2 Đề kiểm tra cuối kì 1 môn Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2023-2024 - Trường THCS Điền Mỹ (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "2 Đề kiểm tra cuối kì 1 môn Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2023-2024 - Trường THCS Điền Mỹ (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
2_de_kiem_tra_cuoi_ki_1_mon_ngu_van_lop_9_nam_hoc_20231_2024.doc
Nội dung tài liệu: 2 Đề kiểm tra cuối kì 1 môn Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2023-2024 - Trường THCS Điền Mỹ (Có đáp án)
- PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KỲ I, NĂM HỌC 2023 - 2024 HƯƠNG KHÊ Môn: Ngữ văn 9 - Thời gian làm bài: 90 phút ĐỀ CHÍNH THỨC Mã đề: 01 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Trong cuộc đời bình yên tựa nghìn xưa Có mấy ai nhớ về ngọn cỏ Gần gũi nhất vẫn là cây lúa Mọc vô tình trên lối ta đi Trưa nắng khát ước về vườn quả Dẫu nhỏ nhoi không đáng nhớ làm chi Lúc xa nhà nhớ một dáng mây Không nghĩ đến nhưng mà vẫn có. Một dòng sông, ngọn núi, rừng cây (Trích Cỏ dại - Xuân Quỳnh) Một làn khói, một mùi hương trong gió. Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả đã nhớ về những sự vật gần gũi, thân quen nào? Câu 3. Phân tích tác dụng của phép tu từ liệt kê trong hai câu thơ: Một dòng sông, ngọn núi, rừng cây/ Một làn khói, một mùi hương trong gió. Câu 4. Nêu nội dung chính của đoạn trích trên. II.LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu quê hương trong đời sống mỗi con người. Câu 2. (5,0 điểm) Trong bài thơ Bếp lửa, nhà thơ Bằng Việt viết: Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa. Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi, Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy, Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! (Trích Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD Việt Nam, tr.142) Cảm nhận của em về đoạn thơ trên. ---------- HẾT ----------- - Thí sinh không được sử dụng tài liệu; Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. - Họ và tên thí sinh: . Số báo danh: .....
- 2 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KỲ I, NĂM HỌC 2023 - 2024 HƯƠNG KHÊ Môn: Ngữ văn 9 - Thời gian làm bài: 90 phút ĐỀ CHÍNH THỨC Mã đề: 02 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Trong cuộc đời bình yên tựa nghìn xưa Có mấy ai nhớ về ngọn cỏ Gần gũi nhất vẫn là cây lúa Mọc vô tình trên lối ta đi Trưa nắng khát ước về vườn quả Dẫu nhỏ nhoi không đáng nhớ làm chi Lúc xa nhà nhớ một dáng mây Không nghĩ đến nhưng mà vẫn có. Một dòng sông, ngọn núi, rừng cây (Trích Cỏ dại – Xuân Quỳnh) Một làn khói, một mùi hương trong gió Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2. (0,5 điểm) Trong đoạn trích, tác giả đã nhớ về những sự vật gần gũi, thân quen nào? Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của phép tu từ liệt kê trong hai câu thơ: Một dòng sông, ngọn núi, rừng cây/Một làn khói, một mùi hương trong gió. Câu 4. (1,0 điểm) Nêu nội dung chính của đoạn trích trên. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình yêu quê hương trong đời sống mỗi con người. Câu 2. (5,0 điểm) Trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, nhà thơ Phạm Tiến Duật viết: Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái. (Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD Việt Nam, tr.131) Cảm nhận của em về đoạn thơ trên. ---------- HẾT ----------- - Thí sinh không được sử dụng tài liệu; Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. - Họ và tên thí sinh: . Số báo danh: .....
