trò chơi hấp dẫn thường được sử dụng như: Truyền điện, Rung chuông vàng, Ai là triệu phú, Ghép thẻ, bông hoa may mắn, Ví dụ 1: Bài 3, tiết 1 bài ôn tập chung (trang 120, sgk toán 3 tập 1: Bài tập này có nhiều yêu cầu nên có thể thiết kế dưới dạng các câu hỏi trong một trò chơi mang tên “Trả lời ngay, rinh quà liền tay”. Mỗi câu hỏi trong bài có 30s suy nghĩ và trả lời. Mỗi câu trả lời đúng, học sinh được nhận một phần quà nhỏ. Có thể để 1 học sinh điều khiển trò chơi để tăng sự hào hứng và rèn luyện sự tự tin cho các em. Ví dụ 2: Với bài tập 2 (trang 119, sgk toán 3) giáo viên cũng có thể đưa các câu hỏi trắc nghiệm của bài thành các câu hỏi trong trò chơi Truyền điện. Cách chơi: mỗi học sinh trả lời đúng sẽ được quyền chỉ định một bạn khác trả lời câu hỏi tiếp theo. Ví dụ 3: Ở cuối tiết ôn tập (trang 120, sgk toán 3), giáo viên có thể thiết trò chơi Giúp chim xây tổ như sau: Cách chơi: để giúp chim xây tổ, các bạn sẽ trả lời lần lượt các câu hỏi. Mỗi câu hỏi đúng sẽ giúp thêm rơm rạ để xây tổ. 3. Nghiên cứu kĩ các bài tập trong tiết học để chủ động dẫn dắt và định hướng cho học sinh - Việc nghiên cứu kĩ các bài tập giúp học sinh đạt được mục tiêu thực sự của bài học là hệ thống lại và ghi nhớ sâu các kiến thức chứ không đơn thuần là chữa bài tập. - Giáo viên cần xem xét kĩ các bài toán trong tiết học theo yêu cầu sau: + Bài toán cho biết gì, hỏi gì? Dự đoán các từ ngữ mà học sinh còn chưa hiểu nghĩa. + Bài toán thuộc dạng toán nào? + Học sinh cần huy động những kiến thức nào để giải toán? (Đặc biệt là các bài tập mang tính tổng hợp) + Có bao nhiêu cách giải cho bài toán đó?
  6. 5 + Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học nào là phù hợp? + Bài toán giúp củng cố kiến thức nào? + Liên hệ kiến thức từ bài toán. Ví dụ: Bài 3, tiết luyện tập chung trang 111, sgk toán 3 tập 1 - Khi xem xét bài toán này, ta thấy sau khi tìm hiểu đề toán, có 2 cách hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán: Bằng lời: Tóm tắt Con bê: 120kg Con bò: nặng gấp 3 lần con bê Cả hai con: ?kg Bằng sơ đồ đoạn thẳng: Tóm tắt 120kg Con bê: ?kg Con bò: Tuy nhiên cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng giúp học sinh có trực quan tốt hơn, dễ hiểu hơn và việc quan sát sơ đồ giúp học sinh có thể tìm thêm cách giải mới cho bài toán. - Nhận diện dạng toán: Đây là bài toán giải bằng hai bước tính. - Các kiến thức cần huy động: nhân số có ba chữ số với số có một chữ số, gấp một số lên một số lần, cộng các số có ba chữ số. - Dựa vào và liên kết các kiến thức đã học để giải toán, giáo viên có thể gợi ý để học sinh đưa ra hai cách trình bày lời giải: Vận dụng giải bài toán bằng 2 bước tính: Bài giải: Con bò cân nặng số ki – lô – gam là: 120 x 3 = 360 (kg) Cả hai con cân nặng số ki – lô – gam là: 120 + 360 = 480 (kg) Đáp số: 480kg Vận dụng bài học tính giá trị của biểu thức, đưa ra cách trình bày như sau: Bài giải: Cả hai con cân nặng số ki – lô – gam là: 120 + 120 x 3 = 480 (kg) Đáp số: 480kg Cần lưu ý rằng cách trình bày thứ hai về bản chất không phải là một cách giải khác cho bài toán mà đơn giản chỉ là một cách trình bày khác.
