Chuyên đề truyện hiện đại Việt Nam Ngữ văn 9
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề truyện hiện đại Việt Nam Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
chuyen_de_truyen_hien_dai_viet_nam_ngu_van_9.docx
Nội dung tài liệu: Chuyên đề truyện hiện đại Việt Nam Ngữ văn 9
- CHỦ ĐỀ: TRUYỆN HIỆN ĐẠI Bài : CHIẾC LƯỢC NGÀ. Nguyễn Quang Sáng A . Kiến thức cơ bản 1.Tác giả : Nguyễn Quang Sáng : Quê ở An Giang ,là nhà văn Nam Bộ , trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ . -Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại : truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. - Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị, mộc mạc, nhưng sâu sắc, đậm đà chất Nam Bộ. 2.Hoàn cảnh sáng tác : “ Chiếc lược ngà “ được viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Văn bản đoạn trích là phần giữa của truyện, tập trung thể hiện tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu. 3. Tóm tắt - Ông Sáu ở chiến khu về thăm nhà với hy vọng gặp lại đứa con sau tám năm xa cách, hai bố con chưa hề gặp mặt. - Mấy ngày đầu, do vết sẹo trên mặt ông Sáu khác với tấm hình chụp ở nhà nên bé Thu không nhận bố. - Đến hôm ông Sáu phải lên đường, nghe bà ngoại giải thích về vết sẹo, bé Thu đã nhận ba của mình. - Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm cho con gái một chiếc lược chải tóc bằng ngà. Lúc hấp hối (do bị trúng đạn máy bay Mĩ) ông đã nhờ đồng đội chuyển chiếc lược ngà cho con. 4. Tình huống truyện - Cuộc gặp gỡ của hai cha con sau 8 năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận cha. Đến lúc em nhận ra cha và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi - Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con, nhưng chiếc lược chưa gửi đến tay con thì ông Sáu đã hi sinh. 5. Nghệ thuật -Một trong những điểm tạo nên sức hấp dẫn của truyện là tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ,tình huống truyện có những yếu tố bất ngờ tự nhiên nhưng hợp lí
- - Ngòi bút miêu tả tâm lí - Đặc biệt là tâm lí trẻ em – tinh tế và chính xác , điều đó thế hiện sự nhạy cảm và tấm lòng yêu thương ,trân trọng của nhà văn với con người và tình người. - Một yếu tố nghệ thuật nữa góp phần tạo nên thành công của truyện ngắn này là việc lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu, không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật. Đồng thời qua những ý nghĩ, cảm xúc nhân vật kể chuyện, các chi tiết, sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn, ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục. 5 Chủ đề : Truyện Chiếc lược ngà đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết sâu nặng trong hoàn cảnh ẻo le của chiến tranh. Qua đó tác giả khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu săc , nó càng cao đẹp trong hoàn cảnh khó khăn. B. LUYỆN TẬP MỘT SỐ DẠNG ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÁC PHẨM: I .Dạng đề 1- 2 điểm Đề 1 : Tóm tắt truyện Chiếc lược Ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. - Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi mới có dịp về thăm nhà với niềm mong chờ gặp lại đứa con sau tám năm xa cách. Mấy ngày đầu, bé Thu không nhận ra ba vì vết sẹo trên mặt làm ông không giống với hình ảnh người cha trong tấm hình chụp chung với vợ. Bé thu bướng bỉnh và đối xử với ông Sáu như một người xa lạ. - Nghe bà ngoại kể, bé Thu đã nhận cha và tình cảm cha con đã thức dậy một cách mãnh liệt. Vào khời khắc ấy cũng là lúc ông Sáu phải trở lại chiến khu. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình thương nhớ con vào việc làm một chiếc lược ngà để tặng con. Nhưng chưa kịp tặng thì ông Sáu đã hi sinh trong một trận càn của địch. Lúc hấp hối, ông đã nhờ đồng đội chuyển chiếc lược ngà cho con gái. Sau này ông Ba gặp lại, bé Thu đã trở thành một cô giao liên anh dũng. Đề 2 : Ý nghĩa nhan đề của truyện Chiếc lược Ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. - Chiếc lược Ngà là hình ảnh, chi tiết trung tâm của tác phẩm, gắn kết các sự kiện chính trong cuộc đời, tính cách của các nhân vật, góp phần khắc họa nội dung truyện. - Với bé Thu, chiếc lược ngà là ước mơ, là món quà đầu tiên và cũng là kỉ vật cuối cùng của người cha. Bởi vậy, chiếc lược ngà là kỉ vật thiêng liêng, là hình ảnh người cha.
- - Với ông Sáu, chiếc lược ngà không chỉ là món quà ông dành tặng con gái mà còn là nỗi nhớ thương, là hình bóng đứa con gái bé bỏng, hồn nhiên và yêu và nhớ cha hết mực. - Với bác Ba, chiếc lược ngà là sự trao gửi thiêng liêng giữa người cán bộ cách mạng với đứa con của người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường. - Với cha con ông Sáu và bé Thu, chiếc lược ngà là biểu tượng thiêng liêng bất diệt và là cầu nối tình cảm sâu nặng của hai cha con. Đề 3: Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chiếc lược Ngà của Nguyễn Quang Sáng. 1.Mở bài: Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận. Truyện ngắn Chiếc lược ngà là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Một trong những nét độc đáo, giàu tính thẩm mỹ là tác giả đã sáng tạo nên một tình huống nghệ thuật hấp dẫn, giàu kịch tính... 2.Thân bài: * Tình huống truyện - TH1: Cuộc gặp gỡ của hai cha con ông Sáu sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé thu không chịu nhận ông Sáu là cha. Đến lúc em nhận ra thì ông Sáu lại phải lên đường trở về đơn vị. -TH2: Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình yêu thương và nỗi nhớ con vào việc làm một chiếc lược ngà tặng con gái yêu. Nhưng kỉ vật chưa kịp đến tay con gái thì ông Sáu đã hi sinh trong một trận càn. Trong cơn hấp hối, ông đã nhờ người đồng đội là ông Ba chuyển chiếc lược đến tay con gái. => Tình huống nghệ thuật vô cùng éo le, đặc sắc, bất ngờ, hấp dẫn. * Phân tích tình huống: + Tình huống truyện đã góp phần thể hiện tình cảm mãnh liệt của bé Thu dành cho ba của mình, đồng thời bộc lộ tình cảm sâu sắc của người cha dành cho con. + Tình huống kịch tính, bất ngờ, gay cấn nhưng cũng rất tự nhiên và hợp lý góp phần bộc lộ sâu sắc diễn biến hành động, tâm lý, tính cách của các nhân vật. Từ đó, khẳng định tình cảm cha con thiêng liêng, sâu nặng. + Qua việc sáng tạo tình huống, nhà văn Nguyễn Quang Sáng cho ta thấy được biệt tài của tác giả trong việc tạo nút thắt cho câu chuyện. Đặt nhân vật vào tình huống éo le để tình cảm của nhân vật được đẩy lên cao trào. Từ đó, tác giả muốn khẳng định một điều hết sức thiêng liêng: Tình cảm gia đình, tình cha con là bất tử mà không thể chia cắt. Chiến tranh không thể hủy diệt được những giá trị nhân bản cao đẹp của con người Việt Nam. Càng bị thử thách, những tình cảm cao đẹp đó càng sáng ngời. 3.Kết bài : Khẳng định giá trị, ý nghĩa của tình huống truyện trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một tình huống nghệ thuật vô cùng độc đáo, giàu tính thẩm mỹ, góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật và chủ đề tư tưởng của tác phẩm cũng như tạo sức hấp dẫn cho thiên truyện. Câu chuyện nhắc nhớ chúng ta, những người sống trong hòa bình hôm nay ý thức sâu sắc những mất mát, đau thương, bi kịch do chiến tranh gây ra và tự hào về truyền thống yêu gia đình,quê hương, đất nước .
- II Dạng đề : 5 điểm Đề 1 : Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích « Chiếc lược ngà » của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Gợi ý về dàn ý: * Mở bài :Giới thiệu tác giả, tác phẩm, cảm nhận chung về nhân vật ông Sáu – một người lính cam trường, dũng cảm trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ với tình cha con sâu nặng trong hoàn cảnh ẻo le của chiến tranh. * Thân bài : - Ý1: Tóm tắt qua hoàn cảnh của ông Sáu : Ông Sáu là một nông dân Nam Bộ. Ông tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông ra đi đánh giặc năm 1946 mãi đến năm 1954 ông mới được về thăm quê vài ngày. Ngày ông đi, đứa con gái duy nhất của ông mới tròn một tuổi, sau 8 năm xa cách, ông mới được gặp lại con. - Ý2: Cảm nhận về nhân vật ông sáu: - Tình yêu con tha thiết thể hiện qua tâm trạng, hành động của ông Sáu khi ông sắp được về thăm nhà: + Đến lúc được về, tình cảm dành cho con gần như không thể kìm nén: “nôn nao trong người”. Khi gần đến nhà, sự nôn nóng muốn gặp con càng bộc lộ rõ: “không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên..” Diễn biến của hành động, lời nói và cử chỉ đã nói lên nỗi nhớ con tha thiết, tình yêu thương con mãnh liệt của ông Sáu. - Tình yêu con tha thiết được thể hiện trong những ngày ông Sáu ở nhà. + Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. Ông vừa bước, vừa khom người đưa tay chờ đón con”, có lẽ ông rất vui, rất xúc động và hạnh phúc, tin rằng đứa con sẽ đến với mình. Nhưng bé Thu đã từ chối, chạy và kêu thét lên gọi má. Ông Sáu vô cùng buồn bã, thất vọng, đau đớn. + Trong hai ngày phép ngắn ngủi, ông Sáu không đi đâu chỉ quâu quẩn ở nhà với con, chăm sóc con nhưng bé Thu không nhận cha khiến ông vô cùng buồn. .....nhưng ông sẵn lòng tha thứ cho con. Tình yêu thương của người cha dành cho con trở nên bất lực khi ông Sáu đánh con bé một cái vào mông vì nó đã hất miếng trứng cá mà ông gắp ra khỏi bát cơm làm cơm văng tung toé.....Bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Vết thẹo dài trên má phải - vết thương của chiến tranh – đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé bỏng không nhận ra bóng dáng người cha nữa ! - Cho đến lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một cuộc chiến đấu mới, ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ chợt nhận ra ba mình và kêu thét lên: “Ba . ba!”. Trước cử chỉ của bé Thu, “anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt sung sướng, hạnh phúc của một người cha cảm nhận được tình ruột thịt từ con mình.Và ông Sáu đã ra đi với nỗi thương nhớ vợ con không thể nào kể xiết.
- - Tình yêu thương của ông Sáu đối với con trong những ngày ông ở khu căn cứ: + Trước hết là nỗi nhớ thương xen lẫn sự day dứt, ân hận ám ảnh ông suốt nhiều ngày vì ông đã đánh con khi nóng giận. Ông Sáu đúng là một người cha hiền lành, nhân hậu, biết nâng niu tình cảm cha con. Mang lời hẹn ước của con gái ra đi : “Ba về, ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba!” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con. Ông quả là một người cha chiều con và luôn biết giữ lời hứa với con, đó là biểu hiện tình cảm trong sáng và rất sâu nặng + Kiếm được khúc ngà, anh vui sướng như đứa trẻ được quà, rồi để hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược, cưa răng, chuốt bóng, khắc chữ... tỉ mỉ, cần mẫn, công phu. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân - nghệ nhân chỉ sáng tạo một tác phẩm duy nhất trong cuộc đời. Cho nên nó không chỉ là chiếc lược xinh xắn và quý giá mà đó là chiếc lược kết tụ tất cả tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm, sâu xa, đơn sơ mà kì diệu. - Nhưng tình cảnh thật đáng thương, anh không kịp đưa cây lược ngà đến tận tay cho con, người cha ấy đã hi sinh trong một trận càn. Trước khi vĩnh biệt con, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, đã chuyển nó cho người bạn như một cử chỉ chuyển giao sự sống, một sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử. Điều đó đúng như ông Ba nói: “chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc. - Đánh giá nhân vật : Hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong chuyện “Chiếc lược ngà” là hình ảnh sâu nặng về tình cha – con. Ông Sáu quả là một người cha chịu nhiều thiệt thòi nhưng vô cùng độ lượng và tận tuỵ vì tình yêu thương con, một người cha để bé Thu suốt đời yêu quý và tự hào. Chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu là người lính của một thế hệ anh hùng mở đường đi trước đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh. -Ý3 : Đánh giá, khái quát nghệ thuật xây dựng nhân vật: + Nhà văn đã sáng tạo được một tình huống nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, tạo kịch tích cho câu chuyện, qua đó làm bộc lộ tính cách, tâm lý nhân vật... + Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật chân thực, sinh động. + Lựa chọn ngôi kể chuyện trong vai người bạn thân thiết của ông Sáu, câu chuyện được kể trở nên thẩm đẫm cảm xúc, tình cảm đồng cảm, thấu hiểu của những người đồng chí, đồng đội. + Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu gắn với tình yêu quê hương, đất nước. Tác phẩm giúp ta hiểu thêm về cuộc sống, tình cảm của người dân Nam Bộ trong chiến tranh chống Mỹ. * Kết bài : KĐVĐNL : Khái quát lại chủ đề tư tưởng, nêu ẩn tượng về nhân vật . Đề 2 : Cảm nhận về nhân vật bé Thu qua truyện ngắn « Chiếc lược ngà » của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Gợi ý dàn ý :
- *Mở bài : Giới thiệu tác giả, tác phẩm, cảm nhận chung về nhân vật bé Thu *Thân bài. -Ý 1 :Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu: Đất nước có chiến tranh, cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi, lớn lên em chưa một lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương, tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má. -Ý2 : Diễn biến, thái độ, tình cảm của Thu trong thời gian ông Sáu về phép thăm nhà. - Thu thương cha như thế. Ta tưởng chừng như khi được gặp cha, nó sẽ bồi hồi, sung sướng và sà vào vòng tay của ba nó nũng nịu với tình cảm mãnh liệt hơn bao giờ hết. Nhưng không Thu đã làm cho người đọc phải bất ngờ qua hành động quyết liệt không chịu nhận ông Sáu là ba. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng... khi ông Sáu đến gần, lặp đi lặp lại: ba đây con ! Nó lạ quá, mặt bỗng tái đi, chớp chớp mắt nhìn người đàn ông thứ hai (vẫn im lặng) như muốn hỏi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: Má! Má ! - Suốt ba ngày phép, ông Sáu muốn dồn hết tình cảm để dành cho con thì bé Thu lại càng lạnh nhạt, xa lánh, thậm chí tỏ ra ương ngạnh, bướng bỉnh. - Kiên quyết không nhận ông Sáu là ba. Khi cần giao tiếp, bé nói trống không: vô ăn cơm...cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái. Trong lúc khó khăn, nguy cấp khi phải chắt nước nồi cơm to, cô bé vẫn bướng bỉnh tự xoay xở. - Bé Thu từ chối mọi sự vỗ về, chăm sóc của ông Sáu. Trong bữa cơm, ông Sáu gắp cho nó miếng trứng cá thì nó hất ra khiến cơm bắn tung tóe...Chi tiết này đã đẩy câu chuyện đến đỉnh điểm của kịch tính. - Bị trách phạt, phản ứng lại hành động của ông Sáu, bé Thu đã bỏ về nhà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua giây lòi tói cho kêu rổn rảng thật to. - Nguyên nhân của những phản ứng, chống đối quyết liệt của bé Thu: . Nguyên nhân gián tiếp: Bé Thu lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Suốt tám năm, bé Thu chỉ biết ba qua hình ảnh ba chụp chung tấm hình với má. . Nguyên nhân trực tiếp: Ngày gặp gỡ, vết sẹo trên mặt ông Sáu đã khiến cho gương mặt người cha khác lạ so với những gì mà bé Thu thường nhớ và nghĩ về ba. .Vì rất yêu ba, muốn bảo vệ hình ảnh người ba của mình, không cho phép bất cứ ai mạo nhận là ba =>Ta thấy sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách mà còn có phần đáng yêu. Đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên, nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, tình cảm của em sâu sắc, chân thật, em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. Chính cái thái độ quyết liệt ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha - người trong tấm hình chụp chung với má em.một tình yêu chân thực, sâu sắc và mãnh liệt . -Ý3 : Diễn biến, thái độ, tình cảm của Thu khi nhận ông Sáu là ba
- - Được bà ngoại giải thích, bé Thu trở về nhà đúng vào buổi sáng ông Sáu phải lên đường trở về khu căn cứ. Bé Thu đã đột ngột thay đổi thái độ trong sự ngỡ ngàng của ông Sáu và mọi người. - Không còn ngang ngạnh, cau có, cố chấp mà thay vào đó là khuôn mặt “sầm lại buồn rầu” và “nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”. - Bắt gặp cái nhìn trìu mến và buồn rầu của ba thì đôi mát của Thu không lạnh lung ngơ ngác như trước nữa. - Khi ông Sáu khẽ cất lời từ biệt thì cô bé mới chịu kêu ba một tiếng đến xé lòng: “Ba...a...a...ba”. - Bé thu chạy đến ôm chặt lấy ba, hôn ba và hôn lên cái vết theo dài trên má. - Bé muốn giữ ba ở nhà: “Ba! Con không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con”. Đây là một mong muốn rất thực, nó nói lên tất cả tình cảm bé Thu dành cho ba. - Bé Thu chia tay ba với ao ước ba sẽ làm cho con một chiếc lược. Mong ước ấy cho thấy cô bé muốn có một kỉ vật do tay ba tự làm cho mình. -=> Nỗi nhớ mong với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu, nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối hả, cuống quýt, có xen lẫn cả sự hối hận. Giờ đây người cha sắp phải đi xa, xa mẹ, xa con và tiếp tục cuộc đời người lính gian khổ, Lần đầu tiên, Thu cất tiếng gọi “Ba” và tiếng kêu như tiếng “xé”, không còn là tiếng kêu biểu lộ sợ hãi mà là tiếng nói của tình yêu thương ruột thịt. Miêu tả những biến đổi tình cảm của bé Thu, tác giả đã một lần nữa tô đậm tình yêu thương của con đối với cha. Bé Thu bướng bỉnh, gan góc nhưng cũng rất giàu tình cảm. -Ý4 : Đánh giá về nghệ thuật- nội dung: Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện éo le, đặc sắc, hấp dẫn ; xây dựng tính cách nhân vật qua tâm lí và hành động . - Qua biểu hiện tâm lí và thái độ, tình cảm, hành động của bé Thu, ta thấy đó là cô bé có tình cảm thật sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật rứt khoát, rạch ròi. Ở Thu còn có nét cá tính là sự cứng cỏi đến mức tưởng như ương ngạnh, nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ. - Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ em và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến trân trọng những tình cảm trẻ thơ. => Hình ảnh bé Thu và tình yêu cha sâu sắc của Thu đã gây xúc động mạnh trong lòng người đọc, để lại những ấn tượng sâu sắc. * Kết bài : KĐVĐNL Khẳng định vấn đề nghị luận đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm. Đề 3 (5.0 điểm) Thời gian làm bài (45-50 phút) Phân tích nhân vật ông Sáu trong truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng (Ngữ văn 9, tập một) để thấy được tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. *Gợi học sinh làm bài
- a.Mở bài: Giới thiệu tác giả,tác phẩm và vấn đề nghị luận. b.Thân bài: Ý1. Xác định vai trò của nhân vật trong cốt truyện; nêu cảm nhận chung và định hướng phân tích: Tác giả đặt nhân vật ông Sáu vào tình huống truyện bất ngờ, tự nhiên, hợp lý để khắc họa tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Ý2. Hoàn cảnh nhân vật: - Ông Sáu là một nông dân Nam Bộ. Ông tham gia hai cuộc kháng chiến chông Pháp và chống Mĩ. Ông ra đi đánh giặc năm 1946 mãi đến năm 1954, ông mới được về thăm quê vài ngày. Ngày ông đi, đứa con gái của ông mới một tuổi. Khi con gái lên 9, ông mới gặp lại con. - Tình cảm sâu nặng của ông Sáu đối với con được thể hiện rõ nét qua lần ông về thăm nhà và khi ông ở trong rừng tại khu căn cứ. Ý3: Tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh được thể hiện qua tình yêu của ông Sáu đối với con trong những ngày ông về thăm quê. - Tình yêu con tha thiết thể hiện qua tâm trạng, hành động của ông Sáu khi ông sắp được về thăm nhà: + Đến lúc được về, tình cảm dành cho con cứ “nôn nao trong người anh”. Khi gần đến nhà: “không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: Thu! con. Giọng