- 3 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN CHẤM CUỐI KỲ 1 MÔN: NGỮ VĂN 9 (Hướng dẫn chấm gồm có 8 trang) I. Hướng dẫn chung - Giáo viên cần nắm vững yêu cầu của đề bài để đánh giá tổng quát năng lực của học sinh: năng lực hiểu biết, vận dụng, sáng tạo và khả năng tạo lập văn bản. - Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể: nếu học sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản hoặc có những kiến giải một cách sáng tạo, thuyết phục thì vẫn có thể cho điểm tối đa; tránh việc đếm ý cho điểm. Trân trọng những bài viết sáng tạo, giàu chất văn, liên hệ tốt, có lối tư duy phản biện; kết cấu chặt chẽ, mạch lạc. - Với bài mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp và kiến thức thì tuỳ vào mức độ để cho điểm. II. Hướng dẫn cụ thể Mã đề 01 I. Đọc hiểu: 3,0 điểm Câu Nội dung Điểm 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm 0,5 2 Học sinh chỉ ra được một số sự vật gần gũi thân quen: cây lúa, vườn quả, 0,5 dòng sông, ngọn núi, dáng mây (chỉ được 3 sự vật là cho điểm tối đa) 3 Học sinh phân tích được ngắn gọn tác dụng của phép tu từ liệt kê qua các từ ngữ: dòng sông, ngọn núi, rừng cây, làn khói, một mùi hương phép liệt kê diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những hình ảnh quê hương trong nỗi nhớ của tác giả, từ vật hữu hình đến cái vô hình. Phép liệt kê trong hai câu 1,0 thơ trên cũng giúp cụ thể hóa những hình ảnh của cảnh vật quê nhà hiện lên trong nỗi nhớ của người xa quê; thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng; đồng thời giúp tăng tính nhạc và sự sinh động, hấp dẫn cho lời thơ. 4 Nội dung đoạn thơ: Thể hiện tình cảm của người con xa quê (Nỗi nhớ quê hương trong lòng người đi xa hoặc Tình yêu quê hương đất nước) 1,0 II. Làm văn Câu 1: 2,0 điểm Ý Nội dung Điểm a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: Thí sinh viết đúng hình thức một 0,25 đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ với cấu trúc: Mở đoạn, Thân đoạn và Kết đoạn. Bắt đầu đoạn bằng chữ lùi đầu dòng viết hoa, kết thúc bằng dấu chấm
- 4 qua dòng. Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của tình cảm quê hương trong 0,25 cuộc đời mỗi con người c. Triển khai vấn đề nghị luận 1,0 Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải trình bày được suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của tình cảm quê hương trong đời sống mỗi con người, có thể theo hướng: - Giải thích: Quê hương là nơi mỗi con người được sinh ra, lớn lên, là mảnh đất chúng ta chôn rau cắt rốn, gắn bó với những kỉ niệm đẹp đẽ khó quên. - Biểu hiện, ý nghĩa của tình cảm quê hương: Tình cảm quê hương là một nét đẹp truyền thống của mỗi người Việt Nam chúng ta. Đó là sự tự hào về phong tục, tập quán, nét đẹp văn hóa quê hương. Khi ta xa quê, tình cảm quê hương trong ta bắt đầu từ nỗi nhớ về những điều bình dị, gần gũi, mộc mạc. Quê hương là chỗ dựa tinh thần giúp ta vượt qua những khó khăn thử thách, giúp ta đứng lên sau vấp ngã. Tình yêu quê hương đất nước giúp ta có những hành động đúng đắn để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. - Bàn luận: Mỗi con người đều có một quê hương với những kỉ niệm gắn bó như máu thịt. Tình cảm quê hương giúp chúng ta sống ý nghĩa hơn, có trách nhiệm với cuộc đời chính mình, ý thức được tình yêu quê hương, biết ơn đến nguồn cội, gốc rễ nơi chôn rau cắt rốn nơi mà mình đã sinh ra và lớn lên, gắn với nhiều kỷ niệm trong quá trình trưởng thành của mỗi người. - Mở rộng, nêu nhận thức bản thân: Từ vấn đề nghị luận, nhắc nhở mỗi người ý thức trân trọng tình cảm quê hương. Mỗi chúng ta phải nuôi dưỡng tình yêu quê hương từ những điều nhỏ nhất. Có ý thức trong từng hành động để góp phần xây dựng quê hương, làm cho đất nước ngày càng giàu đẹp. d. Chính tả, ngữ pháp. 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. e. Sáng tạo 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2: 5,0 điểm –MĐ 01 Cảm nhận về đoạn trích Điể m a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. 0,25
