Chuyên đề truyện Trung Đại Ngữ văn 9

docx 28 trang baochau 27/10/2025 1430
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Chuyên đề truyện Trung Đại Ngữ văn 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxchuyen_de_truyen_trung_dai_ngu_van_9.docx

Nội dung tài liệu: Chuyên đề truyện Trung Đại Ngữ văn 9

  1. CHUYÊN ĐỀ TRUYỆN TRUNG ĐẠI Bài 1: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG – NGUYỄN DỮ. A. KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1. Tác giả: - Nguyễn Dữ - có sách phiên âm là Nguyễn Tự (chưa rõ năm sinh - năm mất). - Người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. - Ông là học trò của Tuyết Giang Phu Tử - Nguyễn Bỉnh Khiêm. - Ông sống ở thế kỉ XVI là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc Trịnh tranh giành quyền bính, gây ra các cuộc nội chiến kéo dài. - Nguyễn Dữ là một người học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan có một năm rồi xin về quê nuôi mẹ già và viết sách, sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời khác. 2. Tác phẩm: - “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong hai mươi truyện của “Truyền kì mạn lục”. - Truyền kì mạn lục (ghi chép tản mạn những chuyện kỳ lạ được lưu truyền ) là tác phẩm được viết bằng chữ Hán. Tác phẩm này có chịu ảnh hưởng của truyện truyền kỳ Trung Quốc - một thể loại truyện thường có yếu tố kỳ lạ, hoang đường. Nhưng điểm khác là Nguyễn Dữ đã biết khai thác các truyện cổ dân gian, các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam để sáng tạo ra tác phẩm của mình. - Nhân vật chính của truyện thường là những người phụ nữ bất hạnh, khao khát hạnh phúc nhưng bị các thế lực bạo tàn và cả lễ giáo khắc nghiệt xô đẩy vào hoàn cảnh éo le, oan khuất và bất hạnh. 3. Tóm tắt: Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính tình thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp nên được Trương Sinh đem lòng yêu mến liền xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi nên, Vũ Nương hết mực giữ gìn khuôn phép. Bấy giờ, đất nước có chiến tranh, Trương Sinh phải lên đường đi lính. Vũ Nương ở nhà sinh nuôi dạy con và chăm sóc mẹ già, lo ma chay chu đáo khi mẹ chồng mất. Khi Trương Sinh trở về, bế con ra mộ thăm mẹ thì hiểu lầm rằng vợ có người khác. Vũ Nương chịu oan khuất biết không thể rửa sạch liền nhảy xuống sông tự vẫn. Một đêm nọ, Trương Sinh bế con ngồi trước ngọn đèn, thấy đứa bé chỉ vào cái bóng mình bảo đấy là cha mới nhận ra mình đã hiểu lầm vợ, hối hận cũng đã muộn. Cùng làng có người tên là Phan Lan vì cứu Linh
  2. Phi trước đó nên khi gặp nạn chết đuối đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp Vũ Nương ở thủy cung. Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gửi theo chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh. Trương Sinh lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện ra giữa dòng ngồi trên chiếc kiệu hoa đa tạ chàng rồi biến mất. 4. Ý nghĩa nhan đề: “Truyền kì mạn lục” bao gồm 20 truyện. Đa số các chuyện đều được bắt đầu bằng chữ “chuyện” hay “câu chuyện” và “Chuyện người con gái Nam Xương” cũng vậy. Nhưng đây không phải là một yếu tố thừa mà qua đó người đọc hiểu được đây là câu chuyện kể về một người con gái ở Nam Xương. Đưa cụm từ “người con gái” lên nhan đề của tác phẩm, Nguyễn Dữ muốn cho người đọc thấy được nhân vật trung tâm của truyện là một người phụ nữ. Tuy nhiên, nhà văn lại đặt một cách phiếm chỉ “người con gái Nam Xương” chứ không phải là “Chuyện người con gái Vũ Nương” hay “Chuyện người con gái Vũ Thị Thiết” nhằm khẳng định đây không phải là câu chuyện của riêng Vũ Nương. Mà còn là câu chuyện chung của những người phụ nữ trong xã hội xưa. Cuộc đời của nàng Vũ Nương chỉ là đại diện cho những người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ. Qua nhân vật này, nhà văn cũng gửi gắm những giá trị nhân đạo cao quý. Đầu tiên là sự trân trọng đối với những ước mơ chính đáng, khát vọng cao đẹp như: khát vọng được hạnh phúc, ước mơ về sự công bằng trong xã hội. Tiếp theo là niềm xót thương, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với số phận của người phụ nữ. Không chỉ vậy, nhà văn cũng lên án, phê phán, tố cáo xã hội phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con người. Cuối cùng là lời khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Quả là một nhan đề có tính khái quát cao. 5. Nội dung: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác phẩm đã thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến xưa . 6. Nghệ thuật: - Các yếu tố tưởng tượng, kì ảo - Nghệ thuật dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình 7. Chủ đề: Số phận oan nghiệt của người phụ nữ có nhan sắc, đức hạnh dưới chế độ phong kiến. B. MỘT SỐ DẠNG ĐỀ LUYỆN TẬP: 1. Dạng đề 1-2 điểm: Đề 1(1đ): : Viết một đoạn văn ngắn tóm tắt chuyện Người con gái Nam Xương
