Chuyên đề Hướng dẫn làm các dạng bài tập đọc hiểu trong cấu trúc đề thi tuyển sinh Ngữ văn 9
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề Hướng dẫn làm các dạng bài tập đọc hiểu trong cấu trúc đề thi tuyển sinh Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
chuyen_de_huong_dan_lam_cac_dang_bai_tap_doc_hieu_trong_cau.docx
Nội dung tài liệu: Chuyên đề Hướng dẫn làm các dạng bài tập đọc hiểu trong cấu trúc đề thi tuyển sinh Ngữ văn 9
- Chuyên đề HƯỚNG DẪN LÀM CÁC DẠNG BÀI TẬP ĐỌC HIỂU TRONG CẤU TRÚC ĐỀ THI TUYỂN SINH I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức: Giúp học sinh nắm vững kiến thức về các phương thức biểu đạt, các biện pháp tu từ, các phép liên kết để vận dụng vào việc làm các dạng câu hỏi đọc hiểu. Mục đích cuối cùng là giúp các em đạt điểm tối đa cho câu hỏi này. 2. Kĩ năng: Biết cách nhận diện, phân tích các dạng bài tập và vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các dạng bài tập trong cấu trúc đề thi (phần câu hỏi đọc hiểu. 3. Thái độ: Làm việc nghiêm túc, hợp tác, đối thoại với bạn và giáo viên tích cực, hướng đến mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ chủ đề. 4. Định hướng năng lực: - Năng lực chung: Năng lực phân tích, lí giải và bình luận vấn đề đặt ra trong đề bài. - Năng lực chuyên biệt: Năng lực đối thoại với những vấn đề mà đề bài yêu cầu. Biết cách xử lí thông tin, thời gian khoa học, hiệu quả. 5. Phẩm chất: Chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. II. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN 1. Đề đọc hiểu: - Vị trí đề đọc hiểu trong cấu trúc đề thi: Phần 1 trong cấu trúc đề - Biểu điểm: 2 - 3 điểm - Hình thức câu hỏi: Dưới dạng ngữ liệu là 1 đoạn thơ, đoạn trích (trong chương trình Ngữ văn THCS hoặc ngoài chương trình). Dựa vào đoạn ngữ liệu trả lời các câu hỏi. Các câu hỏi đọc hiểu gồm: + Câu hỏi xác định phương thức biểu đạt: Phương thức chính và các phương thức. + Câu hỏi nhận biết: Gồm các câu hỏi tiếng Việt: Biện pháp tu từ, liên kết, cách dẫn trực tiếp, gián tiếp, trường từ vựng... + Câu hỏi thông hiểu: Nhóm câu hỏi liên quan đến nội dung, ý nghĩa đoạn trích; câu hỏi phân tích tác dụng của biện pháp tu từ. + Câu hỏi vận dụng: Trả lời câu vì sao? Tại sao? Từ đoạn trích, viết đoạn văn 2. Kỹ năng làm bài câu hỏi đọc hiểu. Yêu cầu: Để lấy được trọn vẹn điểm của câu hỏi các em cần chú ý: - Phân bố thời gian hợp lý (thời gian cho câu hỏi này từ 12- 15 phút) - Đọc kỹ đoạn ngữ liệu và yêu cầu các hỏi bằng những câu trả lời ngắn. - Gạch chân dưới từ khóa của các câu hỏi (tránh việc sót ý).
