Chuyên đề nghị luận xã hội Ngữ văn 9
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề nghị luận xã hội Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
chuyen_de_nghi_luan_xa_hoi_ngu_van_9.docx
Nội dung tài liệu: Chuyên đề nghị luận xã hội Ngữ văn 9
- CHUYÊN ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI A. MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1. Kiến thức: - Giúp học sinh cách hiểu đơn giản nhất về bài văn NLXH. - Giúp HS nắm được yêu cầu chung của bài văn nghị luận xã hội ,các dạng bài nghị luận xã hội thường gặp trong đề thi tuyển sinh vào lớp 10 - Nắm được các đặc điểm chung của các dạng bài NLXH, hình thành cho học sinh cách dàn ý thật ngắn gọn dưới dạng công thức để HS khỏi lúng túng khi làm bài thi. - Thực hành một số đề để rèn luyện kỹ năng làm baì NLXH cho HS. - Tạo cơ hội cho các em bày tỏ quan điểm, thái độ về những vấn đề quen thuộc xẩy ra xung quanh cuộc sống. 2. Định hướng năng lực: 4.1. Năng lực chung: - Tự chủ và tự học: Độc lập trong suy nghĩ và thực hiện nhiệm vụ, để có thêm hiểu biết, kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sống. - Giao tiếp và hợp tác: . - Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Có thao tác xử lí nhanh, đúng trọng tâm nhiệm vụ học tập, sáng tạo trong cách tiếp cận và trình bày vấn đề. 4.2. Năng lực chuyên biệt: - Năng lực ngôn ngữ: - Năng lực tạo lập văn bản. 3. Phẩm chất: Siêng năng, chăm chỉ, có ý thức cầu tiến B. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ: I. TÓM TẮT KIẾN THỨC VỀ VĂN NGHỊ LUẬN: 1.Khái niệm: - Văn nghị luận là vb đưa ra các lý lẽ dẫn chứng để bảo vệ hoặc làm sáng tỏ một quan điểm, tư tưởng (luận điểm) nào đó. - Một bài văn nghị luận đều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận. Trong một văn bản có thể có một luận điểm chính và các luận điểm phụ. + Luận điểm: Là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán. Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thành một khối. Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục. +Luận cứ: là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm. Luận cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phục. + Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có sức thuyết phục. II. PHÂN LOẠI CÁC DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI - Nghị luận về sự việc hiện tượng , đời sống. - Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý. - Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong TPVH. III. ÔN TẬP CÁC DẠNG BÀI CỤ THỂ: Dạng 1:Nghị luận về một hiện tượng đời sống: A. LÝ THUYẾT:
- * Khái niệm: Nghị luận về một sự việc hiện tượng trong đời sống xã hội là bàn về một sự việc hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ . + Yêu cầu về nội dung của bài văn nghị luận là phải nêu rõ được sự việc hiện tượng có vấn đề; phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết. + Về hình thức: Bài viết phải có bố cục mạch lạc; có luận điểm rõ ràng; luận cứ xác thực; phép lập luận phù hợp; lời văn chính xác sinh động . *Đề tài: Những vấn đề thường gần gũi với đời sống và sát hợp với trình độ nhận thức của học sinh: - Hiện tượng tiêu cực: Tai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, , những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình ..học tủ học lệch ..vv - Hiện