  3. Định hướng làm bài: HS viết đoạn văn ngắn đảm bảo các ý chính của Văn bản Vũ Nương là người con gái thuỳ mị, nết na. Chàng Trương là con gia đình hào phú vì cảm mến đã bỏ trăm lạng vàng cưới làm vợ. Cuộc sống gia đình đang xum họp đầm ấm, xảy ra binh đao, Trương Sinh phải đi lính, nàng ở nhà nuôi con ,phụng dưỡng mẹ già,ma chay tử tế khi mẹ mất. Khi Trương Sinh về nghe lời con nhỏ nghi vợ không chung thủy. Chàng nổi máu ghen, mắng nhiếc vợ thậm tệ, rồi đánh đuổi đi. Vũ Nương thanh minh không được, nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn.Đêm đến đứa con chỉ cái bóng trên vách, chàng hiểu ra nỗi oan của vợ.Vũ Nương được Linh Phi cứu,gặp Phan Lang dưới động Rùa, nàng gửi lời nhắn cùng chiếc thoa vàng cho chồng.Trương Sinh đã lập đàn giải oan ,Vũ Nương trở về thoắt ẩn thoắt hiện rồi biến mất. Đề2: Ý nghĩa của các yếu tố kỳ ảo trong "Chuyện người con gái Nam Xương". Gợi ý: a. Mở đoạn: - Giới thiệu khái quát về đoạn trích. b. Thân đoạn: - Các yếu tố kỳ ảo trong truyện: + Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa. + Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được cứu giúp, gặp lại Vũ Nương, được xứ giả của Linh Phi rẽ đường nước đưa về dương thế. + Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh, huyền ảo rồi lại biến đi mất. - Ý nghĩa của các chi tiết kỳ ảo. + Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương: Nặng tình, nặng nghĩa, quan tâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự. + Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện. + Thể hiện ước mơ về lẽ công bằng ở đời của nhân dân ta. c. Kết đoạn: - Khẳng định ý nghĩa của yếu tố kỳ ảo đối với truyện. Đề 3 (2đ): Viết đoạn văn giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ và Chuyện Người con gái Nam Xương trong đó có sử dụng các phép nối và chỉ rõ phép liên kết đó. Định hướng làm bài: HS viết thành một đoạn văn có sử dụng phép nối nêu được những hiểu biết về tác giả Nguyễn Dữ và chuyện Người con gái Nam Xương một cách ngắn gọn gồm những thông tin chính sau: Tên, năm sinh mất, quê quán; phong cách chính,tên Tp,nội dung chính,nt đặc sắc.
  4. -GV cho hs viết đoạn văn,một số em trình bày, hs khác nhận xét,bổ sung Đề 4: (5,0 điểm):Cảm nhận về vẻ đẹp nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2017 -GV hướng dẫn hs thực hiện theo các bước:Tìm hiểu đề,tìm ý,lập dàn bài.luyện viết đoạn mở, bài,đoạn thân bài..thành bài Định hướng làm bài: * MB:Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận * TB: Vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương -Vẻ đẹp ngoại hình: Vũ Nương là người phụ nữ “tư dung tốt đẹp” -Vẻ đẹp tâm hồn ,tính cách: +Vũ Nương là người vợ thủy chung ,son sắc,hết lòng vì chồng con,lo vun vén hạnh phúc gia đình.. +Một người mẹ yêu thương con + Một người con dâu hiếu thảo +Một người trọng nhân phẩmvà tình nghĩa,Vũ Nương đã chọn cái chết để tự minh oan cho mình,để bảo vệ nhân phẩm của người phụ nữ * Đánh giá về nhân vật: -Vũ Nương là hiện thân cho vẻ đẹp của Người Phụ nữ Việt Nam:Công ,dung,ngôn,hạnh. - Đồng thời cũng là hiện thân cho số phận người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến-xã hội bất công phi nhân đạo đã tước đoạt và chà đạp lên quyền sống, hạnh phúc của con người * Đánh giá nâng cao: - Qua số phận bi kịch của Vũ Nương, tác giả lên án sự trái ngang của xã hội để đòi quyền sống hạnh phúc cho người phụ nữ. - Thể hiện thái độ yêu thương, xót xa, thông cảm với nỗi khổ đau bất hạnh của nàng Vũ Nương, của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. * KB : Khẳng định lại vấn đề NL Đề 5: Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ. * Gợi ý: a. Mở bài:
  5. - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm. - Vẻ đẹp, đức hạnh và số phận của Vũ Nương. b. Thân bài: - Vũ Nương là người phụ nữ đẹp. - Phẩm hạnh của Vũ Nương: + Thuỷ chung, yêu thương chồng (khi xa chồng ...) + Mẹ hiền (một mình nuôi con nhỏ ...) + Dâu thảo (tận tình chăm sóc mẹ già lúc yếu đau, lo thuốc thang ...) - Những nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ Nương. + Cuộc hôn nhân bất bình đẳng. + Tính cách và cách cư xử hồ đồ, độc đoán của Trương Sinh. + Tình huống bất ngờ (lời của đứa trẻ thơ ...) - Kết cục của bi kịch là cái chết oan nghiệt của Vũ Nương. - Ý nghĩa của bi kịch: Tố cáo xã hội phong kiến. - Giá trị nhân đạo của tác phẩm. b. Kết bài: - Khẳng định lại phẩm chất, vẻ đẹp của Vũ Nương. - Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Đề 6 (5điểm ) Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ Hướng dẫn HS Làm bài 1.Mở bài: - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.và nhân vật Vũ Nương Nguyễn Dữ là người học rộng tài cao ôm ấp lí tưởng hành đạo, một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học VN thế kỷ XVI.Chuyện Người con gái Nam Xương là truyện thứ 16/20 của truyền kì mạn lục tác phẩm tiêu biểu nhất của ông đã để lại ấn tượng cho người đọc qua cuộc đời Vũ Nương-một người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp nhưng lại phải chịu số phận bất hạnh. 2.Thân bài:Nhận xét,đánh giá về những phẩm chất tốt đẹp và số phận của nhân vật:
  6. Câu văn chuyển tiếp giới thiệu nghệ thuật xây dựng cốt truyện , xây dựng , miêu tả nhân vật ... Luận điểm 1: Vũ Nương là người phụ nữ có nhan sắc,đức hạnh, thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa vợ chồng: *Giới thiệu Vũ Nương +Mở đầu tác phẩm, tác giả đã giới thiệu Vũ Nương là người phụ nữ “ thuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” Trương Sinh đưa trăm lạng vàng hỏi nàng về làm vợ cuộc hôn nhân mang tính mua bán +Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”. Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui. Nàng là một người vợ hiền thục, khôn khéo, nết na đúng mực! * Khi tiễn chồng đi lính : Nành là người vợ ân tình , đằm thắm Trương Sinh phải đi lính đầu quân ra trận ở biên ải xa xôi. Buổi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “ Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Ước mong của nàng thật bình dị, lời lẽ dịu dàng ấy, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình mà xem thường mọi công danh phù phiếm. Nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng.”