- - Lần lượt trả lời các câu hỏi. - Bám vào câu hỏi để hình thành câu trả lời (trả lời một cách ngắn gọn nhưng đảm bảo yêu cầu câu hỏi). Cụ thể: Trong quá trình làm bài tập, câu hỏi liên quan đến phần kiến thức nào thì giáo viên đặt câu hỏi giúp học sinh ôn tập lại đơn vị kiến thức phần đó. Ví dụ: Gặp câu hỏi: xác định và gọi tên các phép liên kết trong đoạn trích thì gv cho hs ôn lại các phép liên kết đã học .. - Cách xác định các phương thức biểu đạt. Xác định phương thức biểu đạt là một trong những yêu cầu thường gặp trong Phần Đọc hiểu của đề thi THPT môn Ngữ văn. Có 6 phương thức biểu đạt thường xuất hiện trong văn bản. Tự sự, miểu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và văn bản hành chính công vụ. Lưu ý hs từ khoá trong đề: Chính/các ( nếu là các PTBĐ thì chính trước, phụ sau) + Dấu hiệu nhận biết phương thức tự sự: Có sự kiện, cốt truyện, có diễn biến câu chuyện, có câu văn trần thuật/đối thoại, có nhân vật. Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểu thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được sử dụng trong thơ (khi muốn kể sự việc) + Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả: Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo, màu sắc của người và sự vật (tả người, tả cảnh, tả tình ) + Dấu hiệu nhận biết phương thức biểu cảm: Có các câu văn, câu thơ miêu tả cảm xúc, thái độ của người viết hoặc của nhân vật trữ tình (nhớ là cảm xúc của người viết chứ không hẳn cảm xúc của nhân vật trong truyện) + Dấu hiệu nhận biết phương thức nghị luận: Có vấn đề bàn luận, có quan điểm cảu người viết. Nghị luận thường đi kèm với thao tác phân tích, giải thích, chứng minh, bàn luận. + Dấu hiệu nhận biết phương thức thuyết minh: Có những câu văn chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đối tượng, người ta cung cấp kiến thức về đối tượng, nhằm mục đích làm người đọc hiểu rõ về đối tượng nào đó. Có thể là những số liệu chứng minh. + Dấu hiệu nhận biết phương thức văn bản hành chính công vụ: Hợp đồng, hóa đơn, đơn từ, chứng chỉ (Phương thức và phong cách hành chính công vụ thường không xuất hiện trong phần đọc hiểu). - Đối với câu hỏi thông hiểu và vận dụng: Đối với câu hỏi Nêu nội dung chính hoặc Bài học rút ra từ ngữ liệu thì nên trình bày bằng một đoạn văn ngắn. Với câu hỏi có cụm từ Theo tác giả hoặc Vì sao tác giả lại cho rằng...thì câu trả lời thường có trong ngữ liệu của đề. 3. Giới thiệu một số bài tập vận dụng
- Bài tập 1: (2 đ) Trích Bộ đề thi thử của phòng GD- ĐT Hương Khê . Đọc khổ thơ sau và thực hiện các yêu cầu: Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình a. Khổ thơ trên được trích tác phẩm nào?Tác giả là ai? b. Nêu vị trí của khổ thơ. c. Chỉ ra phép tu từ có trong khổ thơ. d. Nêu tác dụng của phép tu từ vừa được chỉ ra. Gợi ý: - Ánh trăng của Nguyễn Duy - Khổ thơ trên ở vị trí cuối bài thơ - Biện pháp tư từ: nhân hóa - Ánh trăng im phăng phắc gợi đến một cái nhìn nghiêm khắc song cũng đầy bao dung độ lượng. Sự im lặng ấy khiến cho nhân vật trữ tình “giật mình” thức tỉnh. Bài tập 2: (2.0 điểm) Trích đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của Hà Tĩnh năm 2019 - 2020 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn hóa, biết ứng xử chính là người biết tự hòa mình vào cộng đồng như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì đáng hãnh diện”. Chí lí thay! Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp. Giao tiếp đời thường, Băng Sơn, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB GDVN, 2014, tr.9) a. Xác định phương thức biểu đạt chính. b. Nêu nội dung của đoạn trích. c. Em có đồng tình với ý kiến “Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất là phù hợp với môi trường.” không? Vì sao? Bài tập 3: (2,0 điểm) Đọc đoạn trích: Hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Trong chuyến đi, giữa hai người xảy ra cuộc tranh luận và một người nổi nóng, không kiềm chế được mình đã nặng lời