tượng tích cực: Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt vv - Nghị luận về một hiện tượng đời sống không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo lí, cách sống đúng đắn, tích cực đối với học sinh, thanh niên. * Dàn bài : a. Mở bài: - Dẫn dắt vào đề ( ) để giới thiệu chung về những vấn đề có tính bức xúc mà xã hội ngày nay cần quan tâm.Thông thường dùng cụm từ: Trong cuộc sống . - Giới thiệu vấn đề nghị luận đặt ra ở đề bài: hiện tượng đời sống mà đề bài đề cập tới ... b. Thân bài: Liên hệ thực tế phân tích các mặt : * Thực trạng (Biểu hiện): Nếu một số sự việc chưa rõ thì dùng lập luận giải thích. Lưu ý: Khi phản ánh thực trạng, cần đưa ra những thông tin cụ thể, tránh lối nói chung chung, mơ hồ mới tạo được sức thuyết phục. - Tình hình, thực trạng trên thế giới ( ) - Tình hình, thực trạng trong nước ( ) - Tình hình, thực trạng ở địa phương ( ) * Nguyên nhân : + Nguyên nhân khách quan ( ) + Nguyên nhân chủ quan ( ) * Hậu quả, tác hại của hiện tượng đời sống đó: + Hậu quả, tác hại đối với cộng đồng, xã hội ( ) + Hậu quả, tác hại đối với cá nhân mỗi người ( ) * Đề xuất những giải pháp: Lưu ý: Cần dựa vào nguyên nhân để tìm ra những giải pháp khắc phục. - Về phía cơ quan chức năng ( ) - Về phía mỗi cá nhân ( ) c. Kết bài: - Khẳng định chung về hiện tượng đời sống đã bàn ( ) - Lời nhắn gửi đến tất cả mọi người ( ) B.BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG:
- Đề 1: Nghiện điện thoại thông minh đang là một xu hướng phổ biến của giới trẻ hiện nay, em hãy viết bài nghị luận về hiện tượng này. Đề 2: Hiện nay trong giới học đường, xuất hiện một số học sinh có lối học tủ, học vẹt. Viết một bài văn nghị luận (khoảng 300 từ) trình bày ý kiến của em về hiện tượng trên ./. Đề 3 : Suy nghĩ của em về những tấm gương không chịu khuất phục số phận. Hướng dẫn dàn ý đề 1: Mở bài • Hiện nay, hầu hết các bậc phụ huynh đều trang bị cho con em mình điện thoại di động để liên lạc, hoặc truy cập mạng Internet tìm tư liệu học tập. • Thế nhưng, một bộ phận học sinh lại sử dụng nó chưa đúng cách, với mục đích chưa tốt. II. Thân bài 1. Giải thích - Điện thoại di động, còn gọi là điện thoại cầm tay, là loại điện thoại kết nối dựa trên sóng điện từ vào mạng viễn thông. Nhờ có kết nối sóng (kết nối không dây), mà điện thoại di động thực hiện trao đổi thông tin khi đang di chuyển. - Điện thoại di động chính thức ra đời vào ngày 3 tháng 4 năm 1973, mang tên Motorola Dynatac, phát minh bởi nhà sáng chế John F. Mitchell và Martin Cooper. Motorola Dynatac mang hình dáng gần giống điện thoại di động ngày nay mặc dù vẫn còn khá cồng kềnh (nặng khoảng 1kg) và không phổ biến. Từ đó đến nay, chiếc điện thoại di động phát triển không ngừng phát triển theo hướng nhỏ gọn hơn rất nhiều tổ tiên của nó và ngày càng được tích hợp nhiều chức năng hơn chứ không còn đơn thuần là nghe và gọi. 2. Bàn luận a) Thực trạng - Điện thoại thông minh đang được học sinh sử dụng phổ biến trong nhiều trường học: • Sử dụng điện thoại chưa đúng cách: dùng ngay trong các giờ học, để nhắn tin nói chuyện riêng; trong các giờ kiểm tra thì dùng tải tài liệu trên Internet để đối phó • Sử dụng điện thoại với mục đích chưa tốt: dùng tải các hình ảnh, các loại văn hóa phẩm đồi trụy, hoặc phát tán các clip có nội dung xấu lên mạng; dùng để trêu chọc