.Qua lời nói dịu dàng, nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng,cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”. Đúng là lời nói, cách nói của một người vợ hết mực thùy mị, dịu dàng. Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng biết bao! * Khi xa chồng Vũ nương là một người vợ thủy chung- Thương nhớ chồng ,người mẹ yêu thương con , nàng dâu hiếu thảo và luôn khao khát cuộc sống hạnh phúc gia đình + Vũ Nương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữ trọn tấm lòng thủy chung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưa hề bén gót”. Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn,mây che kín núi,thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ. Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy
  7. của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay: Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng. + Nàng sinh con đặt tên là Đản : Chăm sóc , nuôi dưỡng con thơ , nhớ chồng , đùa vui vơi con qua chi tiết nghệ thuật cài chiếc bóng ... Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ : để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha.và sau đó cũng là bi kịch cho cuộc đời nàng . + Chăm sóc mẹ chồng khi ốm đau , lo ma chay tế lễ khi mẹ chồng qua đời . Công đức ấy được mẹ chồng ghi nhận, đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình chồng . *Giặc tan Trương Sinh trở về, bi kịch cái chết oan khuất của Vũ Nương - Ngày Trương Sinh trở , ghen tuông mù quáng hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ: Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn. Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần. “Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu.....cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.....” Những lời nói tha thiết đó cho thấy thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, niềm mong muốn gìn giữ gia hạnh phúc trong ấm ngoài êm yên bề gia thất của Vũ Nương.Nhưng đó cũng là lúc bi kịch cuộc đời nàng xảy ra. Câu chuyện của bé Đản, đứa con trai vừa lên ba tuổi, về “ một người đàn ông đêm nào cũng đến” đã làm cho Trương Sinh nghi ngờ. Với bản tính hay ghen cộng thêm tính gia trưởng, thất học, Trương Sinh đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” mặc cho Vũ Nương hết sức phân trần, mặc cho “hàng xóm can ngăn cũng chẳng ăn thua gì”. Nàng đau khổ đến xé lòng “nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió”, “khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa ” Bi kịch dâng tràn đến đỉnh điểm, Vũ Nương phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của chính mình! Còn gì đớn đau, còn gì bi thương hơn thế?Dù khao khát được sống nhưng với nàng nhân phẩm và danh dự con người lớn hơn tất cả.Nàng thà chết chứ quyết không chịu mang tiếng nhuốc nhơ,người đời phỉ nhổ.Hành động tự vẫn là sự phản kháng quyết liệt cuối cùng của nàng bởi Vũ Nương đâu còn có sự lựa chọn nào khác. Cái chết oan khuất của Vũ Nương chính là lời tố cáo đanh thép chế độ phong kiến bất công,vô lí đã cướp đi mất quyền sống,quyền hưởng hạnh phúc chính đáng của con người .Đó cũng là số phận chung cho người phụ nữ dưới chế độ phong kiến *Nàng là người lòng vị tha . Rồi những năm tháng sống ở chốn làng mây cung nước sung sướng nàng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ chồng con. Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đã ứa nước
  8. mắt xót thương. Mặc dù đã nặng lời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàng vẫn tìm cách trở về với chồng con trong giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng. Rõ ràng trong trái tim người phụ nữ ấy, không bợn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương và lòng vị tha. Luận điểm 2: Đánh giá khái quát về nhân vật: Bằng cách kể chuyện tự nhiên,hấp dẫn,sinh động,kết hợp kể,tả,biểu cảm,đan xen yếu tố kì ảo Nguyễn Dữ đã xây dựng thành công nhân vật Vũ Nương,một người phụ nữ đẹp người,đẹp nết nhưng phải chịu số phận oan nghiệt. Nàng là hiện thân cho vẻ đẹp của người phụ nữ đó là Công - dung - ngôn - hạnh. Đồng thời Vũ Nương cũng là hiện thân cho số phân bi thương, bất công của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến thối nát, bất công , ngang trái tàn bạo chà đạp cướp đoạt quyền sống của con người “ Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mện cũng là lời chung “ 3. Kết bài : Khẳng định lại vấn đề nghị luận và bày tỏ ấn tượng sâu sắc về nhân vật. Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đó khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp với những nghệ thuật đặc sắc, vị trí tác phẩm ... NGUYỄN DU - TRUYỆN KIỀU A. KIẾN THỨC CƠ BẢN: I. TÁC GIẢ NGUYỄN DU (1765-1820) ? Nêu những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời của Nguyễn Du? 1. Thời đại: ? Thời đại mà Nguyễn Du sống là thời đại như thế nào? - Nguyễn Du sống trong một thời đại đầy biến động dữ dội. Lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.  Nguyễn Du là nạn nhân và chứng nhân của những biến cố lịch sử đó. 2. Quê hương - Gia đình, dòng họ: * Quê hương: - Xã Tiên Điền- Huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh. - Có truyền thống văn hoá, có nhiều làn điệu dân ca: Ví dặm, ca trù... - Có nhiều người tài: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Hành... - Có phong cảnh hữu tình: Núi Hồng sông La.
