SKKN Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động môn Ngữ văn Lớp 6 - Trường THCS Hương Giang

doc 20 trang baochau 20/11/2025 3360
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động môn Ngữ văn Lớp 6 - Trường THCS Hương Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_kinh_nghiem_trong_to_chuc_hoat_dong_khoi_dong_mo.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động môn Ngữ văn Lớp 6 - Trường THCS Hương Giang

  1. Tên đề tài: “Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động môn Ngữ văn lớp 6” PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn đề tài. Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đối với các môn học nói chung và trong môn Ngữ văn nói riêng đang được tiến hành rộng khắp trong toàn ngành Giáo dục trên cả nước. Vai trò, mối quan hệ giữa người dạy và người học đã có sự thay đổi. Sự chủ động, tích cực của học sinh trong giờ học được đề cao, giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, hướng dẫn chứ không còn đóng vai trò truyền thụ một chiều như trong cách dạy học truyền thống. Chính vì thế việc giảng dạy Ngữ văn theo phương pháp đổi mới trong nhà trường trung học cơ sở đang là một thử thách lớn đối với mỗi giáo viên. Dạy như thế nào cho hay, cho hiệu quả nhằm tạo sự hứng thú và phát huy năng lực học sinh trong quá trình học tập là cả một vấn đề lớn đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm. Với vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của học sinh hơn ai hết việc tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính tích cực, sáng tạo của người học, tạo niềm hứng thú say mê học tập ở các em chính là nhiệm vụ quan trọng được đặt ra với mỗi người giáo viên đứng lớp. Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần vào việc tạo thêm hứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành kĩ năng, phát triển nhân cách đồng thời góp phần đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức giờ dạy học môn Ngữ văn tôi xin mạnh dạn đưa ra sáng kiến “ Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động ở môn Ngữ văn 6” Qua đây tôi mong muốn được cùng trao đổi ,học tập từ các thầy cô , bạn bè và đồng nghiệp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn và trau dồi để nâng cao hơn nữa năng lực chuyên môn của bản thân. II. Mục đích của nghiên cứu. - Giúp giáo viên có phương pháp để tổ chức hoạt động khởi động phù hợp, hấp dẫn, hiệu quả và gây hứng thú cho học sinh. - Tạo được không khí sôi nổi, hào hứng cho các em ngay từ đầu tiết học. - Nhằm kích thích trí tò mò, niềm say mê học tập môn Ngữ văn của các em. 1
  2. III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu. Một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động trong môn Ngữ văn 6 nhằm tạo hứng thú và kích thích sự động não của học sinh ngay từ đầu tiết học. 2. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ nghiên cứu về việc sử dụng các hình thức tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực được áp dụng trong môn Ngữ văn 6 qua hoạt động khởi động nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh. * Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Trường THCS nơi tôi công tác. * Giới hạn về khách thể khảo sát Hai lớp 6A và 6B tôi trực tiếp giảng dạy. * Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2019 đến tháng 5/2020. 3. Phương pháp nghiên cứu. * Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp này dùng để thu thập, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến vấn đề lý luận của đề tài trong quá trình thực hiện. * Phương pháp điều tra: Trên cơ sở lí thuyết, tôi tiến hành khảo sát thực tế phỏng vấn trực tiếp học sinh để tìm hiểu hứng thú học tập của các em. * Phương pháp thống kê: Là phương pháp được sử dụng nhằm xử lí, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu. * Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp nhằm so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khi tiến hành sử dụng đề tài. 4. Giả thiết khoa học Nếu