người khác thái quá (nhắn tin hù dọa, nháy máy)... b) Nguyên nhân • Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người được nâng cao, điện thoại thông minh trở thành vật không thể thiếu đối với con người • Nhiều gia đình có điều kiện, chiều con nên trang bị cho con mình điện thoại nhiều chức năng nhưng lại không quản lí việc sử dụng của con em mình • Học sinh lười học, ý thức chưa tốt. • Thiếu hiểu biết, lạm dụng các chức năng của điện thoại c) Hậu quả • Sử dụng điện thoại trong giờ học: không hiểu bài, hổng kiến thức, sử dụng trong các giờ kiểm tra: tạo ra thói quen lười biếng, ỷ lại
- • Sử dụng điện thoại với mục đích xấu: ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của những người xung quanh, vi phạm chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật. d) Biện pháp khắc phục • Bản thân học sinh cần có ý thức tự giác trong học tập; cần biết sống có văn hóa, có đạo đức, hiểu biết pháp luật. • Gia đình: quan tâm hơn tới các em, gần gũi, tìm hiểu và kịp thời giáo dục con em • Nhà trường, xã hội: siết chặt hơn trong việc quản lí. 3. Bài học nhận thức và hành động - Nhận thức: Nhận thức được những ưu, nhược mà điện thoại thông minh mang lại cho con người để sử dụng chúng một cách hiệu quả, đem lại ích lợi cho cuộc sống, công việc cũng như trong học tập. - Hành động: • Biết kiểm soát chừng mực mỗi hành vi của mình, trang bị những kỹ năng sống cần thiết. • Sử dụng điện thoại đúng mục đích. • Đầu tư cho việc học tập, tránh lãng phí thời gian vô bổ. • Luôn có ý thức rèn luyện tu dưỡng bản thân, bồi đắp vốn sống, vốn văn hóa chuẩn mực, phù hợp với luật pháp, đạo đức. III. Kết bài • Đừng lãng phí thời gian, bởi vì thời gian là vàng bạc – rất quý giá. • Đừng lãng phí tiền bạc, bởi làm ra đồng tiền không hề dễ dàng. • Tương lai của bạn như thế nào đều phụ thuộc vào những giờ học trên lớp của bạn đó - Đừng để điện thoại huỷ hoại cuộc sống của mình. *Dàn bài gợi ý đề 2 1. Mở bài - Dẫn dắt vấn đề,Nêu vấn đề nl. 2. Thân bài * Giải thích khái niệm : Học tủ ,học vẹt + Học vẹt : chỉ cách học bắt chước nhắc lại kiến thức SGK một cách nguyên xi ,thụ động và không hiểu được bản chất của việc đang học . +Học tủ : là thường gặp trong các kỳ thi .hs chỉ chăm chú vào phần học . * Biểu hiện cụ thể * Nguyên nhân : + Do bệnh lười học, tâm lí muốn điểm tốt; + Chương trình giáo dục nặng về lí thuyết... * Hậu quả : + Bản thân không có kiến thức,kết quả học tập bị sút kém, sinh ra tính gian lận khi làm bài. + Gia đình, nhà trường, xã hội có những người bất tài, làm gánh nặng cho xã hội * Giải pháp : - Bản thân người học -Gia đình -Nhà trường
- *Liên hệ và rút ra bài học Dạng 2: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí A .LÝ THUYẾT: * Khái niệm :Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức ,lối sống,...của con người . -Yêu cầu về nội dung: Phải làm sáng tỏ vấn đề tư tưởng đạo lý bằng cách giải thích ,chứng minh ,so sánh , đối chiếu phân tích chỉ ra chỗ đúng ( hay chỗ sai ) nhằm khẳng định tư tưởng của người viết . -Yêu cầu về hình thức: +Bài viết có bố cục 3 phần. + Luận điểm rõ ràng đúng đắn ,sáng tỏ. + Lời văn chính xác sinh động. * Vấn đề nghị luận: - Vấn đề nhận thức: lí tưởng, mục đích sống - Vấn đề về đạo đức, tâm hồn, tính cách: lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng; tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn; thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi - Vấn đề về các quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em - Vấn đề về các quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn - Vấn đề về cách ứng xử, đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống. II Dàn ý : a. Mở bài: - Dẫn dắt vào đề ( ) - Giới thiệu về tư tưởng, đạo lí nêu ở đề bài ( ) - Trích dẫn ý kiến, nhận định (nếu có) ( ) b. Thân bài: Y1 Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận ( ). Tùy theo yêu cầu đề bài mà có thể có những cách giải thích khác nhau: - Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề. - Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề. - Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập. Ý2 Phân tích và chứng minh làm sáng tỏ vấn đề : ( Bàn luận) (Vai trò ,ý nghĩa Ý 3 Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bàn luận ( ) Ý 4 Bài học nhận thức hành động: - Đề xuất phương châm hành động đúng đắn Bản thân, mọi người c. Kết bài: - Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài ( ) - Lời nhắn gửi đến mọi người ( kêu gọi ) B. BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG: Bài tập 1:Em hãy viết một văn bản ngắn( khoảng 300 từ ) bàn về tính tiết kiệm. Bài tập 2: Ngạn ngữ Nga có câu:“Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học”Hãy viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
- Bài tập 3: Em hãy viết một văn bản nghị luận (khoảng 300 từ ), trình bày suy nghĩ của em về vai trò của tình bạn trong đời sống mỗi con người . ( Đề tuyển sinh môn Văn Hà Tĩnh 2015-2016). Gợi ý dàn bài đề 1: Mở bài : - Dẫn dắt vấn đề - Nêu vấn đề NL : Tính tiết kiệm Thân bài : Ý1: Giải thích và nêu biểu hiện: Thế nào là tiết kiệm? Tiết kiệm là sử dụng của cải, vật liệu..một cách đúng mức, không phi phạm dù đó là của nhà nước, của tập thể hay của cá nhân. Tiết kiệm không có nghĩa là để dành, cất kín những tiền cuả dư thừa, chưa dùng đến mà ngược lại cần làm cho nó sinh sôi nảy nở thêm. Biểu hiện: không xa hoa, đua đòi, lãng phí tiền của, thời giờ vào những việc không cần thiết. Đó cũng là biểu hiện của lối sống khoa học có văn hóa. + Tiết kiệm tiền của, vật tư trong sản xuất, trong sinh hoạt, trong tiêu dùng của toàn xã hội cũng như của mỗi cá nhân. + Tiết kiệm thời giờ, sử dụng giờ hợp lý, có hiệu quả. Tiết kiệm sức lao động (cải tiến, sắp xếp hợp lý nhất mọi công việc được phân công, tránh làm hùng hục, vô tổ chức). + Tiết kiệm đi đôi với tăng năng suất lao động, tăng số lượng, chất lượng sản phẩm . Ý2 Chứng minh làm sáng tỏ vấn đề - Tất cả mọi người, mọi tầng lớp nhân dân phải biêt tiết kiệm để tránh lãng phí và tích lũy để làm đời sống ngày càng tốt hơn. - Học sinh thì phải biết tiết kiệm thời giờ, đồ dùng, giấy bút, giữ gìn và bảo vệ tài sản của công và của riêng mình như sách giáo khoa, đồ dùng học tập, bàn ghế trường lớp . - Tiết kiệm trong chi tiêu, lao động, giúp đỡ gia đình trong mọi công việc, làm giảm chi tiêu của gia đình.tích lũy được của cải vật chất - Phong trào tiết kiệm được phát động sâu rộng trong toàn dân và có từ lâu và có ý nghĩa thiết thực . Ý3 Phê phán bác bỏ mặt trái Bên cạnh đó, vẫn còn một số bạn luôn suy nghĩ lệch lạc, gia đình khá giả nên muốn tiêu xài bao nhiêu thì tiêu, không