  9. * Dòng họ: - Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình đại quí tộc, có nhiều đời làm quan to và có truyền thống văn học. - Dân gian vùng Tiên Điền Nghi Xuân, Hà Tĩnh từng có câu ca về dòng họ của Nguyễn Du: Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan. Trong An Nam Ngũ Tuyệt (năm người xuất sắc nhất nước Nam) thì dòng họ Nguyễn Du chiếm tới hai người là Nguyễn Du và Nguyễn Hành. 3. Cuộc đời. ? Trình bày những nét chính về cuộc đời của Nguyễn Du? - Sống trong thời đại đầy bão táp, cuộc đời của Nguyễn Du cũng gặp nhiều gian truân, thăng trầm: 9 tuổi mất cha, 12 tuổi mất mẹ, sống với anh trai là Nguyễn Khản. - Từ 1765- 1786 cuộc sống của Nguyễn Du đầy đủ, sung sướng, được học hành chu đáo. Truyền thống gia đình cùng với ý thức ham hiểu biết, tư chất thông minh đã giúp Nguyễn Du chiếm lĩnh được khối lượng tri thức trong sách vở rất đồ sộ. - 1786-1796: Khi quân Tây Sơn tấn công ra Bắc-> Ông phò Lê chống lại Tây Sơn nhưng không thành-> Thành Thăng Long bị đốt, tư dinh của Nguyễn Khản cháy-> gia đình của Nguyễn Du tan nát cùng với triều đình nhà Lê-> Nguyễn Du lưu lạc ra đất Bắc sống nhờ ở nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn (10 năm) GV: Từ một cậu ấm cao sang, thế gia vọng tộc, từ một viên quan nhỏ đầy lòng hăng hái lại phải rơi vào tìh cảnh sống nhờ. Mười năm ấy tâm trạng của Nguyễn Du vừa ngơ ngác vừa buồn chán, hoang mang bi phẩn-> đây là những năm tháng ông sống rất đau khổ. - 1796 ông định vào Nam theo Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn nhưng không thành (bị bắt giam 3 tháng rồi thả) - 1796-1802: Lui về ở ẩn tại quê nhà => Là một bề tôi trung thành của nhà Lê, Nguyễn Du bất hợp tác với nhà Tây Sơn. Sau khi Nguyễn Ánh đánh bại triều Tây Sơn -> lên ngôi. Trọng Nguyễn Du là người có tài nên Nguyễn Ánh đã mời ông ra làm quan. Từ chối không được, ông đành bất đắc dĩ ra làm quan cho Triều Nguyễn: - 1802; Làm quan tri huyện Bắc Hà. - 1805-1808: Làm quan ở Kinh đô Huế.
  10. - 1809: Làm quan cai bạ tỉnh Quảng Trị. - 1813 được thăng chức Hữu Tam Tri bộ lễ, đứng đầu một phái đoàn đi sứ sang Trung Quốc (1913-1914) - 1820: Chuẩn bị đi sứ Trung Quốc lần thứ hai-> ông nhiễm bệnh, ốm -> mất ở Huế. An táng tại cánh đồng Bàu đá - Thừa Thiên Huế. - 1924: Con trai ông là Nguyễn Ngũ xin nhà vua mang thi hài của ông về an táng tại quê nhà GV nói thêm: Nguyễn Du là người học rộng biết nhiều. Do những biến cố lịch sử xã hội nên cuộc đời ông có nhiều thăng trầm, phải sống nhiều nơi nên có điều kiện tiếp xúc với nhiều con người, nhiều cảnh đời, nhiều số phận khác nhau, nhiều oan khuất cơ cực của quần chúng nhân dân đã giúp Nguyễn Du có một vốn sống phong phú, cảm thông sâu sắc với những nổi thỗng khổ của nhân dân bằng trái tim giàu lòng nhân ái -> ảnh hưởng rất lớn đến những sáng tác của ông. ? Từ gia đình, thời đại, cuộc đời đã kết tinh ở Nguyễn Du một con người như thế nào? Kết luận: Từ gia đình, thời đại, cuộc đời đã kết tinh ở Nguyễn Du một thiên tài kiệt xuất. Với sự nghiệp văn học có giá trị lớn. Ông là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hoá thế giới, có sự đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam. - Nguyễn Du còn là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt - Là ngôi sao chói lọi trong nền văn học Việt Nam. 4. Sự nghiệp sáng tác: ? Nêu sự nghiệp sáng tác thơ văn của Nguyễn Du? a. Thơ chữ Hán: * Thanh Hiên thi tập: (1787-1801) Đây là tập thơ được viết trong khoảng thờ gian Nguyễn Du ở ẩn tại quê nhà. Nội dung của tập thơ phản ánh một quảng đời đau khổ, đau buồn của ông. Nổi đau không chỉ có đói khổ mà còn là sự bế tắc cùng quẩn. * Nam Trung tạp ngâm (1805-1812) Đây là tập thơ được ông làm trong khoảng thời gian làm quan với Triều Nguyễn. * Bắc hành tạp lục: (1813-1814) Được viết trong khoảng thời gian ông đi sứ sang Trung Quốc (1813-1814). Nội dung phản ánh hiện thực xã hội phong kiến Trung Quốc-> Thể hiện nổi thương xót và đau khổ của con người. b. Thơ văn chữ Nôm:
  11. - Truyện Kiều -> Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột) - Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) - Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu. - Thác lời trai phường Nón. II. TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU. 1. Nguồn gốc, đề tài. ? Truyện Kiều có nguồn gốc từ đâu? Nguyễn Du dựa vào cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân - Trung quốc. => Toàn bộ câu chuyện, diễn biến, nhân vật được giữ nguyên, nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là rất lớn - đó là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của Truyện Kiều. Đó là sự sáng tạo của một thiên tài. Đến nay, Truyện Kiều được coi là đỉnh cao của văn học Việt Nam, được mọi thế hệ ngưởng mộ, yêu thích và đó là tác phẩm được các nhà nghiên cứu mọi thời đại khai thác không bao giờ cạn. Và Nguyễn Du được coi là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. - Kim Vân Kiều Truyện:- chỉ là một câu chuyện tình ở Trung Quốc không mấy nổi tiếng. Thể loại: Tiểu thuyết chương hồi - Gồm 20 hồi. - Truyện Kiều: - Tập trung vào đề tài người phụ nữ -> Tấm lòng nhân đạo. - Truyện Nôm (Truyện Kiều có nhiều bản khác nhau. Bản được dùng phổ biến nhất dài 3254 câu thơ lục bát mang tính chất tiểu thuyết bằng thơ. 2. Giá trị của Truyện Kiều. ? Truyện Kiều có những giá trị gì? a. Giá trị nội dung: ? Cho biết giá trị nội dung của Truyện Kiều? Giá trị hiện thực. Gía trị nhân đạo.  Giá trị hiện thực: Truyện Kiều đã mô tả một cách chân thực và sâu sắc XHPK thối nát thời cuối Lê đầu Nguyễn đã chà đạp lên quyền sống của con người, đặc biệt là đối với những người phụ nữ tài sắc: - Cả ba tên quan lại xuất hiện trong Truyện Kiều đều giống nhau một điểm là chà đạp lên lẽ phải và đẩy người vô tội đên bước đường cùng.