áp dụng “Một số kinh nghiệm trong cách thức tổ chức các hoạt động khởi động” thì giáo viên sẽ khai thác tốt hơn về nội dung và học sinh nắm sâu sắc hơn các tri thức Ngữ văn, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Sẽ mở ra hướng đi mới trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả dạy và học môn Ngưc văn . Đồng thời góp phần to lớn trong việc giáo dục đạo đức tư tưởng hình thành những phảm chất cho học sinh. 5. Dự báo và đóng góp mới của đề tài : Từ một số thực trạng và hạn chế ở việc dạy và học môn Ngữ Văn nói trên, tôi thấy việc thay đổi các cách thức khởi động là vô cùng cần thiết. 2
  3. - Đổi mới phương thức, cách thức giờ dạy học môn Ngữ văn 6 bằng việc áp dụng một số hình thức tổ chức giờ dạy theo hướng tích cực: Sân khấu hóa tác phẩm văn học, tổ chức trò chơi giúp học sinh hứng thú, tích cực và phát huy được khả năng của bản thân, đặc biệt là bồi đắp được niềm yêu thích đối với môn học của các em nhất là các em lại là những học sinh đầu cấp. Điều này sẽ là nền tảng cho sự ham mê, hứng thú đối với môn học ở các em. - Cung cấp thêm cho giáo viên một số cách thức đổi mới trong hoạt động khởi động nói riêng và các hoạt động khác nói chung.giờ dạy học không chỉ ở môn Ngữ văn 6 mà còn có thể áp dụng cho việc dạy học môn Ngữ văn nói riêng và nhiều môn học khác trong nhà trường THCS nói chung. PHẦN B: Phần giải quyết vấn đề. I. Cơ sở lý luận Mục tiêu của giáo dục hiện nay theo Nghị quyết số 29-NQ/TW là “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đạo tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đây là vấn đề đang được Đảng, nhà nước và nhân dân rất quan tâm. Để đổi mới phương pháp dạy học tích cực, chủ động, sáng tạo là một điều khó, không phải chỉ thực hiện trong thời gian ngắn và rất cần sự năng động nhiệt tình đầu tư thời gian và công sức của người giáo viên ở tất cả các bộ môn. Hơn nữa, theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành về chương trình giáo dục phổ thông mới, cũng hướng tới mục tiêu: “Hình thành và phát triển năng lực chủ yếu của học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước”. Vì những lẽ đó, việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là một yêu cầu bắt buộc đối với các trường học và các giáo viên. Nhiều trường trung học cơ sở đã và đang đổi mới cách dạy, tích cực áp dụng các cách thức tổ chức và kĩ thuật dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực ở học sinh. Để đảm bảo được điều đó, giáo viên phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ 3
  4. động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc: Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. II. Cơ sở thực tiễn. 1 Thực trạng của vấn đề: Qua thực tế nhiều năm giảng dạy và qua kết quả khảo sát cụ thể trong năm học 2019-2020 cho thấy các em học sinhh ngày càng chán nản, không hứng thú và không yêu thích môn học môn văn dẫn tới kết quả học tập môn Ngữ văn rất thấp. 1.1 Về phía giáo viên. Thực tế ngành giáo dục đã tiến hành đổi mới qua nhiều năm nhưng trong quá trình thực hiện nhiều giáo viên còn lúng túng, ngại đổi mới, chưa tích cực áp dụng phương pháp dạy học tích cực, vẫn giữ thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều,giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của hoạt động khởi động, nội dung khởi động thường mang tính chất giới thiệu đơn giản,định hướng đơn giản,chưa tạo ra được vấn đề và sự hứng thú cho người học.chưa tạo ra được cái đã biết, cái chưa biết và cái muốn biết.Chưa đa dạng hóa các hoạt động khởi động. Một số giáo viên đã có ý thức đầu tư song chưa đều tay giữa các tiết. Qua thực trạng trên tôi thấy nếu không có sự tìm tòi , đổi mới của giáo viên sẽ dẫn tới học sinh ngày càng chán ghét và không có sự đầu tư chính đáng cho môn văn, dẫn tới kết quả học tập không cao.Chính vì vậy, ở đề tài này tôi manh dạn chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân qua một số hoạt động khởi động ở môn Ngữ văn 6 nhằm cải thiện thực trạng trên. 1.2 Về phía học sinh. Thực tế vẫn còn một bộ phận học sinh lực học yếu, nhiều em còn ngại học văn, học qua loa đối phó, kiến thức bài cũ nắm không chắc, chán nản, xem nhẹ môn học, nhiều em thiếu tự giác trong học tập nên chất lượng môn học chưa cao. - Có những giờ Ngữ văn, giáo viên vào lớp phải ổn định đến 5 phút vì các em còn mải mê với câu chuyện còn dở trong giờ ra chơi, nhiều em học sinh đã có tư thế ngồi học mệt mỏi, uể oải và tâm thế học không tích cực. 4