lặp bặp run run: ba đây con!...” Diễn biến của hành động, lời nói và cử chỉ đã nói lên nỗi nhớ con tha thiết, tình yêu thương con mãnh liệt của ông Sáu. - Tình yêu con tha thiết được thể hiện trong những ngày ông Sáu ở nhà. + Trong ba ngày phép ngắn ngủi: Ông Sáu luôn tìm cách gần gũi con: “Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con” nhưng bé Thu không chịu nhận ông là cha Tâm trạng của nhân vật: vui mừng, hồi hộp chờ con gọi một tiếng “ba”, thất vọng, đau khổ...rồi không kìm nén nổi cảm xúc “ anh đánh vào mông nó và hét lên...” + Trước khi ra đi: “Anh muốn ôm con, hôn con, nhưng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chí đứng nhìn nó. Anh nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu”... + Khi ra đi: Hạnh phúc bất ngờ khi con gái đã gọi ba. “Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con”... Ý.4. Tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh được thể hiện qua tình yêu của ông Sáu đối với con trong những ngày ông ở căn cứ. - Ở khu căn cứ: “Những ngày ở rừng, lúc nhớ con, anh cứ ân hận sao mình lại đánh con”. Nỗi khổ tâm đó cứ giày vò anh... - Tâm trạng khi làm chiếc lược: Khi có được mảnh ngà voi, “anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. - Bằng tình yêu thương của người cha, ông Sáu đã từng ngày ngồi cưa mảnh ngà thành một chiếc lược. “Thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc... Những
- đêm nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con”... - Chiếc lược ngà đã trở thành kỷ vật thiêng liêng với ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của người cha đối với đứa con xa cách Nhưng rồi, một tình cảnh đau thương đã xảy ra: Ông Sáu đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay con gái chiếc lược ngà. “Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chí có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu...” Ý.5. Đánh giá, khái quát nghệ thuật xây dựng nhân vật: + Nhà văn đã sáng tạo được một tình huống nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn, tạo kịch tích cho câu chuyện, qua đó làm bộc lộ tính cách, tâm lý nhân vật... + Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật chân thực, sinh động. + Lựa chọn ngôi kể chuyện trong vai người bạn thân thiết của ông Sáu, câu chuyện được kể trở nên thẩm đẫm cảm xúc, tình cảm đồng cảm, thấu hiểu của những người đồng chí, đồng đội. + Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu gắn với tình yêu quê hương, đất nước. Tác phẩm giúp ta hiểu thêm về cuộc sống, tình cảm của người dân Nam Bộ trong chiến tranh chống Mỹ. Kết bài: Khẳng định vấn đề nghị luận và bày tỏ ấn tượng sâu sắc về nhân vật. Hình ảnh Ông Sáu , hình ảnh người cha trong truyện chiếc lược ngà sâu nặng về tình cha con đã khơi gợi trong lòng ta về tình phụ tử sâu nặng và cao đẹp trong chiến tranh . với nghệ thuật ... Truyện chiếc lược ngà là bài ca về tình phụ tử. BÀI 2 : LÀNG Kim Lân A. KIẾN THỨC CƠ BẢN : 1.Tác giả - Kim Lân tên là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920 quê ở làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Hà Bắc. - Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn. - Kim Lân am hiểu sâu sắc và gắn bó với nông thôn và người nông dân. Truyện của ông hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân =>Chính hai đặc điểm trên đã tạo nên thành công của tác giả trong truyện “Làng”. 2. Hoàn cảnh sáng tác: - Truyện “Làng” được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.
- 3.Tình huống truyện : Ông Hai tình cờ, bất ngờ nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc 4. Tóm tắt: Ông Hai - người làng chợ Dầu, buộc phải rời làng. Ở nơi tản cư, lòng ông luôn day dứt nhớ về làng. Ngày nào ông cũng ra phòng thông tin vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc tin rồi nghe lỏm chẳng sót một câu nào về tin tức của làng. Bao nhiêu là tin hay về những chiến thắng của làng ... ruột gan ông lão cứ múa cả lên, trong đầu bao nhiêu ý nghĩ vui thích. Tại quán nước đó, ông Hai nghe tin làng Dầu làm việt gian theo giặc, ông rất khổ tâm và xấu hổ. Về nhà ông nằm vật ra giường nhìn lũ con, nước mắt cứ trào ra. Lòng ông đau xót và nhục nhã khôn cùng. Ông không dám đi đâu, chỉ ru rú ở nhà. Nghe bất cứ ai nói chuyện gì, ông cũng nơm nớp lo sợ, sợ rằng người ta nói chuyện ấy Bà chủ nhà đã đuổi khéo vợ chồng con cái nhà ông. Ông Hai lâm vào hoàn cảnh bế tắc: không thể bỏ về làng vì về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, cũng không thể đi đâu khác vì không đâu người ta chứa người làng chợ Dầu. Ông cảm thấy nhục nhã xấu hổ, chỉ biết tâm sự với đứa con về nỗi oan ức của mình. Chỉ khi tin này được cải chính, ông mới vui vẻ và phấn chấn, ông cứ múa cả hai tay lên mà đi khoe với mọi người: Nhà ông bị giặc đốt, làng ông bị giặc phá. Và ông lại tiếp tục sang nhà bác Thứ để khoe về cái làng của mình. *.Truyện “Làng” có những đặc điểm cần lưu ý sau: - Truyện “Làng” khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kì kháng chiến: tình cảm quê hương đất nước. Đây là một tình cảm mang tính cộng đồng. Nhưng thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lý chung ấy trong sự thể hiện cụ thể, sinh động ở một con người, trở thành một nét tâm lý sâu sắc ở nhân vật ông Hai, vì thế nó là tình cảm chung mà lại mang rõ màu sắc riêng cá nhân, in rõ cá tính của nhân vật. - Truyện thuộc loại có cốt truyện tâm lý, không xây dựng trên các biến cố, sự kiện bên ngoài mà chủ trọng đến các tình huống bên trong nội tâm nhân vật, miêu tả các diễn biến tâm lý, từ đó làm nổi rõ tính cách nhân vật và chủ đề tác phẩm. - Những biện pháp nghệ thuật chính để miêu tả nhân vật ông Hai - nhân vật chính của truyện: + Miêu tả tâm lý nhân vật.. + Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại - Văn bản “làng” đã kết hợp các phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm. Tự sự là chính vì câu chuyện được triển khai theo hệ thống các sự việc. - Truyện được kể theo ngôi thứ ba. Nó đảm bảo tính khách quan của những cái được kể, gợi cảm giác chân thực cho người đọc.
- - Tình huống cơ bản của truyện là khi ở nơi tản cư lúc nào cũng da diết nhớ về làng và tự hào về nó thì bỗng nghe được tin làng mình đã lập tề theo giặc. Chính tình huống ấy đã cho thấy lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến đã bao trùm và chi phối tình cảm quê hương ở ông Hai, đồng thời làm bộc lộ sâu sắc và cảm động tình yêu làng, yêu nước ở ông. 5. Chủ đề: Truyện ngắn: “ Làng” của nhà văn Kim Lân ca ngợi tình yêu làng quê gắn liền với tình yêu quê hương đất nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. B. LUYỆN CÁC DẠNG ĐỀ * Dạng đề 2 đến 3 điểm: Đề 1: Viết một đoạn văn ngắn thuật lại tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc. 1. Mở đoạn - Ông Hai là người tha thiết yêu làng quê, luôn tự hào về làng quê của mình - Chính ông Hai là người nghe được tin làng ông theo giặc. 2. Thân đoạn - Ông Hai bàng hoàng, sững sờ: “Cổ ông nghẹn ắng hẳn lại, da măt tê rân rân...” Một lúc lâu sau ông mới cố chấn tĩnh lại, ông vẫn còn chưa tin. nhưng khi nghe những người tản cư khẳng định chắc chắn ông đành không thể không tin. - Ông thấy xấu hổ “đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng” “cúi gằm mặt xuống mà đi” - Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, “nhìn lũ con, tủi thân nước mắt ông cứ tràn ra”. - Không khí nặng nề trùm lên gia đình ông Hai. ông gắt gỏng cả với vợ, ông “ trằn trọc không sao ngủ được ” - Ông Hai không dám ra khỏi nhà. “Suốt ngày ông chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy ” 3. Kết đoạn - Cái tin làng theo Tây ám ảnh ông nặng nề đến mức trở thành nỗi sợ hãi thường xuyên, động cái gì cũng làm ông đau đớn, xấu hổ. Đề 2 : Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn: “Làng” của Nhà văn Kim Lân? - Kim lân đặt tên “Làng” mà không phải là “Làng Chợ Dầu” vì nếu thế thì vấn đề tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp của một làng cụ thể. Đặt tên “Làng” giúp tác giả khai thác một tình cảm bao trùm, phổ biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: Tình cảm với quê hương, với đất nước. Làng ở đây cũng chính là cái làng Chợ Dầu mà ông Hai yêu như máu thịt của mình, nơi ấy với ông là niềm tin, là tình yêu và niềm tự hào vô bờ bến là quê hương đất nước thu nhỏ. - Nhan đề “Làng” gợi hình ảnh nông thôn và người nông dân Việt Nam, đây là mảng sáng tác thành công nhất của Kim Lân. Tên gọi tác phẩm góp phần gợi mở chủ đề của thiên truyện: Ngợi ca tình cảm yêu quê hương, đất nước và tinh thần kháng
- chiến của người nông dân Việt Nam thời kì chống Pháp.Vì vậy, nhan đề tác phẩm rất hay và giàu ý nghĩa. Đề 3: Viết đoạn văn phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân. Gợi ý đáp án: - Tình huống: Ông Hai tình cờ, bất ngờ nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây. =>- Trong truyện ngắn “Làng”, Kim Lân đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống gay cấn, bất ngờ, thử thách. - Ông Hai trong truyện là một người rất yêu làng Chợ Dầu của mình và luôn tự hào về làng. Phải đi tản cư xa làng, lúc nào ông cũng nhớ làng, nói chuyện với ai cũng khoe làng mình. Ấy thế mà chính ông lại phải nghe cái tin từ những người vừa tản cư lên, rằng làng mình đã theo Tây. Tình huống bất ngờ ấy đã khiến ông đau xót, tủi hổ, day dứt và giằng xé giữa tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước, mà tình cảm nào cũng thiết tha, mạnh mẽ. - Đặt nhân vật vào tình huống ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước ở nhân vật, cho thấy lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến đã chi phối và thống nhất mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kì kháng chiến. *Dạng đề 5 đến 7 điểm Đề 1: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện “Làng” của nhà văn Kim Lân. Dàn bài: Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận (Nêu những nét chính về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và những nét khái quát về nhân vật ông Hai). Ví dụ: - Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn. Truyện của ông thường viết về đề tài nông dân, am hiểu cuộc sống nông thôn và người dân Miền Bắc. Truyện ngắn “Làng”là tác phẩm tiêu biểu của ông được sáng tác năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống pháp. Đây là một tác phẩm xuất sắc thể hiện thành công hình ảnh người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến mà tình yêu làng quê đã hoà nhập tròng lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến được thể hiện rõ qua nhân vật ông Hai. B .Thân bài: LĐ 1 : Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai được thể hiện khi ông Hai đi tản cư : - Cũng như bao con người Việt Nam khác ông Hai cũng có một quê hương để yêu thương, gắn bó. Làng chợ Dầu luôn là niềm tự hào, kiêu hãnh của ông. Kháng chiến bùng nổ, người dân phải dời làng đi sơ tán, ông Hai cũng theo dòng người ấy sơ tán đến một miền quê xa xôi, hẻo lánh. Ông Hai thực sự buồn khi phải xa làng. Ở nơi tản cư, lòng ông đau đáu nhớ quê, cứ “ nghĩ về những ngày làm việc cùng anh em ..”, ông nhớ làng quá. - Ông Hai luôn khoe và tự hào về cái làng Dầu không chỉ vì nó đẹp mà còn bởi nó tham gia vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc.
- - Ông luôn tìm cách nghe tin tức về kháng chiến : Ông đến phòng thông tin nghe ngóng tin tức về kháng chiến .“chẳng sót một câu nào”. Nghe được nhiều tin hay , những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan ông cứ múa cả lên, náo nức, bao nhiêu ý nghĩ vui thích chen chúc trong đầu óc. LĐ 2: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc: (Nhưng khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc thì bao nhiêu tình cảm tốt đẹp ấy trong ông Hai bỗng nhiên biến thành những nỗi lo âu, dằn vặt) - Khi nghe tin quá đột ngột, ông Hai sững sờ, xấu hổ và uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy”. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ tan tành trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quý nhất nay cũng đã lại quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đời ông cũng như chết mất một nửa. - Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Ông tìm cách lảng tránh những lời bàn tán và cúi gằm mặt xuống ra về. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt mà đi”, về đến nhà ông nằm vật ra giường, rồi tủi thân nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra”. Bao nhiêu câu hỏi dồn về xoắn xuýt, bủa vây làm tâm trạng ông rối bời trong cơn đau đớn, hụt hẫng đến mê dại, dữ dằn và gay gắt.. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy. - Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ây”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam –nhông là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!” - Nhưng chính lúc này, tình cảm đẹp trong con người ông Hai lại càng được bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Những đau đớn, dằn vặt, sự hổ thẹn đến tột cùng đã đẩy ông Hai vào một tình huống phải lựa chọn. Quê hương và Tổ Quốc, bên nào nặng hơn? Quê hương đáng yêu, đang tự hào... Nhưng giờ đây.... dường như mới chỉ nghĩ tới đó, lòng ông Hai đã nghẹn đắng lại. Tình yêu quê hương và tình yêu tổ quốc xung đột dữ dội trong lòng ông. Một ý nghĩ tiêu cực thoáng qua trong đầu: Hay là quay về làng. Nhưng rồi ông cảm thấy “rợn cả người”. Ông đã từng nhớ làng da diết, từng ao ước được trở về làng. Nhưng “vừa chớm nghĩ, lập tức ông lão phản đối ngay” bởi vì “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cuối cùng ông đã quyết định: “không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Như vậy,tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu, cũng không thể mạnh hơn tình yêu đất nước. - Chuẩn mực cho tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đối với ông Hai lúc bấy giờ là cuộc kháng chiến. Tuy đau xót tưởng chừng bế tắc nhưng trong cõi thẳm sâu của tấm lòng, người nông dân ấy vẫn hướng về kháng chiến, vẫn tin ở những
- điều tốt đẹp, cố giữ cho tâm hồn không vẩn đục, để đón đợi một điều gì đỡ đau đớn, tuyệt vọng hơn. + Khi tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ, nghe con nói: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh”, nước mắt ông Hai cứ giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má, giọng ông như nghẹn lại: “ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ?”. Phải chăng, trong tâm hồn người nông dân chất phác ấy vẫn không phút nào nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương, yêu quê hương và nỗi đau đớn khi nghe tin quê hương rời xa công việc chiến đấu chung của đất nước bấy giờ? Tâm sự với đứa con, ông Hai muốn bảo con nhớ câu “nhà ta ở làng chợ Dầu”. Đồng thời ông nhắc con- cũng là tự nhắc mình “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh”. Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng thật sâu nặng, bền vững và thiêng liêng: “Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ đám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ đám đơn sai”. LĐ 3: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu được cải chính : - Đến khi biết đích xác làng Dầu yêu quý của ông không phải là làng Việt gian, nỗi vui mừng của ông Hai thật là vô bờ bến: “Ông cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy với mọi người”, mặt ông “tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. Đối với người nông dân, căn nhà là cơ nghiệp của cả một cuộc đời, vậy mà ông sung sướng hể hả loan báo cho mọi người biết cái tin “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ” một cách tự hào như một niềm hạnh phúc thực sự của mình. Đó là nỗi lòng sung sướng trào ra hồn nhiên như không thể kìm nén được của người dân quê khi được biết làng mình là làng yêu nước dẫu cho nhà mình bị giặc đốt. Tình yêu làng của ông Hai thật là sâu sắc và cảm động. - So với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám, rõ ràng ta thấy ông Hai có những điểm tiến bộ vượt bậc trong nhận thức, tâm hồn, tình cảm và tính cách. Đó chính là nhờ vào đường lối giác ngộ cách mạng của Đảng, Bác Hồ mà học có được. Lão Hạc và ông Hai có những điểm tính cách khác nhau nhưng họ vẫn có những phẩm chất của những người nông dân giống nhau, đều hiền lành, chất phác, lương thiện. Khi cách mạng tháng Tám thành công đã đem đến sự đổi đời cho mỗi người nông dân. Từ một thân phận nô lệ phụ thuộc họ trở thành một người tự do làm chủ cuộc đời, làm chủ đất nước. Từ đó đã củng cố và làm nền tảng vững chắc cho tình yêu quê hương, đất nước, trở thành một tình cảm vững bền, thiêng liêng sâu nặng, nồng cháy. => Trong hoàn cảnh toàn dân đang hướng tới cuộc kháng chiến chống pháp, bảo vệ độc lập dân tộc, ông Hai đã biết đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu cá nhân của mình với làng chợ Dầu, ông dành tất cả cho cách mạng. Đó chính là nét đẹp trong con người ông Hai nói riêng và người nông dân Việt Nam nói chung. - Văn hào I li a, E ren bua có nói: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu tổ quốc”. Ông Hai đúng là một con người như thế. Niềm vui, nỗi buồn của ông đều gắn bó với làng. Lòng yêu làng của ông chính là cội nguồn của lòng yêu nước. LĐ 4: Đánh giá NT, ND tác phẩm:
- - Bằng nghệ thuật xây dựng THT đặc sắc, bất ngờ, hấp dẫn; cách kể chuyện tự nhiên, miêu tả tinh tế diễn biến tâm lý nhân vật; đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm... Truyện ngắn: “ Làng” của nhà văn Kim Lân ca ngợi tình yêu làng quê gắn liền với tình yêu quê hương đất nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. C. Kết bài: KĐVĐNL( Cảm nghĩ về NV ông Hai...) VD: Qua truyện ngắn “Làng”, tác giả đã khắc hoạ thành công hình tượng một người nông dân chất phác, phồn hậu có tình yêu làng quê, tình yêu quê hương đát nước. Hình tượng nhân vật ông Hai vừa phản ánh chân thực những nếp cảm, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.. Đề 2 : (5điểm) Phân tích nhân vật Ông Hai trong tác phẩm “Làng” của Kim Lân ( Ngữ văn 9, tập 1 ) để thấy được tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. *Hướng dẫn HS Làm bài A. Yêu cầu về kĩ năng: Biết làm kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện, kiểu bài phân tích nhân vật; Bài viết có bố cục mạch lạc, sáng rõ, lập luận thuyết phục, kết hợp lý lẽ và dẫn chứng hợp lý, thể hiện hiểu biết về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Có đầy đủ cấu trúc Mở bài, Thân bài, Kết bài. B. Yêu cầu về kiến thức: HS cần đạt được các ý cơ bản sau: HS có thể trình bày bài viết theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo một số nội dung cơ bản sau đây: 1. MB: Giới thiệu được vấn đề nghị luận. 2.TB: 2.1. Xác định vai trò của nhân vật trong cốt truyện; nêu cảm nhận chung và định hướng phân tích: Tác giả đặt nhân vật ông Hai vào hoàn cảnh đặc biệt để khắc họa tính cách, người đọc cảm nhận được những nét tính cách nổi bật của nhân vật qua tình huống truyện, qua diễn biến tâm trạng nhân vật. 2.2. Diễn biến tâm trạng ông Hai khi mới đến nơi tản cư: - Ông Hai hay khoe làng, đi đâu ông cũng kể về làng chợ Dầu.
- - Trong những ngày tháng tản cư, làng Chợ Dầu đã thành nỗi nhớ và niềm tự hào của ông Hai. - Tình yêu làng gắn liền với tinh thần kháng chiến: ông Hai luôn theo dõi tin tức kháng chiến, vui cùng thắng lợi của quân và dân ta. Tình cảm của ông Hai tiêu biểu cho tình cảm của những người nông dân trong thời kỳ kháng chiến. 2.3. Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp được thể hiện rõ nhất qua diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc. - Khi nghe được tin dữ, ông sững sờ, bàng hoàng và chưa tin vào tai mình. Khi người ta kể, ông xấu hổ, đau đớn và lảng ra về... Nghe những lời chì chiết của làng xóm ông chỉ biết cúi gằm mặt mà đi... - Ông thương cho đàn con của mình, nghĩ tủi hổ vì chúng nó cũng bị người ta “rẻ rúng, hắt hủi”. Ông đau đớn và dằn vặt: “Ông kiểm điểm lại những gương mặt”, không tin họ lại đổ đốn như vậy, càng nghĩ ông càng đau lòng, thật khó chấp nhận sự thật, vì nó làm ông cảm thấy đau đớn vô cùng. - Xấu hổ, nhục nhã ông chẳng dám ra ngoài. Không khí trong căn nhà cũng trở nên nặng nề. - Tình cảm yêu nước sâu sắc còn được bộc lộ ở sự xung đột nội tâm hết sức gay gắt: có lúc ông muốn quay về làng, vì bị người ta hắt hủi, coi khinh. Nhưng lý trí lại không cho phép: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất thì phải thù”. Một quyết định thật khó khăn. Tâm lý giằng co khiến lòng ông đau như cắt. - Ông chỉ biết bộc lộ nỗi lòng qua lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh của ông với cụ Hồ, ông cảm giác đứa con bé tí cũng hiểu lòng ông: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”... 2.4. Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp còn được thể hiện qua diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai khi nhận tin cải chính về làng. - Ông vui sướng vô cùng, đi khoe nhà mình bị Tây đốt, ông gặp từng người chỉ để nói với họ tin cải chính. Ông kể cho mọi người nghe về trận càn ở làng chợ Dầu với niềm tự hào khôn tả... - Những điều đó đã nói lên tinh thần yêu nước của ông Hai, tình cảm chân thành của người nông dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp. 2.5. Đánh giá, khái quát về nhân vật:
- - Tác giả đã xây dựng tình huống nghệ thuật đặc biệt cho tác phẩm. Qua đây, khắc họa diễn biến tâm lý nhân vật chân thực, sinh động. Tâm lý, tính cách của nhân vật được bộc lộ qua hành động, ngôn ngữ, nhất là qua lời độc thoại nội tâm. - Người đọc cảm nhận được tình yêu nước, yêu làng vô cùng sâu nặng, cao quý của người nông dân kháng chiến, đồng thời thấy được tình cảm yêu mến đặc biệt của nhà văn dành cho nhân vật. KB: Khẳng định vấn đề nghị luận và bày tỏ ấn tượng sâu sắc về nhân vật. Đề 3: Truyện ngắn “Làng” đã thể hiện được điều mới mẻ và lời nhắn nhủ của nhà văn Kim Lân trên cơ sở mượn ở thực tại . Hãy làm rõ “điều mới mẻ” trong truyện và “lời nhắn nhủ” của nhà văn. Dàn bài: 1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu nhân vật (Nêu những nét chính về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và vấn đề nghị luận). - Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn, am hiểu về đời sống nông dân và nông thôn. - Truyện ngắn “Làng” được in lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. - Một trong những yếu tố tạo nên thành công của truyện ngắn “ Làng” là đã thể hiện được điều mới mẻ ??? và lời nhắn nhủ??? của nhà văn Kim Lân trên cơ sở mượn ở thực tại 2. Thân bài : Chứng minh nhận định * Điều mới mẻ: 1. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp mới trong tâm hồn người nông dân sau cách mạng T/8 : tình yêu làng quê hòa quyện với tình yêu đất nước và tình thần kháng chiến.Tình cảm ấy được nhà văn gửi gắm qua hình tượng ông Hai + Phân tích nhân vật ông Hai a. Ông Hai có tình yêu làng sâu sắc, đặc biệt với làng chợ Dầu, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. - Kháng chiến chống Pháp nổ ra: + Ông Hai muốn trở lại làng để chống giặc nhưng vì hoàn cảnh gia đình phải tản cư, ông luôn day dứt nhớ làng. + Tự hào về làng, ông tự hào về phong trào cách mạng, tinh thần kháng chiến sôi nổi của làng. b.Tình yêu làng của ông Hai hòa nhập thống nhất với lòng yêu nước, yêu kháng chiến, cách mạng. + Nghe tin làng chợ Dầu theo giặc Pháp ông đau đớn nhục nhã, “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. + Nghe tin cải chính làng không theo giặc, ông Hai vui sướng tự hào nên dù nhà ông bị giặc đốt ông không buồn, không tiếc, xem đó là bằng chứng về lòng trung thành của ông đối với cách mạng. (Có thể so sánh với hình tượng người nông dân trước CM/8-Lão Hạc)
- 2. Điều mới mẻ trong nghệ thuật xây dựng tình huống tâm lý, miêu tả sinh động diễn biến tâm trạng, ngôn ngữ của nhân vật quần chúng. Miêu tả nổi bật tâm trạng tính cách nhân vật qua đối thoại, độc thoại, đấu tranh nội tâm, ngôn ngữ, thái độ, cử chỉ, suy nghĩ hành động. * Lời nhắn nhủ (đây cũng là chủ đề tp) : Tình yêu làng vốn là tình cảm truyền thống của người nông dânVN. Nhưng chỉ ở người nông dân sau cách mạng tháng 8, tình yêu làng mới hòa quyện sâu sắc với tình yêu đất nước, niềm tin lãnh tụ và tinh thần ủng hộ kháng chiến. Kết bài: - Khái quát đặc sắc nghệ thuật và nội dung tác phẩm. - Khẳng định ý kiến nhận định. BÀI 3 : LẶNG LẼ SA PA. Nguyễn Thành Long A. KIẾN THỨC CƠ BẢN. I. T¸c gi¶ - Nguyễn Thành Long (1925 -1991), quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1954) hoạt động văn nghệ ở liên khu V, sau 1954 ông tập kết ra Bắc, chuyên sáng tác. - Ông là một trong những cây bút văn xuôi đáng chú ý trong những năm 1960 - 1970, chỉ chuyên viết truyện ngắn và ký. Đề tài hướng vào cuộc sống sinh hoạt, lao động đời thường. - Phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giầu chất thơ và ánh lên vẻ đẹp con người, mang ý nghĩa sâu sắc.Truyện của ông thường mang chất ký, mang vẻ đẹp thơ mộng trong trẻo. II. Tác phẩm. 1.HCST: Truyện được viết năm 1970, là kết quả của chuyến đi thực tế lên Lào Cai của tác giả. Truyện rút từ tập Giữa trong xanh xuất bản năm1972. 2. Một số nét về tác phẩm : - Truyện “LLSP” có cốt truyện rất đơn giản, xoay quanh một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa. Nhân vật chính của truyện – anh thanh niên chỉ hiện ra trong chốc lát nhưng để lại cho các nhân vật khác trong truyện những tình cảm tốt đẹp. Tình huống gặp gỡ này là cơ hội thuận tiện để nhân vật chính được hiện ra qua sự quan sát, suy nghĩ của những nhân vật khác, đặc biệt là ông họa sĩ già. Chính vì thế nhân vật chính không chỉ hiện ra một cách tự nhiên
- mà còn được soi chiếu, đánh giá từ cái nhìn và cảm xúc của những nhân vật khác, rồi lại tác động đến tình cảm và suy nghĩ của những nhân vật ấy. - Điểm đáng chú ý trong nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn này là truyện được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn và ý nghĩa của nhân vật ông hoạ sĩ. Vì vậy, dù không phải là nhân vật chính nhưng nhân vật ông hoạ sĩ có vị trí quan trọng trong truyện. Cùng với nhân vật anh thanh niên, các nhân vật khác (bác lái xe, cô kĩ sư trẻ mới ra trường, ông hoạ sĩ) và cả những nhân vật gián tiếp như ông kĩ sư ở vườn ra dưới Sa Pa, anh cán bộ kĩ thuâậ nghiên cứu về sét) đều góp phần thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm. - Các nhân vật trong truyện đều không có tên riêng, chỉ được nhà văn gọi theo giới tính và tuổi tác (anh thanh niên, cô kĩ sư nông nghiệp, ông hoạ sĩ già...) => Dụng ý của tác giả muốn người đọc liên tưởng đến những nhân vật tốt đẹp mà trong truyện không phải chỉ là những cá nhân riêng lẻ mà là số đông. Điều này tăng thêm sức khái quát đời sống của câu chuyện. - Truyện có chất thơ toát lên từ khung cảnh thiên nhiên Sa Pa đẹp như những bức tranh và chất thơ ấy còn ở chính trong tâm hồn các nhân vật ( ATN, Cô kĩ sư trẻ, bác hoạ sĩ ) với những suy nghĩ, cảm xúc thật trong sáng, đẽ. Chất thơ của truyện lại đi liền với chất họa. Truyện cũng có thể xem là những bức tranh đẹp, những bức tranh về cảnh thiên nhiên Sa Pa, về cuộc gặp gỡ giữa ba nhân vật và bức chân dung kí họa về nhân vật chính – anh thanh niên. 3 Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng của họ. B. LUYỆN CÁC DẠNG ĐỀ 1. Dạng 2 hoặc 3 điểm: Đề 1 :Tóm tắt truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long B. Hướng dẫn sơ lược Truyện kể về anh thanh niên 27 tuổi, sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2.600m quanh năm chỉ có cây cỏ sương mù ... Công việc chính của anh là công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Trước những trách nhiệm đặc thù của công việc, anh luôn có cảm giác thèm gặp gỡ và trò chuyện với mọi người. Bởi vậy, anh đã dùng khúc cây chắn ngang đường mong được gặp và nói chuyện với khách qua đường. Trong một lần, anh có cơ hội được gặp gỡ, trò chuyện với một đoàn người lên Sa Pa, trong đó có một ông họa sỹ già và cô kỹ sư trẻ. Họ đã nhận lời mời vàghéthăm nơi anh ở. Nơi ở ngăn nắp, gọn gàng đã gây được cảm mến, ấn tượng tốt đẹp đối với ông họa sỹ. Anh đã tâm sự về cuộc sống, nghề nghiệp, về sở thích, đam mê công việc, đọc sách, nuôi gà, trồng hoa của mình. Cảm nhận được vẻ đẹp của anh thanh niên, ông họa sỹ có ý muốn vẽ một bức chân dung về anh. Nhưng anh đã từ chối và giới thiệu ông kỹ sư dưới vườn rau Sa Pa, hay anh đồng nghiệp chuyên nghiên cứu bản đồ sét, theo anh là đáng để vẽ hơn. Cô kỹ sư sau khi trò chuyện với anh đã nhận ra mối tình nhạt nhẽo của mình hồi ở thành phố và yên tâm nhận công tác ở lai châu.
- Sau ba mươi phút trò chuyện, họ chia tay. Anh thanh niên tiếp tục với công việc của mình. Trước khi tạm biệt, anh không quên biếu hai người một làn trứng gà và tặng cô gái một bó hoa. Đề 2:Phân tích ý nghĩa của tình huống truyện trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long B. Hướng dẫn sơ lược Là cây bút chuyên viết về truyện ngắn và ký, Nguyễn Thành Long đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong lòng người đọc với những trang viết giàu chất trữ tình. Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn. Một trong những nét đặc sắc của tác phẩm chính là tác giả đã sáng tạo nên một tình huống nghệ thuật khá đơn giản và tự nhiên.Truyện kể về một cuộc gặp gỡ tình cờ giữa anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn với bác lái xe và hai người khách. Ý nghĩa của tình huống truyện: Cuộc gặp gỡ tình cờ đã để lại cho các nhân vật ấn tượng tốt đẹp về anh thanh niên. Qua tình huống gặp gỡ, trò chuyện, chân dung nhân vật được hiện lên một cách trọn vẹn, đầy đủ. Thái độ với công việc, cách sắp xếp cuộc sống của anh thanh niên gợi mở bao điều suy nghĩ về con người, về lẽ sống bình dị mà vô cùng ý nghĩa, sâu sắc, có sức lan tỏa và gợi cảm hứng cho mọi người. Qua điểm nhìn của các nhân vật khác, nhất là từ điểm nhìn của người nghệ sỹ già, nhân vật chính hiện lên một cách thú vị, hấp dẫn mang vẻ đẹp lí tưởng. Bằng một nghệ thuật dẫn chuyện tinh tế, tự nhiên, tạo tình huống nghệ thuật hợp lí của tác giả Nguyễn Thành Long, các nhân vật xuất hiện một cách tự nhiên, chân thực, góp phần làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của tác phẩm: Trong cái im lặng của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kỹ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước Câu 3 (2.0 điểm) Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long B. Hướng dẫn sơ lược Lặng lẽ Sa Pa là một nhan đề giàu chất thơ, góp phần làm nổi bậtcảm hứng, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. - Nhan đề gợi lên một khung cảnh thiên nhiên êm đềm, thanh tĩnh của Sa Pa. - Trong không gian núi rừng Sa Pa thơ mộng, trữ tình có những con người lao động, cống hiến âm thầm, lặng lẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những con người như anh thanh niên, bác lái xe, ông họa sỹ già, cô kỹ sư trẻ, ông kỹ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên cứu bản đồ sét mỗi người thầm lặng đóng góp, hi sinh tuổi trẻ và hạnh phúc cá nhân, cống hiến hết mình cho nghề nghiệp một cách miệt mài, thầm lặng. Ở họ, kết tinh “chất vàng mười” của những con người xây dựng đất nước trong thời kỳ miền Bắc mỗi người làm việc bằng hai để xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam. Trong cái lặng lẽ của Sa Pa, có cái lặng lẽ của thiên nhiên, cái lặng lẽ của những việc làm, suy nghĩ âm thầm, có cuộc gặp gỡ bất chợt và chia tay lặng lẽ. Có cái dịu