  12. - Truyện Kiều cũng lên án mạnh mẽ thế lực đồng tiền mà chủ yếu là đồng tiền trong tay bọn quan lại, bọn buôn thịt bán người, bọn ma cô chủ chứa đã biến con người thành nạn nhân của đồng tiền. Quan lại vì tiền mà hành hạ người dân vô tội, nho sĩ vì tiền mà lưu manh hoá, bọn buôn thịt bán người vì tiền mà tìm đủ mọi cách đẩy người phụ nữ tài sắc vào chốn lầu xanh. Đồng tiền làm cho xã hội điêu đứng, làm cho con người bị tha hoá biến chất "Dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì" Đồng tiền giẫm lên lương tâm con người và xoá mờ công lí: "Có ba trăm lạng việc gì chẳng xong" " Máu tham hễ thấy hơi đồng là mê". => Truyện Kiều đă tố cáo gay gắt, phản kháng quết liệt mọi thủ đoạn tàn nhẫn, bất công chà đạp lên nhân phẩm của con người, nói lên lòng xót thương vô hạn của Nguyễn Du trước số phận, những bi kịch của những người bị áp bức, nhất là người phụ nữ.  Giá trị nhân đạo: ? Trình bày những giá trị nhân đạo của Truyện Kiều? * Thông cảm, thấu hiểu, đồng cảm với nổi khổ của con người – nhất là người phụ nữ, đó là tiếng khóc đau đớn trước số phận bi kịch của con người: + Tình yêu tan vỡ. + Tình cốt nhục lìa tan (Bán mình chuộc cha -> Nhân phẩm bị chà đạp, thân xác bị đày đoạ. Bản thân trở thành món hàng -> mặc cả mua bán. -> Làm vợ lẽ -> bị đánh ghen -> làm hoa nô. -> Làm gái lầu xanh: "Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần" Những nổi đau đớn của cuộc đời Kiều được tác giả thấu hiểu và thông cảm - và đó cũng chính là nổi đau của tác giả. * Truyện Kiều còn đề cao vẻ đẹp con người từ vẻ đẹp hình thức đến vẻ đẹp tâm hồn, khẳng định tài năng đến những ước mơ, và những khát vọng chân chính của họ, hướng tới những giải pháp xã hội đem lại công bằng hạnh phúc cho con người. - Ngoại hình: Thuý Kiều là hiện thân cho vẻ đẹp của người phụ nữ: đẹp sắc sảo, mặn mà. Vẻ đẹp làm say đắm lòng người. - Tài: Thuý Kiều: cầm, kì, thi, hoạ. - Phẩm chất đạo đức: hiếu thảo, thuỷ chung, trọng ân nghĩa, khoan dung, độ lượng, nhân hậu, vị tha => Nhân vật lí tưởng.