- miệt thị người kia. Cảm thấy bị xúc phạm, anh không nói gì, chỉ viết lên cát: “Hôm nay, người bạn tốt nhất đã làm khác đi những gì tôi nghĩ”. Họ đi tiếp, tìm thấy một ốc đảo và quyết định bơi đến. Người bị miệt thị lúc nãy bây giờ bị đuối sức và chìm dần. Người bạn kia đã tìm cách cứu anh. Khi đã lên bờ, anh lấy một miếng kim loại khắc lên đá: “Hôm nay, người bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi”. Người kia hỏi: “Tại sao khi tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát còn bây giờ anh lại khắc lên đá ?” Anh ta trả lời: “Những điều viết lên cát sẽ nhanh chóng xoá nhoà theo thời gian, nhưng không ai có thể xoá được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá, trong lòng người”. Vậy, mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá. (Lỗi lầm và sự biết ơn, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt ) Thực hiện các yêu cầu sau: a. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0,5 điểm) b. Trong đoạn trích trên, yếu tố nghị luận thể hiện ở câu văn nào? (0,5 điểm) c. Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của việc “viết lên cát” và “khắc lên đá” trong đoạn trích? (1,0 điểm) Gợi ý: a. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: tự sự b. Trong đoạn trích trên, yếu tố nghị luận thể hiện ở câu văn: “ Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xóa nhòa theo thời gian, nhưng không ai có thể xóa được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá, trong lòng người” c. “Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá” “ Viết lên cát”: Cát, vốn là một thứ nhỏ bé, mong manh, và dễ dàng xóa nhòa cũng nghĩa là nó thể hiện một thái độ bao dung, không chấp nhặt, và một tâm hồn cao thượng. Viết thù hận và nỗi buồn lên cát, để cát sẽ dễ dàng xóa nhòa, để sự hận thù sẽ không còn mãi, để khi quay trở lại, ta sẽ cùng nhau sửa chữa những sai lầm. “Khắc lên đá” đó là cách tôn trọng và luôn lưu giữ, trước sau như một và một thái độ sống luôn xem trọng người khác một cách đáng quý. Đá là một thứ cứng, khó bị phá vỡ do thời tiết, khó bị bay, thổi mất như cát, nên việc khắc ghi lên đá, cũng là cách ta luôn giữ sự tử tế của người khác trong trái tim mình. Điều đó, không chỉ khiến trái tim ta ấm áp, và tốt đẹp hơn, còn khiến mối quan hệ giữa người với người đều tốt đẹp lên. Bài tập 4: (2.0 điểm) Trích đề thi tuyển sinh của Hà Tĩnh năm 2020-2021. MĐ 1: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu: Mây tụ về rừng thẳm Suối lượn dưới thung xa
- Đồng xanh ôm núi biếc Trâu gặm chiều nhẩn nha Đàn cò trắng về qua Vẽ lên ngàn chớp sáng Những làng mạc an hòa Bên núi sông bình lặng (Trích Non thiêng Hồng Lĩnh – Trần Đức Cường, Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh – Số 261, tháng 4 năm 2020) a. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên. b. Nêu nội dung của đoạn thơ. c. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ có trong đoạn thơ. Gợi ý: a. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Biểu cảm b. Nội dung đoạn trích: Đoạn thơ miêu tả bức tranh yên bình, giàu màu sắc, gợi lên vẻ đẹp an yên, hiền hòa của quê hương. c. - Các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ: Liệt kê, nhân hóa. - Tác dụng: Biện pháp nhân hóa góp phần tạo tính gợi hình, gợi cảm cho câu thơ, làm nổi bật vẻ đẹp sinh động, hữu tình của cảnh vật và quê hương... Biện pháp liệt kê góp phần làm cho bức tranh quê sống động, giàu hình ảnh, màu sắc MĐ 2: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu: Gió Lào đuổi theo trăng đầu tháng chị Hằng treo chót vót em nhìn lên trời sao vằng vặc Bắc Đẩu, Nam Vương, Hoàng Hậu đâu rồi Trăng tháng Năm không giống tháng Mười thương nhà nông ra đồng lúc xẩm tối chị Hằng chong đèn tay cầm quạt thổi gặt đi anh lúa chín chờ người (Trích Trăng tháng 5 – Ngô Đức Hành) a. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên. b. Nêu nội dung của đoạn thơ. c. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ có trong đoạn thơ. Gợi ý: a. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Biểu cảm
- b. Nội dung đoạn trích: Đoạn thơ miêu tả đêm trăng tháng 5 với những đặc trưng riêng, dưới mùa trăng tháng 5 có cảnh sinh hoạt, lao động của con người. c. - Các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ: Nhân hóa, câu hỏi tu từ. - Tác dụng: Biện pháp nhân hóa góp phần tạo tính gợi hình, gợi cảm cho câu thơ, làm cho không gian đêm trăng tháng 5 và sinh hoạt của con người dưới mùa trăng trở nên sinh động; cảnh vật và con người dưới đêm trăng thật gần gũi, quen thuộc . Câu hỏi tu từ: giúp nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc thân thuộc khi nhìn lên bầu trời sao tìm kiếm những vì sao gắn với bao kỉ niệm. Bài tập 5: (2 điểm): Trích đề KSCL giữa kì II của huyện Đức Thọ năm học 2020- 2021 Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu: “Không chỉ học ở trường lớp, chúng ta còn có thể học hỏi từ chính những trải nghiệm trong cuộc sống, dưới nhiều hình thức. Học là việc cả đời, chẳng bao giờ kết thúc, ngay cả khi bạn đã đạt được nhiều bằng cấp. Đối với một số người, việc học kéo dài liên tục và suốt đời, không hề có một giới hạn nào cho sự học hỏi. Mọi nẻo đường của cuộc sống đều ẩn chứa những bài học rất riêng. ( )Và dĩ nhiên, để thành công trong cuộc sống, để sống bình an trong một thế giới đầy biến động như hiện nay thì bạn cần phải luôn học hỏi không ngừng để tích lũy kinh nghiệm sống, để nâng cao những kỹ năng làm việc của bản thân mình.” (Cho đi là còn mãi, Azim Jamal & Harvey McKinnon, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh) a. Xác định nội dung chính của đọan trích. b. Chỉ rõ một phép liên kết câu trong đoạn trích. c. Em có đồng tình với quan niệm của tác giả:“Học là việc cả đời, chẳng bao giờ kết thúc, ngay cả khi bạn đã đạt được nhiều bằng cấp” không? Tại sao? Gợi ý: a. Nội dung chính của đoạn văn: Vai trò quan trọng của việc học hỏi không ngừng suốt cả cuộc đời. b.Đề chỉ yêu cầu chỉ rõ 1 phép liên kết trong đoạn trích. HS có thể xác định được một trong số các phép liên kết sau: -Phép nối: Từ “đối với” nối câu (3) với câu (2); từ “và” nối câu (5) với câu (4). - Phép lặp: Lặp các từ “học”, “học hỏi”, “cuộc sống” . c. Em đồng tình với quan niệm của tác giả:“Học là việc cả đời, chẳng bao giờ kết thúc, ngay cả khi bạn đã đạt được nhiều bằng cấp” bởi vì “không hề có một giới hạn nào cho sự học hỏi”, học hỏi là “để tích lũy kinh nghiệm sống, để nâng cao những kỹ năng làm việc của bản thân mình.”, để thành công, để sống bình an trong một thế giới đầy biến động