  7. 6 - Cách giải trên là cách giải dựa trên các kiến thức quen thuộc đã học. Ngoài ra giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát sơ đồ đoạn thẳng để tìm thêm cách giải mới cho bài toán như sau: Bài giải: Tổng số phần bằng nhau là: 1 + 3 = 4 (phần) Cả hai con nặng số ki – lô – gam là: 120 x 4 = 480 (kg) Đáp số: 480kg - Hình thức tổ chức dạy học: Với bài tập này có thể cho học sinh thảo luận nhóm đôi. - Sau khi hướng dẫn bài toán, giáo viên cần yêu cầu học sinh nhắc lại và ghi nhớ các kiến thức được ôn tập qua bài toán. 4. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, tạo cơ hội học tập chủ động và rèn các năng lực toán học cho học sinh - Trong quá trình thiết kế giáo án lên lớp, giáo viên cần xen kẽ các hình thức tổ chức dạy học khác nhau để giảm sự đơn điệu, nhàm chán của bài dạy. Bên cạnh các hoạt động cá nhân cần có các hoạt động nhóm. Thông qua các hoạt động này, học sinh được rèn năng lực tư duy, tự giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, hợp tác với bạn để hoàn thành nhiệm vụ học tập. - Đối với các bài tập với các yêu cầu ở mức 1,2 có thể lựa chọn các hình thức làm việc cá nhân để hoàn thành bài tập; đối với các bài có tính tổng hợp, vận dụng kiến thức thì giáo viên cần lựa chọn hình thức làm việc nhóm đề hoàn thành yêu cầu bài tập. Trong hoạt động nhóm tất cả học sinh đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết các vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học. Trong mỗi nhóm học tập cần có nhóm trưởng điều hành hoạt động nhóm, thư kí ghi lại kết quả hoạt động nhóm, các thành viên được trao đổi tích cực với nhau về việc giải quyết nhiệm vụ học tập. - Ví dụ: Bài 4 (trang 118, sgk toán 3 tập 1): Người ta xếp các khối lập phương nhỏ màu trắng thành khối hộp chữ nhật như hình vẽ. Hỏi có tất cả bao nhiêu khối lập phương nhỏ được sơn 3 mặt? + Đây là một bài tập rất khó đối với học sinh vì nó mang tính vận dụng cao, đòi hỏi học sinh cần có trí tưởng tượng phong phú. Đối với học sinh nhận thức chưa tốt thì việc phải làm một mình khiến các em bối rối. Vì vậy với những bài tập như thế này giáo viên nên cho thảo luận nhóm. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ I. Kết luận
  8. 7 Qua việc vận dụng các biện pháp trên vào giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh đã có nhiều biến chuyển đáng kể. Không khí lớp học sôi nổi, thoải mái. Đặc biệt học sinh ghi nhớ sâu kiến thức, có nền tảng tốt để tiếp nhận các kiến thức mới. Học sinh cũng trở nên mạnh dạn, tự tin, khả năng phân tích, nhận diện bài tập tiến bộ đáng kể. Mỗi giờ ôn tập không còn trở nên nhàm chán và nặng nề đối với các em, thay vào đó là sự vui vẻ, hào hứng học tập. Về phía giáo viên, các thầy cô cũng đỡ vất vả hơn trong việc truyền tải kiến thức cho học sinh. Giáo viên không còn phải giảng giải, nhắc nhở các em nhiều. Việc dạy các tiết học này cũng không trở nên nặng nề đối với chính giáo viên. Sự hào hứng từ phía học sinh cũng tạo cho các thầy cô sự tự tin, linh hoạt trong dạy học. II. Đề xuất, kiến nghị. Để chất lượng dạy và học môn Toán lớp 3 ngày càng tốt thì mỗi giáo viên cần tăng cường tự bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng, tự đổi mới phương pháp và tổ chức nhiều hình thức dạy học để tạo hứng thú và say mê học toán cho học sinh. Chú trọng dạy thực hành, trải nghiệm để học sinh tích cực, chủ động nắm vững kiến thức từng bài. Mỗi giáo viên cần thực sự tâm huyết, không ngừng học hỏi, động viên khuyến khích học sinh để từng bước góp phần nâng cao chất lượng môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Trên đây là báo cáo chuyên đề “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập chung trong môn Toán lớp 3” của tổ 3. Rất mong nhận được sự đóng góp của các đồng nghiệp để báo cáo chuyên đề của chúng tôi được hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn! Đồng Văn, ngày 02 tháng 01 năm 2024 XÁC NHẬN CỦA BGH T.M giáo viên tổ 3 TTCM Vũ Thị Phương Bùi Thị Thùy Dương