biết tiết kiệm vì bạn luôn nghĩ dù có tiêu xài thế nào cũng chẳng ảnh hưởng gì đến đất nước, mà tiết kiệm thì sợ bạn bè chê trách là bủn xỉn... Ý4 Nhận thức và hành động của bản thân : - Tiết kiệm là một đức tính tốt mà mỗi người chúng ta cần học tập, chúng ta cần phải hiểu rõ được trách nhiệm của bản thân trong việc thực hành tiết kiệm. Trước hết là cho bản thân, gia đình và toàn xã hội. - Đối với bản thân luôn ý thức được trách nhiệm của mình : HS phải làm gì khi ngồi trên ghế nhà trường. Kết bài : - Khẳng định vấn đề - Kêu gọi mọi người ( thông điệp nhắn gửi )
- Bài tập 2: Gợi ý: a. Mở bài: Giới thiệu câu tục ngữ Nga “Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học”. b.Thân bài: * Giải thích: - Từ “xấu hổ”: đó là trạng thái tâm lí bình thường của con người khi cảm thấy ngượng ngùng, e thẹn hoặc hổ thẹn khi thấy kém cỏi trước người khác. - Ý nghĩa cả câu: chỉ ra sự khác nhau giữa “không biết” và ‘không học”, đồng thời khuyên con người phải ham học hỏi và biết “xấu hổ khi không học”. * Bàn luận: - Dùng lí lẽ, dẫn chứng để khẳng định sự đúng đắn của câu ngạn ngữ: + Tại sao lại nói: “Đừng xấu hổ khi không biết”? Tri thức của nhân loại là vô hạn, khả năng nhận thức của con người là hữu hạn. Không ai có thể biết được mọi thứ, không ai tự nhiên mà biết được. Không biết vì chưa học là một điều bình thường, không có gì phải xấu hổ cả. + Tại sao nói: “chỉ xấu hổ khi không học”? Vì việc học có vai trò rất quan trọng đối với con người trong nhận thức, trong sự hình thành nhân cách, trong sự thành đạt, trong cách đối nhân xử thế và trong việc cống hiến đối với xã hội. Không học thể hiện sự lười nhác về lao động, thiếu ý chí cầu tiến, thiếu trách nhiệm với bản thân và xã hội. Việc học là một nhu cầu thường xuyên, phổ biến trong xã hội từ xưa đến nay, từ việc nhỏ như “Học ăn, học nói, học gói, học mở” đến những việc lớn như “kinh bang tế thế” , đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, phát triển vũ bão về khoa học công nghệ như hiện nay. Việc học giúp chúng ta sống tốt hơn, đẹp hơn, hoàn hảo hơn. * Có thể mở rộng phê phán :những trường hợp giấu dốt, tự kiêu, tự mãn, học giả hay lười biếng(ll phản biện): * Bài học rút ra: - Muốn việc học có kết quả, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, học sinh cần có phương thức học tập đúng đắn, phong phú: học ở trường, ở gia đình, ở xã hội, ở bạn bè, trong thực tế, trong sách vở, trong phim ảnh. Học phải kết hợp với hành biến nó trở thành sức mạnh phục vụ cho cuộc sống của chính mình và xã hội, có như vậy, việc học mới có ý nghĩa thực sự đúng đắn. - Không giấu dốt, không ngại thú nhận những điều mình chưa biết để từ đó cố gắng học tập, tích cực rèn luyện, và không ngừng vươn lên. - Khẳng định việc học là vô cùng quan trọng, không chịu học là điều đáng xấu hổ. * Liên hệ bản thân: Em đã học tập, rèn luyện để tích lũy kiến thức, vốn sống của bản thân như thế nào? c. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa sâu xa của ý kiến này và những bài học mà bản thân em cần ghi nhớ . Dạng 3: Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học hoặc đoạn trích. A .LÝ THUYẾT: Lưu ý: - Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghị luận xã hội, không phải là kiểu bài nghị luận văn học. Cần tránh tình trạng làm lạc đề sang nghị luận văn học.
- - Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một tư tưởng đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống (thường là một tư tưởng, đạo lí) ví dụ như : Tình mẫu tử , Tình yêu quê hương ...vv * Dàn ý chung a. Mở bài: - Dẫn dắt vào đề ( ) - Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề xã hội mà tác phẩm nêu ở đề bài đặt ra ( ) - Trích dẫn câu thơ, câu văn hoặc đoạn văn, đoạn thơ nếu đề bài có nêu ra ( ) b. Thân bài: * Phần phụ: Giải thích và rút ra vấn đề xã hội đã được đặt ra từ tác phẩm ( ) Lưu ý: Phần này chỉ giải thích, phân tích một cách khái quát và cuối cùng phải chốt lại thành một luận đề ngắn gọn. * Phần trọng tâm: Thực hiện trình tự các thao tác nghị luận tương tự như ở bài văn nghị luận về tư tưởng đạo lí hoặc nghị luận về hiện tượng đời sống như đã nêu ở trên Lưu ý: Khi từ “phần phụ” chuyển sang “phần trọng tâm” cần phải có những câu văn “chuyển ý” thật ấn tượng và phù hợp để bài làm được logic, mạch lạc, chặt chẽ. c. Kết bài: - Khẳng định chung về ý nghĩa xã hội mà tác phẩm văn học đã nêu ra ( ) - Lời nhắn gửi đến tất cả mọi người ( ). B. BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG: Đề 1: Cho đoạn thơ: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bướ chạm tiếng nói Hai bước chạm tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng ( Trích: “ Nói với con” – Y Phương- Ngữ Văn 9 ) Từ đoạn thơ trên em hãy viết một baì văn ngắn (khoảng 300 từ) Trình bày suy nghĩ của em về tình quê hương đối với mỗi con người . Đề 2: Trong bài thơ “Con cò” nhà thơ Chế Lan Viên có viết: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ, Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con” Từ ý thơ trên em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 300 từ ,) trình bày suy nghĩ về tnh mẹ trong cuộc đời của mỗi con người. Gợi ý đề 1: Đây là kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí ( Cụ thể là nghị luận về một vấn đề đặt ra trong một tác phẩm văn học ) Dàn ý chung :
- a .Mở bài : Dẫn dắt Nêu vấn đề cần bàn luận : b .Thân bài : * Trong phần thân bài, cần phải đảm bảo được đầy đủ những ý sau: Ý 1: Tóm tắt nội dung đoạn thơ nội : " Chân phải bước tới cha .Con đường cho những tấm lòng": - Đoạn thơ nằm ở phần đầu trong bài thơ “ Noí với con” của nhà thơ Y Phương viết về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người - đó là gia đình và quê hương. Ý 2: Giải thích khái niệm "quê hương": có thể hiểu khái quát là nơi ta sinh ra, lớn lên, có gia đình, kỉ niệm thời thơ - Quê hương với gia đình ấm áp yêu thương; với những con người tài hoa, có tâm hồn lãng mạn; cũng là quê hương với thiên nhiên thơ mộng, nghĩa tình: "Rừng cho hoa - Con đường cho những tấm lòng". Ý3 : Chứng minh làm sáng tỏ vấn đề : (Vai trò, ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người) - Mỗi con người đều gắn bó với quê hương, mang bản sắc, truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của quê hương. Chính vì thế, tình cảm dành cho quê hương ở mỗi con người là tình cảm có tính chất tự nhiên, sâu nặng. - Quê hương luôn bồi đắp cho