  5. Thực trạng này đặt ra vấn đề là làm thế nào để các tiết dạy học văn bản sinh động, hấp dẫn, học sinh thực sự có hứng thú và tích cực trong học tập ngay từ lúc bước vào đầu giờ học. Đó là vấn đề mà thầy cô giáo nào cũng muốn thực hiện thành công thông qua hoạt động khởi động. Để học sinh thu hút và tập trung học ngay từ đầu tiết học thì giáo viên cần tổ chức hoạt động khởi động hấp dẫn, thú vị, phải tạo ra được những tình huống có vấn đề để cuốn hút học sinh khám phá. Từ đó, tôi nhận thấy việc nghiên cứu và đưa ra biện pháp để xây dựng hoạt động khởi động hấp dẫn, hiệu quả đối với giờ dạy Ngữ văn là rất quan trọng để học sinh thực sự yêu thích, hứng thú, tích cực, chủ động học môn Ngữ văn nói chung và tiết học Ngữ văn ở lớp 6 nói riêng. Đó là những lí do để tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động ở môn Ngữ văn 6” với mong muốn được góp phần nhỏ bé vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học cơ sở hiện nay. 1.3. Về phía nhà trường. Một trong những khó khăn, rào cản, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn Ngữ văn trong nhà trường THCS chính là kinh phí,phương tiện , tài liệu, học liệu phục vụ cho việc giảng dạy môn Văn rất hạn chế. Khi giảng dạy hoặc muốn tổ chức những hoạt động ngoại khóa, mua đồ dùng, dụng cụ phục vụ môn học, tiết dạy mất rất nhiều thời gian, công sức nên giáo viên ngại làm. Hơn nữa để tổ chức được các hoạt động đó nhiều khi giáo viên phải bỏ tiền túi của mình ra nên đó chính là một trong những rào cản khiến giáo viên chưa thật sự chuyên tâm, hứng thú vào việc đầu tư tổ chức các hoạt động dạy học tích cực cho học sinh. II. Những biện pháp cụ thể. 1. Biện pháp thứ nhất: Sử dụng video và tranh ảnh. Tranh ảnh, video luôn là hình ảnh trực quan sống động có tác dụng lôi cuốn, hấp dẫn với các em. Việc lựa chọn tranh ảnh, video phù hợp với nội dung bài học vừa tạo sự sinh động cho giờ học, vừa giúp học sinh khai thác thông tin từ tranh ảnh, video vào nội dung bài học. Từ đó giúp học sinh hứng thú, yêu thích học, nắm chắc kiến thức hơn. * Cách tiến hành: - Bước 1: Giáo viên lựa chọn tranh ảnh, video phù hợp. 5
  6. - Bước 2: Giáo viên dẫn dắt để chiếu tranh ảnh, video, yêu cầu học sinh chú ý theo dõi và chuẩn bị trả lời một số câu hỏi mà giáo viên định hướng sẽ hỏi trước khi HS xem video hay quan sát tranh ảnh. - Bước 3: Giáo viên nêu câu hỏi để học sinh khai thác tranh ảnh, video sau khi HS xem xong. - Bước 4: Từ tranh ảnh, video giáo viên cho HS liên hệ, khai thác ý nghĩa của video hay ảnh, từ đó dẫn dắt vào bài mới. * Lưu ý khi sử dụng tranh ảnh, video: - Giáo viên cần lựa chọn tranh ảnh, video phù hợp với nội dung bài học và có hình ảnh và âm thanh rõ nét, có nguồn gốc rõ ràng, chính thống, có tính thời sự. - Tránh lặp lại tranh ảnh, video đã khai thác ở bài học trước đó rồi sẽ gây nhàm chán cho học sinh. - Do thời gian của hoạt động khởi động không nhiều, sử dụng tranh ảnh không nên quá nhiều hay vi deo quá dài dễ gây phân tán cho học sinh. *Ví dụ 1: Dạy văn bản: “Sự tích Hồ Gươm” (Ngữ văn 6), hoạt động khởi động giáo viên cho học sinh xem video về cảnh Hồ Gươm. ( Đây là vi deo do tôi trực tiếp biên tập để phục vụ cho các tiết đã thực dạy ở đơn vị) * Lời dẫn vào bài Ở VN có rất nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, có những danh lam đã trở thành biểu tượng cho cả một thành phố, rộng hơn nữa đó là biểu tượng cho hình ảnh đất nước. Hỏi: Các em có biết thắng cảnh nào không? (Hồ Gươm) GV giới thiệu về vị trí , và một số nét đặc sắc về hồ Gươm. GV chiếu video giới