- Bài tập 6: (2 điểm): Trích đề KSCL giữa kì II của Phòng GD- ĐT huyện Đức Thọ năm học 2020-2021 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: “Bạn rất cần biết về sự khác nhau và tầm ảnh hưởng của hai lối suy nghĩ tiêu cực và tích cực đối với cuộc đời mình. Lối suy nghĩ tiêu cực sẽ khiến ta gặp nhiều khó khăn, bất hạnh. Chừng nào ta chưa chịu thay đổi thì chừng đó chúng còn dai dẳng đeo bám ta. Mặc dù khó có thể thay đổi cách suy nghĩ của mình trong một sớm một chiều, nhưng ta cần giữ đầu óc thật tỉnh táo để nhìn nhận sự việc. Bằng cách nhận diện vấn đề, chia sẻ với mọi người và giải quyết nó, ta sẽ loại bỏ được thói quen nhìn nhận mọi việc một cách tiêu cực. Giữa suy nghĩ tích cực và tiêu cực tồn tại một sự khác biệt rất lớn. Chỉ cần một ý nghĩ “mình không thể” thoáng qua đầu, phần tiêu cực trong con người ta sẽ nhanh chóng lấn lướt, rồi ám ảnh cho đến khi tâm trí ta bị mặc cảm bủa vây. Kết quả là ta rất dễ buông tay đầu hàng. Nhưng nếu biết hướng sự lựa chọn ấy đến những điều tốt đẹp, ta sẽ nhận được một kết quả khác, sáng sủa hơn. Những suy nghĩ tích cực được ươm mầm trong tâm hồn ta sẽ không ngừng sinh sôi nảy nở và đưa ta đến một cuộc sống tươi đẹp”. (Quên hôm qua, sống cho ngày mai, Tian Dayton, Ph.D, NXB Tổng hợp Tp.HCM, tr.44-45) a. Xác định nội dung chính của đoạn trích. b. Chỉ rõ một phép liên kết câu trong đoạn trích. c. Em có đồng ý với giải pháp “nhận diện vấn đề, chia sẻ với mọi người và giải quyết nó” để “loại bỏ thói quen nhìn nhận mọi việc một cách tiêu cực” không? Tại sao? Gợi ý: a. Nội dung chính của đoạn văn: tầm ảnh hưởng của hai lối suy nghĩ tiêu cực và tích cực đối với cuộc đời con người. b. Đề chỉ yêu cầu chỉ rõ 1 phép liên kết trong đoạn trích. HS có thể xác định được một trong số các phép liên kết sau: -Phép nối: Từ “mặc dù” nối câu (4) với câu (3); từ “bằng” nối câu (5) với câu (4), “nhưng” nối câu (9) với câu (8) - Phép lặp: Lặp các từ “lối suy nghĩ tiêu cực và tích cực”, “ta” . - Phép thế: ví dụ: Trong trường hợp “Lối suy nghĩ tiêu cực sẽ khiến ta gặp nhiều khó khăn, bất hạnh. Chừng nào ta chưa chịu thay đổi thì chừng đó chúng còn dai dẳng đeo bám ta”, từ “chúng” ở câu sau thay thế cho cụm từ “lối suy nghĩ tiêu cực” ở câu trước. b. Quan điểm “nhận diện vấn đề, chia sẻ với mọi người và giải quyết nó” để “loại bỏ thói quen nhìn nhận mọi việc một cách tiêu cực” có thể đúng với người này nhưng chưa đầy đủ hoặc không phù hợp với người khác. Có người không lựa chọn cách
- “chia sẻ” với người khác mà muốn tự mình giải quyết, tự mình tìm cách nhìn nhận đúng, tích cực. Bài tập 7: (2.0 điểm) Trích đề thi thử của Phòng GD- ĐT huyện Can Lộc năm 2020-2021 MĐ 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: “[...]Cứ đến chủ đề về ơn nghĩa sinh thành thì ngập tràn hộp thư “Thay lời muốn nói” sẽ là những câu xin lỗi ba mẹ từ các bạn trẻ. Là những lời xin lỗi được gửi đến những bậc ba mẹ còn sống. Mà, nội dung của những lời xin lỗi cũng... na ná nhau, kiểu như: “Con biết ba mẹ rất cực khổ vì con... Con biết con đã làm cho ba mẹ buồn rất nhiều. Con xin lỗi ba mẹ”. Xin lỗi, nhưng mình hay gọi đây là “những lời xin lỗi mang tính phong trào ”, và những áy náy ray rứt này là “những áy náy ray rứt theo làn sóng”, mỗi khi có ai hay có chương trình nào gợi nhắc, thì các bạn mới sực nhớ ra. Mà khổ cái, bản thân những lời xin lỗi ấy sợ rằng khó làm người được xin lỗi vui hơn, bởi vì đâu đợi tới chính họ, ngay cả chúng mình là những người làm chương trình đây cũng đều hiểu rằng, có lẽ chỉ vài ngày sau chương trình, cùng với nhịp sống ngày càng nhanh ngày càng vội, cùng với lịch đi học, đi làm, đi giải trí sau giờ học, giờ làm..., những lời xin lỗi ấy sợ rằng sẽ sớm được vứt ra sau đầu; và những cảm giác áy náy, ăn năn ấy sẽ sớm chìm sâu, chẳng còn mảy may gợn sóng. Cho đến khi... lại được nhắc mà sực nhớ ra ở lần kể tiếp. Điều đó, đáng buồn là một sự thật ở một bộ phận không nhỏ những người trẻ, bây giờ.” (Thương còn không hết..., ghét nhau chi, Lê Đỗ Quỳnh Hương, Nxb Trẻ, tr.31-32) a. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên? b. Tác giả thể hiện tâm trạng như thế nào trước thực trạng những lời xin lỗi phong trào tràn ngập mỗi dịp làm về chủ đề ơn nghĩa sinh thành? c. Theo em, điều gì quan trọng nhất trong một lời xin lỗi? Vì sao? MĐ 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: “[...]Cứ đến chủ đề về ơn nghĩa sinh thành thì ngập tràn hộp thư “Thay lời muốn nói” sẽ là những câu xin lỗi ba mẹ từ các bạn trẻ. Là những lời xin lỗi được gửi đến những bậc ba mẹ còn sống. Mà, nội dung của những lời xin lỗi cũng... na ná nhau, kiểu như: “Con biết ba mẹ rất cực khổ vì con... Con biết con đã làm cho ba mẹ buồn rất nhiều. Con xin lỗi ba mẹ”. Xin lỗi, nhưng mình hay gọi đây là “những lời xin lỗi mang tính phong trào ”, và những áy náy ray rứt này là “những áy náy ray rứt theo làn sóng”, mỗi khi có ai hay có chương trình nào gợi nhắc, thì các bạn mới sực nhớ ra. Mà khổ cái, bản thân những lời xin lỗi ấy sợ rằng khó làm người được xin lỗi vui hơn, bởi vì đâu đợi tới chính họ, ngay cả chúng mình là những người làm chương trình đây cũng đều hiểu rằng, có lẽ chỉ vài ngày sau chương trình, cùng
- với nhịp sống ngày càng nhanh ngày càng vội, cùng với lịch đi học, đi làm, đi giải trí sau giờ học, giờ làm..., những lời xin lỗi ấy sợ rằng sẽ sớm được vứt ra sau đầu; và những cảm giác áy náy, ăn năn ấy sẽ sớm chìm sâu, chẳng còn mảy may gợn sóng. Cho đến khi... lại được nhắc mà sực nhớ ra ở lần kể tiếp.Điều đó, đáng buồn là một sự thật ở một bộ phận không nhỏ những người trẻ, bây giờ.” (Thương còn không hết..., ghét nhau chi, Lê Đỗ Quỳnh Hương, Nxb Trẻ, tr.31-32) a. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên? b. Tác giả thể hiện tâm trạng như thế nào trước thực trạng những lời xin lỗi phong trào tràn ngập mỗi dịp làm về chủ đề ơn nghĩa sinh thành? c. Theo em, điều gì quan trọng nhất trong một lời xin lỗi? Vì sao? Bài tập 8: (2.0 điểm). Trích đề thi thử của Phòng GD- ĐT huyện Can Lộc MĐ 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu. Tri thức giống như ngọn đèn trong đêm tối, soi sáng con đường chông gai phía trước. Trí tuệ giống như chiếc chìa khóa diệu kì, mở ra cánh cửa tâm hồn. Trí tuệ giống như tia nắng mặt trời ấm áp xua tan bóng tối lạnh giá. Đấng tạo hóa có trí tuệ thì mới tạo ra một thế giới diệu kì, nhân loại có trí tuệ chỉ đường sẽ bước sang thế giới hiện đại văn minh. Khi có trí tuệ bạn sẽ dễ dàng gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống. Bảy trăm năm trước, Giovanni Boccaccio đã nói: “Trí tuệ là cội nguồn hạnh phúc của con người”. Thật vậy, có trí tuệ, bạn sẽ có nhiều niềm vui và mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh.” (Trích Lời nói đầu, Kĩ năng sống dành cho học sinh, sự kiên cường - Ngọc Linh, NXB Thế giới 2019) a. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. b.Nêu nội dung đoạn trích. c.Theo tác giả, tại sao Giovanni Boccaccio nói "Trí tuệ là cội nguồn hạnh phúc của con người” ? Gợi ý: a. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận b.Nội dung đoạn trích: Bàn về vai trò, tầm quan trọng của trí tuệ trong cuộc sống . Theo tác giả, Giovanni Boccaccio nói "Trí tuệ là cội nguồn hạnh phúc của con người” vì: có trí tuệ, bạn sẽ có nhiều niềm vui và mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh. MĐ 2: (2.0 điểm) Đọc kỹ đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa. Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc “đời hoa” bên vệ đường. Sứ mệnh của hoa là nở. Cho dù không có những ưu thế để như nhiều loài hoa khác, cho dù được đặt ở bất cứ đâu, thì cũng
- hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời. [...] Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu. (Kazuko Watanabe, Mình là nắng việc của mình là chói chang, Vũ Thùy Linh dịch, NXB Thế giới, 2018) a) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. b) Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong câu văn: “Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc "đời hoa” bên vệ đường”. c) Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của câu sau: “Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu”. d) Em có đồng tình với suy nghĩ của tác giả: “Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa ” không? Vì sao? Bài tập 9: Trích đề thi thử của Phòng GD- ĐT Thị xã Kỳ Anh MĐ 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Trạng nguyên Nguyễn Hiền quê ở Nam Định. Ông là người có hoàn cảnh đặc biệt: cha mất sớm, sống với mẹ trong căn nhà nhỏ bên cạnh một ngôi chùa. Vị sư trụ trì của nhà chùa vốn là một danh Nho, vừa tụng kinh niệm phật vừa dạy học cho những trẻ chưa biết chữ trong làng. Ngay từ thời thơ ấu, Nguyễn Hiền đã lân la ở bên các lớp học, sớm tiếp xúc với chữ nghĩa sách vở. Năng khiếu kỳ lạ về học tập, về trí thông minh của ông đã nhanh chóng được bộc lộ; dù chưa đến tuổi đi học, Nguyễn Hiền đã hiểu biết nhiều, giỏi đối đáp, học thức hơn người. Ông được suy tôn làm “Thần đồng xuất chúng”. Khi vừa tròn 12 tuổi, Nguyễn Hiền đã thi đậu Trạng nguyên, trở thành vị Trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử Việt Nam. (Nguồn: Internet) a. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. b.Chỉ ra phép liên kết câu và xác định rõ từ ngữ của các phép liên kết đó trong đoạn trích. c.Em rút ra được bài học gì cho bản thân từ đoạn trích trên? (trả lời trong khoảng 3 -5 dòng). MĐ 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hót bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và hoạ mi phải ghen tị. Bài
- ca duy nhất có một không hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được. Nhưng cả thế giới lặng đi lắng nghe, và chính thượng đế trên Thiên đình cũng mỉm cười. Bởi vì tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại ( Tiếng chim hót trong bụi mận gai, Collen McCulough, NXB Văn học, 2004,tr8) a.Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. b.Chỉ ra phép liên kết câu và xác định rõ từ ngữ của các phép liên kết đó trong đoạn trích. c.Em rút ra được bài học gì cho bản thân từ đoạn trích trên? (trả lời trong khoảng 3 -5 dòng). Bài tập 10. Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: Sống tự lập, bạn sẽ giống một cái cây tự do hoành hành trong một khu đất trống có ánh sáng, đất và nước, bạn sẽ tự vươn rễ để đi kiếm tìm nguồn dinh dưỡng nuôi sống bản thân. Kể cả khi là cái cây còi cọc, bạn vẫn cảm thấy vui vẻ và khoan khoái. Có thể bạn sẽ gặp khó khăn đôi chút khi phải tự mình đưa ra những quyết định cho cuộc đời mình. Nhưng có ai lớn khôn mà không trải qua những điều đó? Kể cả khi bạn đúng, hay bạn sai, bạn đều phải chịu trách nhiệm trước những gì mình đã làm. (Theo Kênh 14.vn mục Đời sống, nguồn Internet) a. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn? b. Nội dung của đoạn văn trên được trình bày theo cách nào? c. Em có tản thành với nội dung thể hiện trong dòng văn: “Sống tự lập, bạn sẽ giống một cái cây tự do hoành hành trong một khu đất trống” không? Vì sao?