con người những giá trị tinh thần cao quí: tình làng nghĩa xóm. tình yêu quê hương, gia đình sâu nặng... - Quê hương luôn là điểm tựa vững vàng cho con người trong mọi hoàn cảnh, là nguồn cổ vũ, động viên, là đích hướng về của con người. (Lưu ý: HS lấy dẫn chứng trong đời sống, trong văn học để chứng minh) Ý4 Phê phán mặt trái : Ý 5: Trách nhiệm của mỗi con người: - Tình yêu quê hương, gia đình luôn gắn liền với tình yêu đất nước. Cần hướng về quê hương, song không có nghĩa là chỉ hướng về mảnh đất nơi mình sinh ra, mà phải biết tôn trọng và yêu quí tất cả những gì thuộc về Tổ quốc. - Xây đắp, bảo vệ, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người. Ý 5: Bài học nhận thức và hành động - Là HS, ngay từ bây giờ phải tu dưỡng đạo đức, tích lũy kiến thức để sau này góp một phần nhỏ vào công cuộc dựng xây, và bảo vệ quê hương đất nước. - Cần có thái độ phê phán những người có hành động, suy nghĩ chưa tích cực đối với quê hương: chê quê hương nghèo khó, lạc hậu; không có ý thức xây dựng quê hương, thậm chí quay lưng, phản bội quê hương, xứ sở.. c.Kết bài : KĐVĐNL.. Gợi ý đề 2: *Phân tích đề: Để làm được đề bài này, học sinh cần xác định đúng các yêu cầu sau: - Kiểu bài: Nghị luận xã hội (nghị luận về một vườn đề tư tưởng đạo lí). - Nội dung: Vẻ đẹp (ý nghĩa) của tình mẹ trong cuộc đời mỗi con người. - Phạm vi: Những hiểu biết và suy nghĩ của cá nhân về tình mẹ trong cuộc sống của mỗi người. * Tìm ý và lập dàn ý: - Dựa trên nội dung bài thơ “Con cò”, đặc biệt là hai câu thơ mang ý nghĩa triết lí sâu sắc khẳng định tình mẹ bao la, bất diệt. Trước mẹ kính yêu, con dù có
- khôn lớn trưởng thành nh thế nào đi chăng nữa thì vẫn là con bé nhỏ của mẹ, rất cần và luôn được mẹ yêu thương, che chở suốt đời. - Khẳng định vai trò của mẹ trong cuộc sống của mỗi người (ý chính): Mẹ là người sinh ra ta trên đời, mẹ nuôi nấng, chăm sóc, dạy dỗ chúng ta. Mẹ mang đến cho con biết bao điều tuyệt vời nhất: nguồn sữa trong mát, câu hát thiết tha, những nâng đỡ, chở che, những yêu thương vỗ về, mẹ là bến đỗ bình yên của cuộc đời con, là niềm tin, là sức mạnh nâng bước chân con trên đường đời, Công lao của mẹ như nước trong nguồn, nước biển Đông vô tận. (D/c) - Phê phán những biểu hiện, những thái độ, hành vi chưa đúng với đạo lí làm con của một số người trong cuộc sống hiện nay: cãi lại cha mẹ, ham chơi, làm những việc vi phạm pháp luật để mẹ lo lắng, đau lòng Có thể phê phán tới cả những hiện tượng mẹ ruồng rẫy, vất bỏ con, cha làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ - Mỗi chúng ta cần phải làm gì để đền đáp công ơn của mẹ? Cuộc đời mẹ không gì vui hơn khi thấy con mình mạnh khoẻ, chăm ngoan, giỏi giang và hiếu thảo. Mỗi chúng ta cần rèn luyện, học tập và chăm ngoan để mẹ vui lòng: vâng lời, chăm chỉ, siêng năng, học giỏi, biết giúp đỡ cha mẹ (d/c) - Liên hệ, mở rông đến những tình cảm gia đình khác: tình cha con, tình cảm của ông bà và các cháu, tình cảm anh chị em để khẳng định đó là những tình cảm bền vững trong đời sống tinh thần của mỗi người. Vì vậy mỗi chúng ta cần gìn giữ và nâng