thiệu về Hồ. Hỏi : Sau khi xem xong video, em có nhận xét, và cảm xúc như thế nào về thắng cảnh này( Đẹp, nên thơ, linh thiêng và cảm xúc yêu mến, tự hào, muốn khám phá ) Hỏi: Các em có tò mò muốn biết tại sao lại gọi tên hồ là Hồ Hoàn Kiếm hay còn gọi là Hồ Gươm không? Các em có muốn biết những câu chuyện lịch sử rất lý thú gắn với sự tích Hồ Gươm không? GV: Để giải thích cho tên Hồ - trái tim của Thủ đô Hà Nội, cha ông chúng ta ngày xưa với trí tưởng tượng rất phong phú đã sáng tạo ra một câu chuyện truyền thuyết vô cùng đặc sắc và hấp dẫn, đó chính là truyện Sự tích hồ Gươm, Hôm nay cô trò chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những câu chuyện, những sự tích liên quan đến hồ, để từ 6
  7. đó chúng ta không những được biết đến một danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà còn biết thêm về những anh hùng dựng nước và giữ nước rất đáng tự hào của nhân dân ta ,từ đó bồi đắp thêm tình yêu thiên nhiên đất nước và niềm tự hào dân tộc các em nhé! Các em đã sẵn sàng chưa nào? * Ví dụ 2: Khi khởi động bài “Sông nước Cà Mau”. Tương tự như trên giáo viên dẫn dắt và chiếu video về cảnh Sông nước Cà Mau với một số địa danh nổi tiếng . Đường link: ( Cảnh Sông nước Cà Mau) ( cảnh chợ Năm Căn) * Ví dụ 3: Khi dạy bài Tiếng đàn Bạch Hoa (thuộc chương trình địa phương Hà Tĩnh) giáo viên giới thiệu video về miền đất địa linh nhân kiêt Cẩm Xuyên nói chung và làng Cổ Đạm nói riêng , sau đó dẫn dắt tìm hiểu về loại đàn Đáy và điệu Ca trù nổi tiếng nơi đây. Link giới thiệu về huyện Nghi Xuân và ca trù Cổ Đạm. *Ví dụ 4: Sử dụng tranh ảnh để khởi động khi dạy bài Tính từ và cụm tính từ, động từ hoặc cùm động từ, các bài số từ lượng từ . Giáo viên có thể lựa chọn những tấm ảnh có nội dung cập nhật như tình người giữa đại dịch Covid, tình quân dân và sự hy sinh của các liệt sỹ trong thời bình qua các đợt mưa lũ năm 2020 vừa qua, hay những hình ảnh đoàn người thiện nguyện đến những vùng ngập lụt, phong trào gói bánh chưng của các tổ chức cá nhân để gửi đồng bào Miền Trung. . Tùy từng bài và thời gian giảng dạy,để lựa chọn hình ảnh phù hợp và có tính thời sự mới có thể thu hút được sự tò mò và hứng thú của học sinh. 7
  8. Ví dụ khi dạy bài Tính từ và cụm Tính từ, giáo viên có thể chọn hình ảnh các lực lượng chức năng đang ngày đêm đào đất giữa mưa lũ để tìm thi thể các liệt sỹ đã hy sinh ở Thủy Điện Rào Trăng – Thừa Thiên Huế. Giáo viên đặt câu hỏi : * Em có biết bức tranh này gắn với sự kiện gì? * Sau khi xem những hình ảnh này, em có cảm xúc như thế nào? * Dựa vào kiến thức đã học ở bậc tiểu học, em hãy tìm các tính từ, hoặc cụm tính từ để diễn tả tâm trạng hay cảm xúc của mình sau khi xem bức tranh? ? Em có suy nghĩ và tình cảm như thế nào đối với sự hy sinh to lớn của những người lính cụ Hồ cả trong thời chiến và thời bình? ? Em có nhận xét gì về tầm quan trọng của các từ loại trên đối với hoạt động giao tiếp của con người ( sự dụng rất phổ biến và hàng ngày nên chúng ta cần nắm chắc các đặc điểm của từ loại để lựa chọn và sử dụng một cách hợp lý, tăng hiệu quả cho sự diễn đạt ) Từ việc dẫn dắt học sinh thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng từ loại, giáo viên giới thiệu bài mới. 2. Biện pháp thứ 2. Tổ chức trò chơi. Ngoài sử dụng tranh ảnh, vi deo giáo viên cho học sinh chơi trò chơi cũng là biện pháp hiệu quả để tạo cho hoạt động khởi động hấp dẫn, thú vị, đạt hiệu quả cao. Có rất nhiều trò chơi giáo viên có thể sử dụng để tổ chức hoạt động khởi động như: Ai nhanh hơn, Hoa điểm mười, Hộp quà bí mật, Lật mảnh ghép, tiếp sức, truyền hộp quà, Nhìn tranh đoán tên tác phẩm * Cách tiến hành: - Bước 1: Giáo viên lựa chọn trò chơi. - Bước 2: Giáo viên nêu luật chơi và quy định rõ thời gian chơi trò chơi. - Bước 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi, HS tham gia. - Bước 4: Giáo viên tổng kết trò chơi, tuyên dương, khen thưởng học sinh, đội chiến thắng (nếu có). - Bước 5: Qua trò chơi, giáo viên liên hệ, dẫn dắt vào bài mới. * Lưu ý khi sử dụng trò chơi: - Giáo viên cần lựa chọn trò chơi, thời gian chơi phù hợp với bài học. - Giáo viên cần có kĩ năng tổ chức trò chơi thành thạo: quy định rõ luật chơi, thời gian chơi, số lượng và thay đổi học sinh để tất cả các em đều được tham gia chơi. 8
  9. - Giáo viên luôn theo dõi sát học sinh khi tham gia trò chơi để tránh gian lận, đánh giá, nhận xét, tuyên dương, khích lệ học sinh kịp thời, công bằng, chính xác. *Ví dụ khi dạy bài Cụm Danh từ, có thể chơi trò câu hỏi ô chữ vừa kết hợp hỏi bài cũ một cách sinh động vừa dẫn dắt vào bài mới. Một số câu hỏi kết hợp bài cũ nhưng đồng thời câu trả lời có nội dung liên quan để phân tích dữ liệu cho bài mới: * Hệ thống câu hỏi: 1. Có 15 chữ cái: Truyện giải thích nguồn gốc giống nòi Việt Nam 2. Có 10 chữ cái: Truyện kể về một em bé được thần tặng bút 3. Có 13 chữ cái: Tên một em bé, cũng là tên truyện đã học. 4. Có 5 chữ cái: Tên một nhân vật có hình hài xấu xí, đến ở nhà phú ông, được cô út yêu.5. Có 10 chữ cái: Tên nhân vật có tuổi thơ kì lạ, mẹ mang thai 12 tháng, đến 3 tuổi vẫn không biết nói. 6. Có 9 chữ cái: Mồ côi cha mẹ, sống dưới gốc đa, chặt đầu trăn tinh 5. Có 10 chữ cái: Tên nhân vật có tuổi thơ kì lạ, mẹ mang thai 12 tháng, đến 3 tuổi vẫn không biết nói. 7. Có 9 chữ cái: Vị vua có công dựng nước. 8. Có 12 chữ cái: Tên văn bản về cuộc trao đổi gươm thần của Lê Lợi cho Long Vương. 9. Có 10 chữ cái: Tên cuộc khởi nghĩa của hai chị em cưỡi voi giết giặc. 10: Từ khóa ta tìm được là từ nào ? 9
  10. * Ví dụ: Dạy bài “Từ và cấu tạo từ Tiếng Việt” (Ngữ văn 6-tập 1), để khởi động có sức cuốn hút, hào hứng, kết nối kiến thức về từ Tiếng Việt đã học ở Tiểu học với kiến thức của bài mới, giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Tiếp sức” với nhiệm vụ: Tìm từ đơn, từ ghép, từ láy. - Giáo viên phổ biến luật chơi: + Chia lớp thành ba đội và yêu cầu các đội thực hiện nhiệm vụ trong khoảng thời gian 2 phút.( Sau thời gian thảo luận , mời đại diện lên bảng tình bày) + Đội nào tìm được từ đơn, từ ghép, từ láy và chính xác thì đội đó giành chiến thắng. - Giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi, nhận xét về kết quả của các đội. - Qua trò chơi, giáo viên dẫn dắt vào bài: Từ và cấu tạo từ Tiếng Việt. * Ví dụ: Dạy văn bản: “ Thánh Gióng”, GV tổ chức trò chơi “Hoa điểm 10”. - Giáo viên chia lớp thành 3 đội chơi. - Giáo viên phổ biến luật chơi: + Trên lọ hoa có 6 bông hoa màu sắc khác nhau. Mỗi bông hoa là một câu hỏi. + Đội nào giơ tay trước sẽ được chọn bông hoa để trả lời. + Trả lời chính xác thì được 10 điểm. Đội nào trả lời không chính xác thì các đội khác được giành quyền trả lời. + Đội nào trả lời được nhiều điểm hơn thì đội đó giành chiến thắng. - HS tham gia trò chơi. - GV tổng kết trò chơi và nhận xét. * Các câu hỏi: Câu 1: Kể tên một truyền thuyết đã học mà em biết? Câu 2: Nêu tên 1 người anh hùng có công với đất nước? Câu 3: Kể tên 2 nhân vật trong truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh”? Câu 4: Nhân vật chính trong truyện “Thánh Gióng” là ai? Câu 5: Gióng sinh ra từ bà mẹ làm nghề gì? Câu 6: Khi gậy sắt gãy, Gióng đã dùng vũ khí nào đánh giặc? 3. Biện pháp thứ 3: Sắm vai. Sắm vai là học sinh được tham gia vào làm thử những tình huống thực tế, hoạt động này cũng tạo sự thú vị, lôi cuốn cho học sinh. * Cách tiến hành: 10
  11. - Bước 1: Chọn tình huống để sắm vai. - Bước 2: HS thảo luận nhóm để phân vai diễn, chuẩn bị trang phục, đạo cụ (nếu có) - Bước 3: Học sinh lên diễn tình huống. - Bước 4: Yêu cầu học sinh nhận xét các bạn lên diễn. - Bước 5: GV nhận xét, tuyên dương HS lên diễn tốt. - Bước 6: HS liên hệ bài học từ tình huống, giáo viên dẫn dắt vào bài mới. * Lưu ý khi sử dụng sắm vai: - Giáo viên cần quy định rõ thời gian lên diễn, phong cách và ngôn ngữ của học sinh khi diễn. - Hướng dẫn HS chuẩn bị kĩ trước khi lên diễn, phải đảm bảo thời gian. - Giáo viên cần thay đổi học sinh tham gia diễn để tất cả các em đều được hoạt động, luôn động viên, khích lệ học sinh lên diễn nhất là