- 5 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận được nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: *Giới thiệu khái quát về tác giả Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa, vị trí đoạn thơ 0,5 trong bài thơ
- 6 * Cảm nhận về đoạn thơ Ý 1: Khái quát về tác phẩm, nội dung chính của đoạn thơ: 0,25 Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963, lúc cả nước đang đấu tranh chống Mỹ, bản thân tác giả là đang là du học sinh ở nước ngoài nhưng lúc nào cũng không nguôi nỗi nhớ về quê hương, nhất là hình ảnh người bà và bếp lửa. Đoạn thơ ở đề bài là hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kỷ niệm về tuổi thơ bên bà và tình bà cháu. Ý 2, 3: Cảm nhận về đoạn thơ: (Học sinh có thể cảm nhận ngang từng khổ thơ hoặc cảm nhận dọc theo tình cảm của bà dành cho cháu và tình cảm của cháu dành cho bà, sau đây là một hướng làm bài) Cảm nhận khổ thơ 1: 1,25 - Khổ thơ là hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kỷ niệm: Bếp lửa là hình ảnh đầu tiên trong nỗi nhớ của người cháu về quê hương và bên cạnh bếp lửa là hình ảnh người bà. Hình ảnh bếp lửa hiện lên vừa xa, vừa gần, vừa thực vừa hư. “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm” Nó như là sự khắc khoải của tác giả về một miền ký ức dù đã bị thời gian vùi lấp, nhưng chưa bao giờ lãng quên mà chỉ chờ cơ hội để quay trở về đánh thức nỗi nhớ trong lòng tác giả. Bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp ấy, mạch hồi tưởng của bài thơ bắt đầu với cách biểu lộ cảm xúc trực tiếp của người cháu đối với bà: Cháu thương bà biết mấy nắng mưa! - Cách thể hiện: Sử dụng điệp ngữ, từ láy, từ tượng hình, cách bộc lộ cảm xúc trực tiếp. Khổ thơ là nỗi nhớ quê hương của nhân vật trữ tình khi đi xa, hình ảnh để lại 1,25 dấu ấn sâu đậm nhất là người bà và bếp lửa với những kỉ niệm tuổi thơ theo suốt cuộc đời. Cảm nhận khổ thơ 2: - Khổ thơ là những kỷ niệm tuổi thơ bên bà và tình bà cháu: kỉ niệm buồn khó quên: "năm đói mòn đói mỏi", "khô rạc ngựa gầy", "khói hun nhèm mắt cháu", "sống mũi còn cay". Đó là kỉ niệm về "mùi khói", về "khói hun", một thời kỳ nghèo khổ gắn liền tuổi thơ bên bà và bếp lửa. Khổ thơ gợi nhắc về nạn đói khủng khiếp năm 1945. Vần thơ là tiếng lòng thời thơ ấu gian khổ, rất chân thực cảm động. Bằng Việt đã tái hiện lại bức tranh về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam một cách vô cùng chân thực, xúc động. Kí ức của nhân vật trữ tình trở về năm bốn tuổi đầy ám ảnh. Trong nỗi ám ảnh ấy, có chỗ dựa tinh thần vững chắc là người bà với bếp lửa mỗi sớm mai. - Cách thể hiện: Ngôn ngữ thơ mộc mạc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm và miêu tả, tự sự và bình luận. Thể thơ tám chữ kết hợp với 7 chữ, 9 chữ phù hợp với việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà. Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chân thành. Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa
- 7 thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Hai khổ thơ là dòng hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành. Từ hình ảnh bếp lửa đã gợi về những kỷ niệm tuổi thơ và tình bà cháu, đồng 0,5 thời thể hiện lòng yêu mến, kính trọng, biết ơn của người cháu đối với bà cũng như đối với gia đình, quê hương, đất nước. Ý 4: Đánh giá: - Khái quát về nội dung, nghệ thuật; - Liên hệ với những tác phẩm cùng chủ đề để so sánh, mở rộng; 0,5 - Khẳng định tài năng nghệ thuật của tác giả Bằng Việt trong việc sáng tạo hình ảnh thơ Bằng bút pháp tả, kể kết hợp với biểu cảm, ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị nhưng giàu sức gợi. 3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận (đánh giá đóng góp của đoạn trích với tác phẩm...) và bày tỏ ấn tượng sâu sắc về đoạn trích.