niu. Tình cảm gia đình bền vững cũng là cội nguồn sức mạnh dựng xây một xã hội bền vững, đẹp tươi. C.Bài tập tổng hợp Bài tập 1:Viết một bài văn (khoảng 300 từ) trình bày suy nghĩ của em về câu nói sau: “Bạn càng giúp người khác nhiều, người khác càng muốn giúp bạn nhiều” (Brian Tracy). Gợi ý: Mở bài: Dẫn dắt một cách tự nhiên, ngắn gọn, trúng vấn đề cần bàn luận. Bạn chỉ có thể có nhiều yêu thương hơn cho mình bằng cách trao đi yêu thương Thân bài: Giải thích từ ngữ: - “chỉ có thể” : Điều kiện, giả thiết được nêu lên. “trao đi”: Chia sẻ, giúp đỡ,san sẻ . - Ý kiến trên là một lời khuyên về sống trách nhiệm, sống yêu thương: chia sẻ yêu thương để nhận được tình yêu thương. Bàn luận vấn đề: - Đây là một lời khuyên đúng về cách sống, cách ứng xử. Tác giả đã có cách nói uyển chuyển, hợp lí, đặt ra vấn đề về tính chủ động, tự nguyện trong chia sẻ “trao đi” rồi sẽ nhận về “có nhiều yêu thương hơn” - Thí sinh lí giải được: Vì sao cuộc sống này cần phải “trao” yêu thương? Bạn sẽ được gì khi biết chia sẻ, giúp đỡ người khác bằng tình yêu thương? Mối quan hệ giữa “cho đi” và “nhận về”? Biểu hiện của “trao đi” và “nhận về”
- Biểu hiện rất phong phú và thường gặp: Giúp đỡ, chia sẻ.., đón nhận về vật chất và tình cảm; “cho” và “nhận” lời khuyên, cơ hội, cho của cải vật chất...Cá nhân giúp đỡ cá nhân, cộng đồng giúp đỡ cá nhân và ngược lại... Giữa cho và nhận có mối quan hệ biện chứng, có tính nhân quả. Khi biết chia sẻ, giúp đỡ người khác chúng ta sẽ nhận về niềm vui, sự thanh thản của tâm hồn, sự biết ơn và tôn trọng của người khác. Trong cuộc sống, cho đi không đồng nghĩa với mất đi mà cho cũng là nhận. Mở rộng vấn đề: - Trong cuộc sống, cần học cách cho đi và biết cách nhận về sẽ làm cho mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng tốt đẹp hơn. Ông cha mình từng dạy cháu con về văn hóa ứng xử: Cách cho hơn của cho. - Trong xã hội hiện nay, do tác động tiêu cực của mặt trái của nền kinh tế thị trường nên nhiều người có lối sống ích kỷ, sống thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức xây dựng. Cuộc sống của một bộ phận xã hội thiên về hưởng thụ hơn là cống hiến, vì mình nhiều hơn vì người. Chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, sống ích kỉ, vô cảm trước nỗi đau, điều thua thiệt của đồng loại, bỏ qua, xem nhẹ ý thức cộng đồng, trách nhiệm sẻ chia. Đây là cách sống, cách ứng xử cần lên án, phê phán Bài học nhận thức và hành động: Chúng ta cần ý thức sâu sắc quy luật cho và nhận. Tu dưỡng, rèn luyện bản thân để có nhiều cơ hội giúp đỡ người khác nhiều hơn vì giúp người cũng là giúp mình. Biết hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ, hi sinh và đón nhận. Có ý thức xây dựng văn hóa biết ơn, sẻ chia, trách nhiệm cộng đồng. Kết bài: Khái quát, khẳng định lại vấn đề nghị luận, gợi mở suy nghĩ cho người đọc về chủ đề được bàn luận. D-Bài tập về nhà: 1.Suy nghĩ của em về ý kiến: “Tôi thà thất bại trong danh dự còn hơn là thắng nhờ gian lận” (Sophocles). 2.Viết một đoạn văn “khoảng 200 từ” bàn về ý nghĩa của việc sống biết điều với nhau trong cuộc sống