  13. * Truyện Kiều còn bênh vực cho con người - đứng về phía nhân dân lên án, tố cáo xã hội phong kiến. - Mở lối thoát cho con người (Để cho Kim Trọng xuất hiện: đó là một con người thông minh tài hoa, là người chung thuỷ cao thượng, khát khao công lí tự do, đồng thời còn là người khoan dung độ lượng. * Truyện Kiều là bài ca về tình yêu tự do, trong sáng thuỷ chung. Bước chân "Xăm xăm băng lối vườn khua một mình" của Kiều đến với Kim Trọng đã phá vỡ những quy tắc thánh hiền về sự cách biệt nam nữ trong XHPK. * Truyện Kiều là giấc mơ về tự do, công lí- thông qua hình tượng Từ Hải, Nguyễn Du gửi gắm ước mơ anh hùng "đội trời đạp đất" làm chủ cuộc đời. Trả ân báo oán, thực hiện công lí. b. Giá trị nghệ thuật: ? Truyện Kiều có giá trị nghệ thuật như thế nào? * Truyện Kiều là sự kết tinh nghệ thuật văn học dân tộc trên tất cả các phương diện: Ngôn ngữ, thể loại. * Ngôn ngữ thơ ca: - Ngôn ngữ bình dân. - Ngôn ngữ văn chương bác học. => Ngôn ngữ trong Truyện Kiều nhuần nhuyễn, điêu luyện: “Ngôn ngữ trong Truyện kiều như được làm bằng ánh sáng “- Xuân Diệu. “Ngôn ngữ trong Truyện Kiều như có vị mật ong”- Nguyễn Đình Thi. Ngôn ngữ trong truyện Kiều ngọt ngào, trong sáng -> Nguyễn Du đã đưa ngôn ngữ văn học dân tộc lên đỉnh cao vinh quang. * Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật - Miêu tả ngoại hình: Bút pháp ước lệ (nhân vật chính diện) Bút pháp tả thực: (nhân vật phản diện) - Miêu tả nội tâm nhân vật: Tả cảnh – tả tình (tả cảnh làm nền để xuất hiện tâm trạng nhân vật, có khi cảnh gắn với tâm trạng – mỗi cảnh sắc thiên nhiên gắn với một mảnh tâm trạng của nhân vật. - Độc thoại nội tâm - Lời tác giả và lời của nhân vật khác. * Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc. Từ nghệ thụât dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, con người. III CÁC DẠNG ĐỀ:
  14. Đề 1: Tóm tắt ngắn gọn tác phẩm Truyện Kiều trong 20 dòng. * Gợi ý:Tóm tắt truyện. Phần 1. Gặp gỡ và đính ước - Chị em Thúy Kiều đi chơi xuân, Kiều gặp Kim Trọng ( bạn Vương Quan ) quyến luyến. - Kim Trọng tìm cách dọn đến ở gần nhà, bắt được cành thoa rơi, trò chuyện cùng Thuý Kiều, Kiều- Kim ước hẹn nguyền thề. Phần 2. Gia biến và lưu lạc - Kim về hộ tang chú, gia đình Kiều gặp nạn. Kiều bán mình chuộc cha. - Gặp Thúc Sinh, Chuộc khỏi lầu xanh . Bị vợ cả Hoạn Thư đánh ghen, bắt Kiều về hành hạ trước mặt Thúc Sinh. - Kiều xin ra ở Quan Âm Các, Thúc Sinh đến thăm, bị Hoạn Thư bắt, Kiều sợ bỏ trốn ẩn náu ở chùa Giác Duyên. Kiều rơi vào tay Bạc Bà, rồi lại rơi vào lầu xanh lần hai. - Kiều gặp Từ Hải, được chuộc khỏi lầu xanh. Kiều báo ân báo oán. Bị mắc lừa HồTôn Hiến. Từ Hải chết. Kiều bị gán cho viên Thổ quan. Kiều nhảy xuống dòng Tiền Đường tự vẫn. Sư bà Giác Duyên cứu thoát về tu ở chùa. Phần 3. Đoàn tụ - Sau khi hộ tang trở về được gả Thúy Vân, Kim vẫn khôn nguôi nhớ Kiều, tìm kiếm Kiều. Kim lập đàn lễ, gặp Kiều, gia đình sum họp. Kiều không muốn nối lại duyên xưa. Chỉ coi nhau là bạn Đề 2: Nêu giá trị nội dung và nghệ thuật Tác phẩm Truyện Kiều - Nguyễn Du. * Gợi ý: 1. Nội dung: - Giá trị nhân đạo: Đề cao tự do, ước mơ đẹp về tình yêu; khát vọng công lí, khát vọng về quyền sống... Ca ngợi phẩm chất con người (Kiều: Đẹp, tài, trí, hiếu thảo, trung hậu, vị tha) - Giá trị hiện thực: Bức tranh hiện thực về một xã hội bất công. Tiếng nói lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người. 2. Nghệ thuật: - Truyện Kiều là sự kết tinh tthành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ thể loại (Văn học dân tộc; thể thơ lục bát; nghệ thuật tự sự ; Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên ; khắc hoạ tính cách , tâm lý con người). Đề 3: Giới thiệu những nét cơ bản về tác giả Nguyễn Du. * Gợi ý: 1. Bản thân. - Sinh 3.1.1766 (Năm Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng) Mất 16.9.1820. Tên chữ Tố Như hiệu Thanh Hiên. - Quê Tiên Điền, Nghi Xuân , Trấn Nghệ An. 10 tuổi mồ côi mẹ. - Là một trong năm người nổi tiếng đương thời.
  15. 2. Gia đình. - Đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống khoa bảng. Có thế lực bậc nhất lúc bấy giờ. - Cha là Nguyễn Nghiễm - nhà văn - nhà nghiên cứu sử học- nhà thơ và từng làm tể tướng. - Mẹ là Trần Thị Tần xuất thân dòng dõi bình dân, người xứ Kinh Bắc, là vợ thứ ba và ít hơn chồng 32 tuổi. -Thuở niên thiếu Nguyễn Du chịu nhiều ảnh hưởng của mẹ. 3. Thời đại. - Cuối Lê đầu Nguyễn - thời kì phong kiến Việt Nam suy tàn , giai cấp thống trị thối nát, đời sống xã hội đen tối, nhân dân nổi dậy khởi nghĩa. Khởi nghĩa Tây Sơn. 4. Cuộc đời. - Từng làm quan cho nhà Lê, chống lại Tây Sơn nhưng thất bại, định trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh nhưng không thành, bị bắt rồi được thả. - Sống lưu lạc ở miền Bắc, về quê ở ẩn, nếm trải cay đắng - Năm 1802 làm quan cho triều Nguyễn, tài giỏi được cử đi xứ sang Trung Quốc hai lần. 5. Sự nghiệp thơ văn. - Ông để lại một di sản văn hóa lớn cho dân tộc: + Thơ chữ Hán: Thanh Hiên Thi Tập, Bắc hành tạp lục, Nam Trung tạp ngâm. + Thơ chữ Nôm: Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều),Văn chiêu hồn,Văn tế sống hai cô gái trường lưu. 6. Tư tưởng tình cảm - Đối với những kẻ thuộc tầng lớp trên, tướng lĩnh hay quan lại cao cấp Nguyễn Du vạch trần tội ác của chúng. - Đối với những con người bất hạnh... ông dành hết tình thương đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Đoạn trích: CHỊ EM THUÝ KIỀU A/ TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1. Nội dung: - Khắc hoạ những nét riêng về nhan sắc tài năng, tính cách số phậnThuý Vân, Thuý Kiều. - Trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp của con người. 