- 8 d. Chính tả, ngữ pháp. 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. e. Sáng tạo 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Câu 2: 5,0 điểm Cảm nhận về đoạn trích Điể m a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. 0,25 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận được nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: *Giới thiệu khái quát về tác giả Phạm Tiến Duật và tác phẩm Bài thơ về tiểu 0,5 đội xe không kính, vị trí đoạn thơ trong bài thơ * Cảm nhận về đoạn thơ Ý 1: Khái quát về tác phẩm, nội dung chính của đoạn thơ: “Bài thơ về tiểu 0,25 đội xe không kính”sáng tác năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn. Đoạn thơ ở đề bài thuộc phần đầu của bài thơ đã khắc họa hình ảnh những chiếc xe không kính, qua đó làm nổi bật hình ảnh người lính lái xe với tư thế ung dung hiên ngang. Ý 2,3: (Học sinh có thể cảm nhận dọc theo hình ảnh những chiếc xe không kính và hình ảnh những người lính lái xe hoặc cảm nhận theo từng khổ thơ, sau đây là một hướng cảm nhận) Cảm nhận khổ thơ 1: - Khổ thơ khắc họa hình ảnh độc đáo của những chiếc xe không kính: Thông 1,25 qua cách giới thiệu, cách giải thích độc đáo, lý do tại sao xe lại không có kính " Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi ". Một lý do rất đơn giản nhưng đằng sau câu thơ chúng ta ngầm hiểu rằng tác giả muốn nói một điều khác, đó là không khí ác liệt của chiến trường, của chiến tranh. Đó là sự ác liệt của "Bom giật, bom rung " của súng đạn kẻ thù. Qua hình ảnh những chiếc xe không kính đã làm nổi bật hình ảnh người lính lái xe với tư thế ung dung hiên ngang. Những người lính thực hiện nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn gập ghềnh, khói lửa, bom đạn hiểm nguy trong tình trạng xe không kính và các chiến sĩ lái xe vô vùng vất vả, nhưng người đọc chỉ cảm nhận được ở đây một tư thế: “Ung dung buồng lái ta ngồi ”
- 9 - Cách thể hiện: Điệp ngũ: “không có”, cách nói phủ định để khẳng định: “không có không phải vì không có” Cách nói mang đậm tính khẩu ngữ, gần với văn xuôi, giọng điệu tinh nghịch, vui đùa pha chút ngang tàng, dùng biện pháp đảo ngữ và điệp từ Khổ thơ đầu, không chỉ là lời giải thích mà còn phản ánh hiện thực chiến tranh. Vì vậy hình ảnh "chiếc xe không kính " - hậu quả của chiến tranh ác liệt ấy trở thành hình tượng độc đáo trong thời kì chống Mỹ. Nếu như ở hai câu trên, còn đang là "bom giật" dữ dội, ác liệt thì câu thơ dưới là tư thế " ung dung" của người lính. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp đối lập để làm nổi bật tư thế hiên ngang, quả cảm trước bom đạn của quân thù. Đó là vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam trên tuyến đường Trường Sơn những năm chống Mỹ. Cảm nhận khổ thơ 2 - Những khó khăn, vất vả khi ngồi trong những chiếc xe không kính: Làm nhiệm vụ trên những chiếc xe không kính, người lính phải đối diện trực tiếp với sự khốc liệt của thời tiết núi rừng Trường Sơn. Phải đối diện với gió, bụi, mưa nắng thất thường và địa hình hiểm trở. Đoạn thơ đã diễn tả về tốc độ chiếc xe đang lao nhanh với cảm giác mạnh, đột ngột khiến người đọc hình dung được rõ ràng những ấn tượng, cảm giác như chính minh đang lái chiếc xe không kính đó. Đằng sau câu chữ là những vất vả khó khăn mà người lính phải 1,25 trải qua: Mắt đắng sau những đêm dài không ngủ, va chạm trực tiếp với những sự vật bên ngoài.., và những cung đường nguy hiểm của tuyến đường Trường Sơn. + Cách thể hiện: Điệp từ "nhìn", sử dụng nhiều động từ mạnh, cách nói hoán dụ, cách ngắt nhịp thơ thay đổi sử dụng nhiều hình ảnh của thiên nhiên: gió, sao trời, cánh chim... Hai khổ thơ đã khắc họa hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính, qua đó làm nổi bật hình ảnh người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. Ý 4: Đánh giá: - Khái quát về nội dung, nghệ thuật; 0,5 - Liên hệ với những tác phẩm cùng chủ đề để so sánh, mở rộng; - Khẳng định tài năng nghệ thuật của tác giả Phạm Tiến Duật trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ. 3. Kết bài: 0,5 Khẳng định lại vấn đề nghị luận (đánh giá đóng góp của đoạn trích với tác phẩm...) và bày tỏ ấn tượng sâu sắc về đoạn trích. d. Chính tả, ngữ pháp. 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. e. Sáng tạo 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