  9. 8 D. KẾ HOẠCH BÀI DẠY MINH HỌA Toán ÔN TẬP CHUNG (T1) I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT: 1. Năng lực đặc thù: - Củng cố về phép tính nhân, chia số có hai, ba chữ số với (cho) số có một chữ số, tính giá trị của biểu thức, về hình học (trung điểm của đoạn thẳng, góc vuông, đường gấp khúc,...), về đo lường, về giải toán có lời văn (hai bước tính). - Phát triển năng lực lập luận, tư duy toán học và năng lực giao tiếp toán học 2. Năng lực chung: - Tự chủ, tự học: lắng nghe, trả lời câu hỏi, làm bài tập. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: tham gia trò chơi, vận dụng. - Năng lực giao tiếp và hợp tác: hoạt động nhóm. 3. Phẩm chất: - Nhân ái: Có ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động nhóm - Phẩm chất chăm chỉ: Chăm chỉ suy nghĩ, trả lời câu hỏi; làm tốt các bài tập. - Phẩm chất trách nhiệm: Giữ trật tự, biết lắng nghe, học tập nghiêm túc. II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC – Máy tính, máy chiếu, SGK III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh 1. Khởi động: GV cho HS khởi động. - GV Nhận xét, tuyên dương, dẫn dắt vào bài mới - HS tham gia khởi động, vận Các bạn khởi động có vui không? Chúng ta vừa có động theo nhạc một phần khởi động thật vui vẻ phải không nào? - HS lắng nghe. Các em đã sẵn sàng cho bài học ngày hôm nay chưa? Mời các em mở SGK trang 120 bài 44: Ôn tập chung (Tiết 1) 2. Luyện tập: Bài 1. (làm việc cá nhân- bảng con) Mời các bạn chúng ta cùng vào bài tập số 1 Cô mời 1 bạn đọc yêu cầu - 2 HS đọc yêu cầu: Đặt tính Đây là các phép nhân số có 3 chữ số với số có 1 rồi tính chữ số. Vậy khi đặt tính các em cần lưu ý điều gì? - Nhận xét: Em trả lời đúng rồi - HS trả lời: Ta cần đặt thừa Với bài tập này, các bạn sẽ làm vào bảng con cho số thứ hai thẳng cột với thừa cô. số thứ nhất - HS làm cá nhân vào bảng con từng phép tính
  10. 9 213 217 161 x 3 x 4 x 5 639 868 805 - GV nhận xét. Vậy khi thực hiện phép tính em - HS nêu: Phép tính thứ nhất thấy 3 phép tính này có gì khác nhau? là phép nhân không nhớ, phép tính thứ 2 là có nhớ từ hàng đơn vị sang hàng chục, phép tính thứ 3 là có nhớ từ hàng chục sang hàng trăm. - GV nhận xét, chốt: qua BT 1 chúng ta được củng cố phép nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số. Vậy để xem các bạn có thực hiện tốt phép chia số có 2 chữ số cho số có 1 chữ số hay không thì cô trò mình cùng chuyển sang bài tập số 2. Bài 2: Tính (làm việc cá nhân – phiếu học tập) - Mời bạn.... đọc yêu cầu BT2 - HS đọc yêu cầu của bài Nhận xét, chiếu slide: Khi chia số có 2 chữ số cho số có 1 chữ số thì 1. Đặt tính theo đúng cột, chúng ta cần lưu ý điều gì? đúng vị trí của số bị chia, số - GV nhận xét. chia, thương. 2. Thực hiện phép tính từ trái sang phải từ hàng chục sang hàng đơn vị. Mỗi lần chia đều phải thực hiện qua 3 bước: Với bài tập, cô sẽ cho các em làm trên phiếu cá Chia, nhân, trừ. nhân để thi xem bạn nào làm nhanh nhất nhé - HS làm phiếu, 2 HS làm - GV nhận xét, tuyên dương. phiếu lớn. Qua 2 bài tập vừa rồi cô thấy các bạn nhân chia rất là tốt. Cô khen cả lớp Tiếp theo, cô trò mình sẽ cùng ôn lại 1 số kiến thức về hình học qua bài tập số 3. Cô mời 1 bạn đọc nội dung bài tập 3 Bài 3: Trò chơi Trả lời ngay, rinh quà liền tay - 1 HS đọc Tìm trung điểm, góc vuông, đỉnh của hình? Cho cô biết BT3 có mấy yêu cầu - Có 2 yêu cầu Bạn nào giỏi cho cô biết trung điểm là gì? - Trung điểm là điểm nằm ở giữa hai đầu đoạn thẳng và cách đều 2 đầu đoạn thẳng. Vậy còn muốn biết 1 góc vuông hay không vuông - HS trả lời:
  11. 10 ta làm thế nào? Dùng thước ê ke để kiểm tra Cô thấy các bạn ghi nhớ kiến thức rất là tốt. Với bài tập này cô sẽ tổ chức cho các bạn 1 trò chơi hấp dẫn mang tên: Trả lời ngay, rinh quà liền tay ! - GV hướng dẫn cách chơi, luật chơi. - HS chơi trò chơi. a) M là trung điểm của đoạn thẳng BC; N là trung điểm cùa đoạn thẳng ED; Q là trung điểm của đoạn thẳng BM; p là trung điềm cùa đoạn thẳng ND. b) Có 4 góc vuông là: góc vuông đỉnh B, cạnh BC, BE; góc vuông đỉnh C, cạnh CB, CD; góc vuông đỉnh E, cạnh EB, ED; góc vuông đỉnh D, cạnh DC, DE. - HS trả lời: Trung điểm của Bài 3 đã củng cố cho các em những kiến thức nào? một đoạn thẳng; góc vuông. - HS nhận xét Bài tập 3 đã giúp các em ôn lại 1 số kiến thức về hình học. Để biết bài tiếp theo sẽ giúp chúng ta ôn tập về kiến thức nào? Cô mời 1 bạn đọc cho cô BT4 Bài 4. Tính giá trị của biểu thức Quan sát hai biểu thức này và cho cô biết: Chúng - HS đọc bài 4 thuộc dạng biểu thức nào đã học? - Tính giá trị biểu thức Với Biểu thức chỉ chứa phép tính cộng, trừ ta làm - Học sinh trả lời: thế nào? a, Biểu thức chỉ chứa phép Còn biểu thức chứa dấu ngoặc thì sao? tính cộng và trừ b, Biểu thức có chứa dấu Rất tốt, cả lớp khen bạn nào ngoặc Bây giờ các em làm bài tập 4 vào vở trong thời - Ta thường tính từ trái sang gian 3 phút. phải Cô mời 2 bạn lên chữa bài nào - Ta thường tính phép tính bên trong ngoặc trước - HS làm bài vào vở
  12. 11 - 2HS lên bảng làm bài a)175 + 42 - 75 Mời bạn.... nhận xét bài của bạn = 217 – 75= 142 Có bạn nào ra kết quả khác không? b)12 x (12- 9) Rất tốt. Đó cũng là đáp án của cô. = 12 x 3 = 36. Ngoài cách làm này, bạn nào có cách làm khác - HS trả lời: không? Biểu thức 1 em có cách tính Em chia sẻ cho cả lớp nghe nào khác ạ. Mời bạn..... nhận xét a) 175 + 42 - 75 - Giáo viên nhận xét: À đó cũng là một cách làm = 175 – 75 + 42 đúng đấy. = 142 Bạn rất thông minh, cả lớp thưởng cho bạn 1 tràng pháo tay thật to nào. Đối với phần b chúng ta cũng có 1 cách làm khác nữa. Các em sẽ tìm hiểu ở những lớp trên - GV cho HS nêu lại cách tính giá trị của biểu thức - GV quan sát và giúp đỡ HS - GV và HS nhận xét, chữa bài cho HS Qua bài tập vừa rồi cô thấy các bạn nắm rất chắc cách tính giá trị của biểu thức. Bạn nào giỏi có thể nhắc lại cách tính giá trị biểu thức chỉ chứa các dấu phép tính cộng, trừ Còn biểu thức chứa dấu ngoặc thì thực hiện như thế nào? - Ta thường tính từ trái sang Sau 4 bài tập, chúng ta đã được ôn lại khá nhiều phải kiến thức toán. Tiếp theo, chúng ta sẽ ôn giải toán - Ta thường tính phép tính bên có lời văn qua bài tập số 5. trong ngoặc trước Mời 1 bạn đọc cho cô bài tập số 5 Bài 5. Giải bài toán: - GV cho HS tìm hiểu đề bài + Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Bạn nào phát hiện ra bài toán thuộc dạng toán nào đã học? - HS đọc yêu cầu của bài. Tóm tắt: 100l - Học sinh trả lời: 1 thùng ? l - Bài toán giải bằng 2 bước 5 can tính - HS làm phiếu, 2 nhóm làm - Để tìm được cách giải của bài toán này cô sẽ cho phiếu (2 cách trình bày khác nhau)
  13. 12 các bạn thảo luận nhóm đôi 3 phút Bài giải - GV cho HS lên trình bày kết quả Số lít nước mắm ở 5 can là: 10 X 5 = 50 (l) Cửa hàng nhà bà Năm có tất cả số lít nước mắm là: 100 + 50= 150(l) Đáp Số: 150l nước mắm. - GV nhận xét, tuyên dương. Bài giải Cửa hàng nhà bà Năm có tất cả số lít nước mắm là: 100 + 10 x 5 = 150 (l) Đáp số: 150l nước mắm 3. Vận dụng: - Trò chơi vận dụng: Trò chơi “Giúp chim xây tổ’’ - HS tham gia chơi. - Giáo viên nhận xét. IV. Điều chỉnh sau bài dạy: ................................................................................................................................ .................................................................................................................................