2. Nghệ thuật: - Bút pháp nghệ thuật ước lệ, lấy vẻ đẹp thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp con người. B/ CÁC DẠNG ĐỀ: Đề 1: Cảm nhận của em về đoạn trích "Chị em Thúy Kiều" (Trích "Truyện Kiều" Nguyễn Du). a. Mở bài. - Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích;
  16. - Cảm nhận chung về đoạn trích. b. Thân bài. * Bốn câu đầu.- Vẻ đẹp chung của hai chị em. - Nhịp điệu, hình ảnh được lựa chọn theo bút pháp ước lệ cổ điển “ Mai cốt cách.... mười phân vẹn mười” hoa, tuyết ước lệ cho người phụ nữ, người đẹp. Hình mảnh mai, sắc rực rỡ, hương quý phái. Tinh thần trắng trong, tinh khiết, thanh sạch. Hai vế đối nhau, câu thơ trở nên tao nhã gợi cảm. Âm điệu nhịp nhàng nhấn mạnh sự đối xứng làm nổi bật vẻ đẹp cân đối hoàn hảo của hai chị em. * 16 câu tiếp theo: - Vẻ đẹp của Thúy Vân và tài sắc của Thúy Kiều. - Bốn câu tả Thúy Vân. + Hình ảnh: Khuôn mặt đầy đặn, cân đối phúc hậu, suối tóc óng như mây, điệu cười, giọng nói đoan trang, làn da sáng hơn tuyết. Tác gỉa miêu tả Thúy Vân toàn vẹn bằng những nét ước lệ hình ảnh ẩn dụ thích hợp, tinh tế từ khuôn mặt, nét mày, điệu cười giọng nói, mái tóc làn da. Kì diệu hơn Nguyễn Du vừa miêu tả nhan sắc đã cho thấy ngay số phận an bài hạnh phúc của nhân vật. - 12 câu tả Kiều. +Số lượng câu chứng tỏ Nguyễn Du dùng hết bút lực, lòng yêu mến vào nhân vật này. lấy Vân làm nền để làm nổi bật Kiều, Vân xinh đẹp là thế nhưng Kiều còn đẹp hơn. Nếu Vân đẹp tươi thắm, hiền dịu thì Thúy Kiều lại đẹp sắc sảo “ nghiêng nước, nghiêng thành” - Trích dẫn: Thơ - Nhận xét: - Kiều đẹp tuyệt đối, - Phân tích: bằng nghệ thuật ước lệ, tác giả điểm xuyết một đôi nét dung nhan khiến Thúy Kiều hiện lên rạng rỡ : + “làn thu thủy”: đôi măt trong xanh như nước mùa thu gợi cảm mà huyền ảo. + “ nét xuân sơn”: nét mày thanh thản tươi xanh mơn mởn đẹp như dáng núi mùa xuân tươi trẻ. - Phân tích: phép tu từ nhân hóa, từ ngữ chọn lọc thể hiện thái độ của thiên nhiên với Kiều. Với vẻ đẹp của Vân thiên nhiên chẳng đố kị mà chịu thua, chịu nhường còn với vẻ đẹp của Kiều “ hoa ghen”, “ liễu hờn” thể hiện sự đố kị. - Tả vẻ đẹp lấy từ điển cố “ nhất cố khuynh thành, tái cố khuynh quốc" tạo sự súc tích, có sức gợi lớn làm bật vẻ đẹp có sức hút mạnh mẽ *Tóm lại: Vẻ đẹp của Kiều gây ấn tượng mạnh, một trang tuyệt sắc. - Không chỉ là giai nhân tuyệt thế mà Kiều còn rất đa tài. - Tài đánh đàn, Soạn nhạc: khúc “ bạc mệnh oán” (Tâm hồn đa sầu, đa cảm, phong phú. Khúc nhạc dự đoán cho số phận đau khổ, bất hạnh của Kiều sau này). - So với đoạn tả Thúy Vân, chức năng dự báo còn phong phú hơn. - Những câu thơ miêu tả nhan săc, tài năng dự đoán số phận
  17. đã thể hiện quan niệm “ thiên mệnh” của nho gia, thuyết tài mệnh tương đố” của Nguyễn Du. - Nét tài hoa của Nguyễn Du bộc lộ rõ nét trong nghệ thuật tả người ở đoạn thơ. - Bút pháp nghệ thuật có tính truyền thống của thơ văn cổ nhưng ông đã vượt lên được cái giới hạn đó. 16 câu tả vẻ đẹp của hai chị em Kiều gần như đầy đủ vẻ đẹp của người phụ nữ theo quan niệm xưa: Công - dung - ngôn - hạnh. Tài ấy thể hiện cả ở tả tình, tâm hồn của nhân vật và dự báo số phận nhân vật. * Đức hạnh và phong thái của hai chị em Kiều. - Cuộc sống “êm đềm”, “ phong lưu” khuôn phép, đức hạnh mẫu mực. - Đoạn cuối: khép lại bức chân dung của hai chị em Thúy Kiều đồng thời khép lại toàn đoạn trích khiến nó thêm chặt chẽ với tác phẩm, với số phận từng nhân vật. Vân êm ái, Kiều bạc mệnh. - Cách miêu tả - giới thiệu chính xác số phận từng nhân vật. Cuối đoạn miêu tả vẫn trong sáng, đằm thắm như chở che bao bọc cho chị em Kiều - 2 bông hoa vẫn còn trong nhụy. * Nhận xét chung về nội dung - nghệ thuật. C.Kết bài: Khẳng định vẻ đẹp trong sáng thanh cao của chị em Thuý Kiều. Nghệ thuật miêu tả nhân vật tài tình, tình cảm yêu quý trân trọng của tác giả dành cho Vân, Kiều. Đề 2 : Cảm nhận của em về 4 câu đầu của đoạn trích Chị em Thúy Kiều: *Gợi ý: Bố cục bài viết ba phần. Vấn đề cần nghị luận : +Vẻ đẹp bức chân dung chị em Thúy Kiều. ( Tác giả miêu tả vẻ đẹp của hai chị em, mỗi người một vẻ nhưng vẻ đẹp hoàn mĩ .) + Nghệ thuật miêu tả, tả người, sử dụng hình ảnh ước lệ tượng trưng... + Trân trọng ngợi ca vẻ đẹp con người – người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến.Đó chính là cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du. Đề 3: Cảm nhận của em về 12 câu sau: “ Vân xem trang trọng khác vời ... Một thiên bạc mệnh lại càng lão nhân”.