với những em nhút nhát. * Ví dụ khi dạy văn bản “Thầy bói xem voi” Trước giờ học giáo viên phân công nhiệm vụ cho học sinh thuộc lời thoại của 5 thầy và lập nhóm tập diễn trước ở nhà.Mỗi bạn vào vai một ông . + Học sinh lên diễn, các bạn dưới lớp nhận xét. + GV nhận xét và dẫn vào bài. * Tương tự , giáo viên phân công cho học sinh phân vai đóng 4 cảnh em bé gặp thử thách và cách em bé ứng biến vượt qua. 4. Biện pháp thứ 4: Kể chuyện, hát. Câu chuyện, bài hát phù hợp với nội dung bài học cũng góp phần làm tăng hứng thú cho học sinh trong hoạt động khởi động. * Cách tiến hành: - Bước 1: Chọn câu chuyện, bài hát, bài thơ phù hợp với nội dung bài học. - Bước 2: HS nghe câu chuyện, bài hát, bài thơ, hoặc mời học sinh tự hát, giáo viên cũng có thể hát để tạo sự gần gũi hòa đồng với học sinh. - Bước 3: Giáo viên nêu câu hỏi để HS khai thác câu chuyện, bài hát. - Bước 4: GV nhận xét và dẫn vào bài. * Lưu ý khi kể chuyện hoặc hát. - Câu chuyện, bài hát ngắn gọn, dễ hiểu, liên quan đến bài học và có ý nghĩa. - Người kể chuyện hoặc hát phải trình bày rõ ràng, truyền cảm, hay. 11
  12. * Ví dụ: Dạy bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ, ở hoạt động khởi động giáo viên cho HS nghe bài hát “Bác Hồ một tình yêu bào la”. - GV đặt câu hỏi: Sau khi nghe xong bài hát, em có suy nghĩ gì về Bác? - HS trả lời: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng ngời về phẩm chất, đạo đức tốt đẹp, Bác luôn yêu thương, quan tâm mọi người + Giáo viên dẫn vào bài mới. * Ví dụ: “Dạy bài Tiếng đàn Bạch Hoa” mời một học sinh hát một bài có chữ làng Cổ Đạm hoặc một đoạn ca trù hoặc giáo viên có thể giới thiệu về mảnh đất địa linh nhân kiệt Nghi Xuân qua bài hát sau; Link bài hát: Bài hát đưa anh về Hà Tĩnh ) - Ưu điểm: + Gây chú ý và tạo sự hứng thú cho học sinh trong giờ học Ngữ văn. + Làm cho hoạt động khởi động sinh động, hấp dẫn. + Tạo giờ học nhẹ nhàng, hấp dẫn các em ngay từ đầu tiết học. + Giúp xua tan mệt mỏi, mang đến niềm vui, sự hào hứng cho các em. + Giúp học sinh dễ dàng kết nối kiến thức bài cũ với bài mới. + Tạo tâm thế thoải mái cho các em khi bước vào bài mới. + Tác động tích cực đến tâm lí, tình cảm, cảm xúc của học sinh, giúp các em say mê, yêu thích môn học. + Hình thành những năng lực cần thiết cho các em: tư duy, giao tiếp, tự học và phẩm chất tốt đẹp như nhân ái, yêu nước - Hạn chế: + Sử dụng tranh ảnh, vi deo, trò chơi, sắm vai, hát, kể chuyện nhiều ở hoạt động khởi động sẽ gây mất thời gian ảnh hưởng đến các hoạt động khác của bài học. + Sử dụng không phù hợp với bài học sẽ gây phân tán, hiệu quả bài học thấp. + Giáo viên không quản lí tốt học sinh dễ gây mất trật tự, khó kiểm soạt hoạt động học tập của các em. III. Kết quả áp dụng của đề tài. Sau nhiều năm nghiên cứu, tôi đã mạnh dạn áp dụng đề tài này vào trong thực tế giảng dạy môn Ngữ văn 6. Trong quá trình thực hiện, tôi nhận thấy: - Các em chăm chỉ, tích cực, tự giác hơn trong hoạt động học tập của mình. 12
  13. - Học sinh tích cực, sôi nổi học tập, đặc biệt là hoạt động khởi động. - Học sinh có tinh thần học chủ động, bước vào giờ học với tâm lí thoải mái, nhẹ nhàng, hào hứng, xóa tan ánh mắt lo lắng, sợ hãi bị kiểm tra bài cũ, sự căng thẳng mệt mỏi vì sắp bắt đầu một giờ học Ngữ văn. - Học sinh yêu thích môn học hơn, luôn mong đợi đến giờ Ngữ văn để được tham gia vào các hoạt động học tập và khẳng định khả năng sáng tạo, năng lực của bản thân. - Học sinh rất say mê hứng thú, chủ động đón nhận giờ học. Đến với hoạt động khởi động các em luôn tự giác lắng nghe thầy cô, hào hứng tham gia các hoạt động, nhiệm vụ mà giáo viên đưa ra. - Giờ học sinh động, các hoạt động giữa thầy và trò nhịp nhàng, hiệu quả. - Giờ học bổ ích, kết quả học tập môn Ngữ văn 6 được nâng lên rõ rệt. Kết quả môn học sau một năm áp dụng các đề tài như sau: Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã phỏng vấn trực tiếp hứng thú của học sinh về cách tổ chức hoạt động khởi động của giờ Ngữ văn ở 2 lớp 6 A,B. với 3 mức độ rất thích học, thích học, không thích học, tôi thu được kết quả sau * Trước khi thực hiện (Tháng 9/2019): Tổng Số HS rất thích học Số HS thích học Số HS không thích học 60 9 15% 15 25% 36 60% * Khi áp dụng (Từ tháng 10/2019 - 5/2020): Tổng Số HS rất thích học Số HS thích học Số HS không thích học 60 18 30% 32 53.3% 10 16.7% Tôi cũng tiến hành khảo sát kết quả học tập của 2 lớp A6,6B ở 2 thời điểm: kì I và kì II, năm học 2019-2020 khi áp dụng đề tài, thu được như sau: * Học kì I (năm học 2019-2020): Giỏi Khá TB Yếu Kém Lớp/Chất lượng TL SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL % 13
  14. Lớp 6A (30HS) 3 10 % 10 33.3 % 15 50 % 2 6,7% 0 0 Lớp 6B (30HS) 0 0% 8 26.7% 17 56.7% 5 16.6% 0 0 Tổng 60 HS) 3 5% 18 30% 32 53.3% 7 11.7% * Học kì II (năm học 2019-2020): Giỏi Khá TB Yếu Kém Lớp/Chất lượng SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% Lớp 6A (30 HS) 6 20% 15 50% 9 30% 0 0 0 0 Lớp 6B (30 HS) 3 10% 11 36.7% 15 50% 1 3.3% 0 0 Tổng (60 HS) 9 15% 26 43.3% 24 40% 1 6.7% 14
  15. - Nhìn vào bảng thống kê điểm của học sinh của kì I, kì II (năm học 2019-2020) cùng áp dụng đề tài trên, tôi thấy chất lượng môn Ngữ văn nâng cao, có sự tiến triển rõ rệt, cụ thể: - Số lượng các em học sinh từ không thích học môn văn đến thích và rất thích tăng dần theo mức độ : - Học sinh rất thích học tăng từ 15% ( 9 HS) lên 30 %(18 HS) - Số HS thích học tăng từ 25%(15 HS ) lên 53,3%( 32 HS) - HS không thích học giảm từ 60% (36 HS )xuống 16,7 %(10 HS) - Số lượng các em học sinh từ không thích học môn văn đến thích và rất thích tăng dần. Các em say mê nghiên cứu và đầu tư để chuẩn bị cho môn học nhiệt tình hơn. Phần C: Kết luận và kiến nghị 1. Đánh giá chung: 1.1 Điểm mạnh Qua quá trình dạy thực nghiệm và giảng dạy, tôi nhận thấy khi áp dụng “Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động môn Ngữ văn 6” đã giúp cho học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, hình thành phát triển năng lực của học sinh (tư duy, tưởng tượng, sử dụng tích hợp kiến thức, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,...), trau dồi các phẩm chất: linh hoạt, tư duy, độc lập sáng tạo. Học sinh hứng thú học hơn, ghi nhớ kiến thức sâu sắc hơn và vận dụng vào thực hành bài tập tốt. Các em còn có thể hỗ trợ các thầy cô trong việc tìm hướng khai thác bài dạy theo phương pháp 15
  16. đổi mới, tăng sự tương tác hiệu quả với học sinh trong giờ học để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường. 1.2 Điểm yếu - Khó khăn hơn với những học sinh yếu kém, có tính ỷ lại. 2. Bài học kinh nghiệm: - Giáo viên phải nắm rõ mục tiêu bài học để từ đó đưa ra các phương thức tổ chức và sử dụng phương pháp, kĩ thuật phù hợp với nội dung bài học. - Để tạo hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học giáo viên cần linh hoạt trong việc đổi mới phương thức tổ chức các hoạt động khởi động nhằm lôi cuốn học sinh tích cực tham gia và chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập của bản thân. - Cùng với việc đổi mới cách thức tổ chức hoạt động khởi động giáo viên cần chú ý thông qua các hoạt động trên lớp rèn luyện cho các em một số kĩ năng cần thiết trong quá trình học tập môn văn: kĩ năng hợp tác, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ, giải quyết tình huống - Khi thiết kế bài học giáo viên cần xác định: + Mục tiêu bài học là gì? + Lựa chọn phương pháp, cách thức tổ chức dạy học nào cho phù hợp? Ở mỗi đơn vị kiến thức trong bài cần tổ chức các hoạt động cho học sinh như thế nào? + Thời gian cho hoạt động là bao nhiêu?... - Khi lên lớp: giáo viên cần linh hoạt trong việc hướng dẫn, tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh nhằm phát huy tối đa khả năng trong việc tham gia vào các hoạt động khởi động để lĩnh hội tri thức. + Đặc biệt các tư liệu trên internet chung chung chung và dài , nên giáo viên cần trau dồi trình độ công nghệ thông tin để cắt ghép, biên tập các video, bài hát phù hợp với chủ đề và thời gian của các hoạt động. 3. Khả năng ứng dụng và triển khai: Nội dung của đề tài này ngoài áp dụng trong dạy học Ngữ văn 6 còn có thể triển khai khi dạy học môn Ngữ văn ở các khối 7,8,9. Ngoài ra sáng kiến này có thể sử dụng cho các môn học khác như Lịch sử,Giáo dục công dân, Địa lý... Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn chia sẻ những kinh nghiệm bản thân có được với bạn bè đồng nghiệp trong 16
  17. Tổ chuyên môn, trong trường để áp dụng vào quá trình giảng dạy của bản thân và kết quả thu được rất khả quan. Đó chính là động lực thúc đẩy giáo viên mạnh dạn, tự tin hơn nữa trong quá trình đổi mới việc dạy học của bản thân. 4. Đề xuất, kiến nghị: 4.1. Đối với Ban Giám hiệu, Tổ chuyên môn: - Nhà trường cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học để việc tổ chức tiết học đạt hiệu quả.- Tổ chức các buổi tập huấn tiếp cận phương pháp dạy học tích cực trong nhà trường giúp giáo viên có cái nhìn sâu sắc, hiểu bản chất của mỗi phương pháp từ đó vận dụng vào thực hành sáng tạo vào hoạt động khởi động nói riêng và các hoạt động khác nói chung. - Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học để giáo viên có thể chia sẻ, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau trong cách tổ chức giờ dạy học, củng cố và nâng cao chuyên môn, tay nghề. -Cần tạo nguồn kinh phí để giáo viên có thể đầu tư, tổ chức các hoạt động dạy học tích cực cho học sinh.( Thuê trang phục, đạo cụ...) 4.2. Đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn: - Giáo viên phân phối thời gian từng tiết học thật hợp lý và chủ động, lựa chọn những đơn vị kiến thức phù hợp để tổ chức các trò chơi, sân khấu hóa tác phẩm văn học và sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình khởi động. Trong đó quá trình hướng dẫn học sinh hoạt động giáo viên cần chú ý đảm bảo các nội dung kiến thức cần đạt của mục tiêu bài học và không để lớp học quá xáo trộn, mất trật tự ảnh hư ởng đến giờ học của các em và những lớp xung quanh - Điều kiện cơ sở vật chất cho giờ dạy cũng cần được chuẩn bị chu đáo (máy chiếu, bảng phụ, hệ thống câu hỏi, tài liệu...) - Tùy theo cách nêu vấn đề và tùy từng bài mà giáo viên tổ chức trò chơi cho linh hoạt, hiệu quả. Các hình thức tổ chức dạy học giáo viên sử dụng phải giúp cho học sinh thực hiện các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát vấn đề, hợp tác, giao tiếp. - Ứng dụng các biện pháp trong SKKN “Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động ở môn Ngữ văn 6” trong dạy học môn Ngữ văn đòi hỏi giáo viên phải nhiệt tình có trình độ chuyên môn vững vàng, có khả năng tổ chức bao quát lớp, có 17
  18. trình độ công nghệ thông tin cao,giáo viên biết động viên, khuyến khích gợi hứng thú cho học sinh. Trên đây là một số biện pháp được rút ra từ công việc giảng dạy trên lớp của tôi. Do thời gian, tài liệu cũng như kinh nghiệm, năng lực còn hạn chế nên báo cáo của tôi chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý, bổ sung của các đồng chí, đồng nghiệp giúp tôi hoàn thiện hơn trong quá trình giảng dạy, để tạo ra được những giờ học văn lý thú cho học sinh, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp giáo dục không ngừng đổi mới trong thời kì hiện nay.Tôi xin cam đoan về sự trung thực của sáng kiến, không sao chép, một số video được dẫn qua các đường link trên là do chính bản thân tôi lựa chọn và biên tập. Xin trân trọng cảm ơn! 18
  19. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN GD& ĐT Giáo dục và Đào tạo THCS Trung học cơ sở PPDH Phương pháp dạy học GV Giáo viên HS Học sinh PP Phương pháp DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực của tác giả Nguyễn Trọng Hoàn. 2. Đổi mới phương pháp dạy học. 3. Giáo trình phương pháp dạy học những nội dung cụ thể môn Văn. NXB ĐHSP Hà Nội 2008. 4. Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của thủ tưởng chính phủ năm 2012. 19
  20. Tên SKKN: Một số kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động khởi động môn Ngữ văn 6. Họ tên: Nguyễn Thị Khánh Hà. Đơn vị: Trường THCS Hương Giang. 20