  18. Gợi ý: Đặt câu hỏi để tìm ý. *Bố cục bài viết ba phần. *Vấn đề cần nghị luận : -Vẻ đẹp bức chân dung chị em Thúy Kiều. *Triển khai vấn đề cần nghị luận. - Vẻ đẹp của Thúy Vân: trang trọng, quý phái,.. +Nghệ thuật miêu tả, tả người, sử dụng hình ảnh ước lệ tượng trưng ; sử dụng phép tư từ ẩn dụ, so sánh , nhân hóa : khuôn mặt tròn đẹp như trăng, miệng cười tươi như hoa, giọng nói trong như ngọc, mây thua tuyết nhường,.. + Dự cảm về số phận bình yên. Vẻ đẹp Thúy Kiều: sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. + Sắc: miêu tả đôi mắt và lông mày qua hình ảnh ước lệ “làn thu thủy, nét xuân sơn”. Vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, thiên nhiên đố kị hờn ghen. + Tài: thông minh - cầm, kỳ,thi, họa ( đặc biệt là đánh đàn - cung đàn bạc mệnh chính tay nàng soạn thảo và cất lên tiếng sầu ai oán). + Dự cảm về số phận : chữ “tài” liền với chữ “tai” một vần, cuộc đời sóng gió ba đào,dâu bể đa đoan. + Nghệ thuật miêu tả, tả người, sử dụng hình ảnh ước lệ tượng trưng ; sử dụng phép tư từ ẩn dụ, so sánh , nhân hóa, cách sử dụng từ ngữ đặc sắc, sử dụng nghệ thuật đòn bẩy,... + Trân trọng ngợi ca vẻ đẹp con người – người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến, dự cảm về số phận.Đó chính là cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du. Đoạn trích: KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH. A/ TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1.Nội dung: - Cảm nhận được tâm trạng cô đơn buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung hiếu thảo của Thuý Kiều. 2.Nghệ thuật: - Khắc họa nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại. - Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc. B/ CÁC DẠNG ĐỀ: Đề 1: Chép lại 8 câu thơ cuối trong đoạn trích : " Kiều ở lầu ngưng bích" và nêu cảm nhận về nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật trong đoạn thơ.
  19. * Gợi ý: - Chép đúng nội đúng 8 câu thơ. - Phần cảm nhận: + Mở đoạn: Giới thiệu nghệ thuật tả cảnh ngụ tình + Thân đoạn: cảm nhận về nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật trong đoạn thơ. + Kết đoạn: Đánh giá chung về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của tác giả. Đề2: Cảm nhận của em về tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Nguyễn Du. * Gợi ý: a Mở bài: Giới thiệu chung về đoạn trích (Đoạn thơ hay nhất biểu hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tự sự, tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ độc thoại thể hiện nỗi lòng và tâm trạng của nhân vật Thuý Kiều) b. Thân bài: * Tâm trạng của Thuý Kiều khi ở lầu Ngưng Bích: - Đó là tâm trạng cô đơn buồn tủi, đau đớn xót xa - Nàng nhớ đến Kim trọng, thương chàng - Nàng thương cha mẹ già thiếu người chăm sóc. - Nàng nghĩ về hiện tại của bản thân thì thấy buồn dâng lớp lớp như tâm trạng ngổn ngang trước một tương lai mờ mịt, bế tắc. * Nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du: - Nhà thơ sử dụng ngoại cảnh để tả tâm cảnh. - Vừa tạo ra sự đối lập Thiên nhiên rộng lớn- con người nhỏ bé cô đơnvừa tạo ra sự tuơng đồng : cảnh ngổn ngang - tâm trạng ngổn ngang, cảnh mờ mịt nhạt nhoà - tâm trạng u buồn, bế tắc. - Nguyễn Du sử dụng điệp ngữ, các từ láy tạo nên sự trùng điệp như nỗi lòng của Kiều đang " Lớp lớp sóng dồi" C. Kết bài: - Khẳng định nghệ thuật Vịnh cảnh ngụ tình đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du. - Xót thương số phận tài hoa bạc mệnh của Thuý Kiều. - Căm ghét xã hội phong kiến xấu xa, thối nát, tàn bạo. Đề 3: Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”,trích truyện Kiều của Nguyễn Du Gợi ý: *Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích *Thân bài: Ý 1: Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều trc khung cảnh lầu Ngưng Bích
  20. - Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian. - Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều: + Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng. Hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó. + Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo: _ Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt. _ Nhìn lên trời cao chỉ có “tấm trăng gần”. -> Thời gian chiều tối, gợi buồn. _ Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối tiếp nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm. =>Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản “non xa”/”trăng gần”, đảo ngữ, từ láy “bát ngát” -> gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người. Đối diện với cảnh ấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn. - Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình: Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng + Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết “mây sớm” lại “đèn khuya”. Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”. + Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều. => Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình. Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi. Ý 2. Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều: Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ. Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật. - Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào “đền ơn sinh thành” cho cha mẹ. Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng. + Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng. Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự. Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”.“Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu. + Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”. + Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình. Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”: _ Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng