SKKN Khai thác các văn bản Văn học trung đại Ngữ văn 8 theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực - Hồ Thị Huế

doc 31 trang baochau 09/11/2025 3070
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Khai thác các văn bản Văn học trung đại Ngữ văn 8 theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực - Hồ Thị Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_khai_thac_cac_van_ban_van_hoc_trung_dai_ngu_van_8_theo.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Khai thác các văn bản Văn học trung đại Ngữ văn 8 theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực - Hồ Thị Huế

  1. PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HƯƠNG KHÊ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN: Ngữ văn Tên đề tài: Khai thác các văn bản Văn học trung đại Ngữ văn 8 theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Năm học: 2019 - 2020 1
  2. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN: Ngữ văn Họ và Tên: Hồ Thị Huệ: Trường THCS Hà Linh Tên đề tài: Khai thác các văn bản Văn học trung đại Ngữ văn 8 theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. 2
  3. A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài. a. Lý do chọn đề tài. Như chúng ta đã biết dạy học trong giai đoạn hiện nay ngoài những mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ thì mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực là vấn đề đang được quan tâm hơn bao giờ hết. Bộ Giáo dục - Đào tạo đã đưa ra các biểu hiện phẩm chất, năng lực của học sinh Trung học cơ sở, làm cơ sở cho giáo viên đánh giá học sinh trong quá trình học tập. Trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản cần hình thành, phát triển cho các em những phẩm chất và năng lực chung và những phẩm chất, năng lực đặc thù của bộ môn. Trong đó năng lực đọc hiểu, năng lực phát triển ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ là các năng lực đặc thù của môn Ngữ văn. Ngữ văn là môn học mang tính công cụ, rèn cho các em có kĩ năng, năng lực về ngôn ngữ nói cũng như ngôn ngữ viết. Bản chất của văn chương là hướng đến cái đẹp, tìm đến cái đẹp trong cuộc sống con người. Môn Ngữ văn hướng các em cảm nhận cái đẹp, nhận ra cái đẹp, có cảm xúc trước cái đẹp; tiếp nhận cái đẹp trong tác phẩm và diễn tả được cái đẹp của thế giới khách quan trong tính chú quan của nó. Đó là tình cảm, lòng yêu thương, thái độ trận trọng, sự đồng cảm, sẻ chia... Chính vì thế trong quá trình giảng dạy Ngữ văn ngoài việc hình thành cho học sinh những phẩm chất như yêu thương, tự trọng Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ngôn ngữ, năng lực hợp tác và sáng tạo Giáo viên cần chú ý đặc trưng bộ môn Ngữ văn, nhằm hình thành và phát triển cho học sinh năng lực cảm nhận về cái hay, cái đẹp của những tác phẩm giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Để phát triển phẩm chất và năng lực người học qua môn Ngữ văn giáo viên cần phải thay đổi phương pháp dạy học và đổi mới cách kiểm tra, đánh giá. Trong dạy học phát triển phẩm chất, năng lực giáo viên tổ chức cho học sinh tự làm, thực hành, rút ra những kết luận và có được hiểu biết, chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường học tập của mỗi cá nhân phối hợp với học tập hợp tác; vai trò của giáo viên là người hướng dẫn, là người tổ chức, học sinh là trung tâm, là chủ thể hoạt động. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy. Việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người. Trong môn Ngữ văn, tôi quan tâm ở đây là những tác phẩm văn học Trung đại thuộc các thể loại: Hịch, Chiếu, Cáo, Tấu. Tác giả của chúng lại là những người có tên tuổi hàng đầu trong lịch sử đương thời, các tác phẩm đều ra đời vào những thời điểm lịch sử trọng đại của dân tộc. Vì vậy những văn bản ấy có giá trị nghệ thuật rất cao. Đa số những văn bản nghị luận cổ trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 lại được dịch ra từ những tác phẩm viết bằng chữ Hán, thường dùng nhiều điển cổ, điển tích, nhiều hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng. Chính vì thế trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần nắm được đặc điểm của văn nghị luận trung đại để hình thành và 3
  4. phát triển cho các em năng lực, phẩm chất khi tiếp cận chùm văn bản nghị luận cổ. Thực tế giảng dạy Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở nhiều năm, đã nhiều lần dự giờ đồng nghiệp dạy các văn bản này, tôi nhận thấy giáo viên hầu như chỉ chủ trọng kiến thức mà chưa chủ trọng đến năng lực, phẩm chất. Vì thế mà học sinh nắm kiến thức rời rạc, chưa có cái nhìn tổng thể về văn học cổ và yếu trong khâu vận dụng . Điều đó làm tôi băn khoăn suy nghĩ: Làm thế nào để gây hứng thú cho học sinh trong việc học văn bản nghị luận cổ? Làm thế nào để các em tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng , thấy được vấn đề lớn mà tác giả phản ánh, thấy được cái hay của văn bản qua cách lập luận, qua việc dùng các hình ảnh ước lệ tượng trưng, qua việc sử dụng các điển cổ điển tích ... Đó chính là lí do mà tôi đưa ra kinh nghiệm phương pháp khai thác chùm các văn bản văn học nghị luận cổ theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. b.Tính cấp thiết của đề tài: Từ trước tới nay khi dạy các văn bản Hịch tưởng sỹ, Chiếu dời đô, Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo), Bàn luận về phép học, hầu như giáo viên đều tuân thủ các câu hỏi như trong Sách giáo khoa, hướng dẫn học sinh khai thác các câu hỏi có sẵn trong văn bản. Các câu hỏi trong Sách giáo khoa hiện hành chưa thực sự giúp học sinh đọc – hiểu được các văn bản trên theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học. Hầu như không có câu hỏi vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn đời sống của học sinh để giải quyết các tình huống cụ thể. Các câu hỏi chưa được thiết kế theo mô hình nhất định và không đảm bảo được giai đoạn của tiến trình đọc - hiểu. Ngoài ra các câu hỏi chưa tạo ra mối liên hệ giữa việc đọc - hiểu các văn bản trước với các văn bản sau để thấy được đặc điểm của văn học trung đại. Phần lớn là câu hỏi tái hiện, thông hiểu chưa chú trọng đến những câu hỏi vận dụng. Những câu hỏi chưa xoáy sâu vào trọng tâm văn bản, chưa chú trọng bồi đắp, khơi gợi tình cảm thẩm mỹ, chưa đưa ra được những câu hỏi có vấn đề buộc học sinh phải suy nghĩ, thảo luận, vận dụng những hiểu biết sẵn có để lí giải, cắt nghĩa để hiểu sâu sắc vấn đề, chưa chú trọng các khâu luyện tập; vận dụng, tìm tòi, mở rộng. Giáo viên và học sinh chưa chú ý đến đặc điểm thể loại văn nghị luận trung đại, chưa gắn tác phẩm với tác giả và vì thế chưa có những cảm nhận sâu sắc về các văn bản nên chưa chú ý đến hình thành phẩm chất, năng lực cho học sinh. Ngoài ra các sách tham khảo thì cũng chưa có những hướng dẫn cụ thể. Sách Thiết kế bài soạn Ngữ văn 8 của Nhà xuất bản Giáo dục cũng chỉ hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa. Sách nâng cao Ngữ văn 8, sách bài tập trắc nghiệm Ngữ văn 8, sách bồi dưỡng Ngữ văn 8 cũng chưa chú trọng gắn kiến thức, kĩ năng học sinh với phát triển phẩm chất, năng lực người học. Thực tế sách giáo khoa và sách tham khảo như trên, tôi thiết nghĩ khi dạy chùm văn bản nghị luận trung đại, giáo viên cần có những tìm tòi, phát hiện mới mẻ giúp học sinh ngoài những kiến thức, kĩ năng; cần có những phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh. Những nhiệm vụ tôi giao cho học sinh với các mức độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng sẽ giúp các em hình thành và phát triển phẩm 4
  5. chất, năng lực. Phối hợp các phương pháp dạy học tích cực; tích hợp kiến thức lịch sử thể kỉ X đến thể kỉ XIX, tôi hướng học sinh nắm vững đặc điểm thể loại văn học trung đại, đặc điểm văn học trung và gắn tác phẩm với tác gải (Tác giả đều là những người có vị trí đặc biệt trong xã hội) ; thực hiện quá trình lên lớp theo 5 bước: Khởi động; hình thành kiến thức; luyện tập; vận dụng, tìm tòi, mở rộng; dặn về nhà chuẩn bị bài mới. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. - Đối tượng nghiên cứu là khai thác các văn bản nghị luận Trung đại theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. - Phạm vi nghiên cứu là: + Các thể loại văn nghị luận cổ: Hịch, chiếu, cáo, tấu. + Đặc điểm của văn bản nghị luận Trung đại. + Tác giả của các văn bản nghị luận Trung đại. + Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. - Mục tiêu của bài tập này là làm sáng tỏ hướng khai thác các văn bản nghị luận cổ theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. - Nhiệm vụ: + Xác định đúng đặc trưng thể loại của các văn bản: Hịch (Hịch tưởng sỹ - Trần Quốc Tuấn), Cáo (Nước Đại Việt ta, Trích Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi), Chiếu (Chiếu dời đô - Lí Công Uẩn), Tấu (Bàn luận về phép học (Luận học pháp) - Nguyễn Thiếp) + Các đặc điểm của văn bản nghị luận Trung đại: chất chính luận, tính thẩm mỹ, chất sử thi. + Gắn tác giả với tác phẩm. + Các bước dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ Văn. 4. Giả thiết khoa học của đề tài: Nếu đề tài này được giáo viên nghiên cứu kĩ để vận dụng vào dạy học các bài văn nghị luận cổ trong chương trình Ngữ văn 8 thì chắc chắn học sinh sẽ rất hứng thú, sẽ có được kiến thức trọng tâm và vận dụng tốt khi khai thác, cảm nhận các văn bản này. 5. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tiếp cận là nghiên cứu lý thuyết, thống kê, phân loại, điều tra, khảo sát từ thực tế trên lớp; phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu. 6. Dự báo những đóng góp của đề tài: Với đề tài nhỏ này, hi vọng nó có thể góp phần nào vào giờ dạy văn bản nghị luận cổ cho bản thân cũng như đồng nghiệp được tốt hơn, định hướng cho học sinh nắm được đặc trưng thể loại, các đặc điểm văn bản, vai trò vị trí của các tác giả thời Trung đại và vì thế học sinh có năng lực tiếp cận tốt các văn bản thuộc thể loại nghị luận Trung đại. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. * Cơ sở khoa học của đề tài: + Văn nghị luận trung đại được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 8 cũng đã khá lâu, nhưng thực ra chưa có một tài liệu nào hướng dẫn giáo viên về 5
  6. phương pháp dạy học các văn bản này theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tự mày mò, nghiên cứu để tìm ra một phương pháp dạy học cho riêng mình. Làm thế nào để dạy học tốt bốn văn bản thuộc bốn thế loại: Hịch, chiếu, cáo, tấu là sự băn khoăn của nhiều giáo viên. Trong khi đó ở bốn văn bản này khái niệm về thể loại đều có phần chú thích. Trong mỗi văn bản đều toát lên được đặc điểm của văn nghị luận Trung đại, tác giả của chúng lại là những người có tên có tuổi trong xã hội đương thời. Vấn đề là giáo viên phải vận dụng như thế nào vào bài dạy để phát huy được phẩm chất và năng lực học sinh. + Thực tế dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy giáo viên chưa chú trọng hình thành phẩm chất, năng lực, học sinh chưa hứng thú học bài, kết quả học tập chưa cao. Với sự nhìn nhận thực tế như trên, sau khi học sinh học xong bốn văn bản: Hịch tưởng sỹ (Trần Quốc Tuấn), Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi), Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn), Bàn luận về phép học (Luận học pháp – Nguyễn Thiếp) để kiểm tra năng lực của học sinh tôi đã phát phiếu cho học sinh làm hai bài tập. *Điều tra khảo sát thực tế tại đơn vị nơi tôi công tác. Câu 1. Hãy so sánh các thế loại: Tấu với Hịch, Chiếu, Cáo? Giống nhau Khác nhau - Thể văn: .......................... - Người viết: + Chiếu, Hịch, Cáo: .............................. + Tấu: .................................................. - lối văn: .............................. - Đối tượng tiếp nhận: + Chiếu, Hịch, Cáo: ............................. + Tấu : .................................................. - Mục đích: + Chiếu. Hịch, Cáo: ................................ + Tấu: .................................................... Câu 2. Em hãy điền vào sơ đồ thể hiện trình tự lập luận bài Bàn luận về phép học ( Nguyễn Thiếp) 6
  7. Sau khi giao phiếu và quy định rõ thời gian làm bài, tôi thu bài và đưa ra đáp án để học sinh đổi chiếu với bài làm của mình. - Đáp án: Câu 1. Giống nhau Khác nhau - Thể văn: Nghị luận cổ - Người viết: + Chiếu, Hịch, Cáo: vua chúa... bề trên + Tấu: thần dân, bầy tôi.... bề dưới - lối văn: biền ngẫu - Đối tượng tiếp nhận: + Chiếu, Hịch, Cáo: là bề dưới + Tấu : là bề trên - Mục đích: + Chiếu. Hịch, Cáo: ban bố, kêu gọi, tuyên cáo + Tấu: trình bày sự việc, ý kiến ,đề nghị. Câu 2. Mục đích chân chính của việc học Phê phán những lệch Khắng định những quan điểm, lạc sai trái phương pháp đúng đắn Tác dụng của việc học chân chính 7
  8. - Kết quả tôi thu về như sau: Lớp 8A Lớp 8B Câu Đúng Sai Đúng Sai 1 30 % 70% 35% 65% 2 35% 65% 40% 60% * Phân tích, đánh giá những vấn đề thực tiễn tại hai lớp 8A, 8B nơi tôi công tác. Nhìn vào kết quả trên chúng ta thấy tình hình học tập của học sinh phần văn nghị luận cổ không mấy khá quan, kết quả còn rất thấp. Đứng trước thực trạng vấn đề như vậy bản thân tôi có những băn khoăn, suy nghĩ: làm thể nào để tìm ra phương pháp giảng dạy các văn bản nghị luận cổ theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực để các em học sinh có hứng thú hơn, đạt hiệu quả cao hơn, vận dụng được kiến thức đã học vào cuộc sống một cách thiết thực nhất? Biết cách khai thác, tiếp nhận các văn bản nghị luận cổ? Chúng ta biết rằng dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đóng vai trò chủ đạo. Học sinh phải tích cực hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao phó. Sau mỗi nhiệm vụ học sinh vừa thực hiện, giáo viên cùng học sinh nhận xét, bổ sung, chuẩn kiến thức. Nói như thế không có nghĩa là vai trò của giáo viên mờ nhạt mà ngược lại giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, có những hiểu biết về đặc điểm văn học trung đại một cách có hệ thống, chắc chắn để bình giảng cho học sinh những điểm nhấn thể hiện ý đồ của tác giả, nhữngchỗ giàu giá trị nghệ thuật. Ngoài ra cần sử dụng phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học Phù hớp, để từ đó nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sịnh. Theo tôi để phát triển được phẩm chất, năng lực học sinh khi dạy các văn bản nghị luận Trung đại giáo viên cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản. * Các giải pháp, các tác động trong quá trình giải quyết vấn đề. I. DẠY ĐÚNG ĐẶC ĐIỂM THỂ LOẠI. 1. Lối viết văn nghị luận cổ. Chiếu, hịch, cáo, tấu đều là thể văn nghị luận cổ được viết bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn biền ngẫu. Nhưng chú yếu vẫn là văn biền ngẫu. Tức là trong bài văn có những cặp câu hoặc cặp đoạn câu cân xứng với nhau. Chính vì thế khi hướng dẫn học sinh đọc văn bản (Khâu hình thành kiến thức). Giáo viên cần lưu ý học sinh đọc ngắt nhịp phù hợp với văn biền ngẫu: cân xứng, nhịp nhàng. Ví dụ trong bài Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp. “ Ngọc không mài, không thành đồ vật, Người không học, không biết rõ đạo” Hay trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn “Đã đúng ngôi, Nam Bắc, Đông Tây Lại tiện hướng, nhìn sông, tựa núi” 8
  9. Tính cân xứng, nhịp nhàng của lối văn biền ngẫu còn được một số tác giả triệt để tận dụng để truyền tải nội dung. Do đó khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản, giáo viên cần lưu ý điều này mới khai thác hết được cái hay của tác phẩm. Ví dụ: Trong đoạn trích: “Nước Đại Việt ta” (Nguyễn Trãi), giáo viên hướng dẫn học sinh ngắt đúng nhip. Từ Triệu/ Đinh/ Lý/ Trần /bao đời/ gây nền/ độc lập Cùng Hán/ Đường/ Tống/ Nguyên/ mỗi bên /xưng đế /một phương. Ở hai câu này Nguyễn Trãi đã tận dụng triệt đế tính chất cân xứng của văn biền ngẫu để đặt tên các triều đại của ta trong thế đối, ngang hàng với các triều đại lớn của Trung Quốc. Điều đó đã thể hiện ý thức độc lập, niềm tự hào của dân tộc rất cao ở Nguyễn Trãi. Để học sinh phát hiện ra dụng ý nghệ thuật đó của tác giả, khi dạy các văn bản nghi luận cổ tôi ghi những câu văn ấy ra bảng phụ (Phương tiện dạy học: Dùng bảng phụ). Chú ý ghi hai câu cân xứng với nhau. Bằng trực quan học sinh dễ dàng nhận ra phép đối và hiệu quả diễn đạt của nó trong những câu văn ấy. 2. Người viết và mục đích sáng tác. Chúng ta đã biết bốn văn bản nghị luận cổ đều là những sáng tác của những nhân vật có tên tuổi, nhưng bốn văn bản ấy thuộc những thể loại văn bản nghị luận cổ khác nhau. Do đặc trưng riêng của từng thế loại mà mục đích sáng tác cũng như địa vị xã hội của các tác giả hoàn toàn khác nhau. Để học sinh nắm chắc về thể loại, sau mỗi bài dạy, tôi thường cho học sinh so sánh văn bản vừa học với những văn bản trước đó. (gần kết thúc bước hình thành kiến thức hoặc bước vận dụng, tìm tòi, mở rộng) Ví dụ: Sau khi dạy bài “Nước Đại Việt ta” tôi cho học sinh làm bài tập sau: Hãy so sánh sự giống nhau và khác nhau của chiếu, hịch, cáo.? Với bài tập này tôi thường dùng phiếu học tập cho học sinh làm độc lập hoặc theo nhóm, theo mẫu bảng đã kẻ sẵn. Sau khi học sinh điền vào bảng. Trình bày nhận xét, bổ sung. Tôi đưa đáp án lên bảng phụ để học sinh có chẩn về kiến thức. Giống nhau Khác nhau - Thể văn: nghị luận cổ * Người viết: - Chiếu: vua - Hịch: Vua chúa, tướng lĩnh, thủ lĩnh một phong trào - Cáo: Vua chúa, thủ lĩnh - Lối văn: biền ngẫu * Mục đích. - Chiếu: ban bố mệnh lệnh - Hịch: kêu gọi, cổ vũ chiến đấu, tiêu diệt kẻ thù. - Cáo: Tuyên cáo thành quá của một sự nghiệp - Đối tượng tiếp nhận: nhiều lớn. người cùng biết. 9
  10. Khi dạy bài “Bàn luận về phép hoc” (La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp), ở mục tìm hiểu về thể loại, tôi cho học sinh so sánh tấu với các thế loại chiếu, hịch, cáo. Cụ thể như sau: Giống nhau Khác nhau - Thể văn: Nghị luận cổ - Người viết: + Chiếu, Hịch, Cáo: vua chúa... bề trên + Tấu: thần dân, bầy tôi.... bề dưới - lối văn: biền ngẫu - Đối tượng tiếp nhận: + Chiếu, Hịch, Cáo: là bề dưới + Tấu : là bề trên - Mục đích: + Chiếu. Hịch, Cáo: ban bố, kêu gọi, tuyên cáo + Tấu: trình bày sự việc, ý kiến ,đề nghị. Có sự so sánh như vậy, học sinh sẽ nắm chắc về từng thể loại và từ đó sẽ có định hướng cho việc đọc – hiểu từng văn bản theo đúng đặc trưng thể loại. Mục đích sáng tác cùng với địa vị xã hội khác nhau của các tác giả cũng là những yếu tố làm cho mỗi văn bản có một giọng điệu khác nhau. Do tính chất chiến đấu nên giọng của Hịch và Cáo có chất hùng hồn, lời lẽ đanh thép, vừa cổ vũ được nhân dân, vừa làm tan rã ý chí của kẻ thù mà ta thường gọi là những áng “thiên cổ hùng văn”, “Chiếu” lại là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh nên giọng điệu, lời lẽ rất trang trọng. Còn “Tấu” lại do quan lại, thần dân gửi lên vua chúa nên lời lẽ hết sức khiêm nhường, cung kính. Vì vậy, đối với mỗi loại văn bản ta cần có giọng đọc khác nhau. Thế nên khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm giáo viên phải lưu ý giọng điệu của mỗi văn bản. II. DẠY VĂN PHẢI GẮN VỚI ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI. Đặc điểm nổi bật của văn học Trung đại là “văn, sử, triết” bất phân, tức là chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa văn nghệ thuật, văn để chép sử và văn triết luận, văn chính luận. Cho nên xét về mặt thể loại, bốn văn bản nghị luận cổ trong sách giáo khoa lớp 8 vừa là bài văn chính luận với tính biện giải, thuyết phục người ta bằng lí lẽ, vừa là bài văn nghệ thuật. Tức là một tác phẩm văn học với tính hình tượng rung động lòng người bằng cảm xúc đồng thời lại phản ánh lịch sử trọng đại của dân tộc. Do đó, những văn bản ấy là những tác phẩm văn học vừa phong phú tính chính luận, vừa giàu tính thẩm mỹ, lại vừa mang chất sử thi. Vì thế khi dạy chúng ta cần chú ý. 1. Chất chính luận (Hình thành cho học sinh năng lực tư duy lô gic) Văn nghị luận Trung đại trước hết là văn chính luận, văn lí lẽ. Người sáng tạo ra nó đứng trên một lập trường quan điểm nhất định, dùng lí luận sắc bén, thực tiễn sinh động để thuyết phục người đọc, người nghe, làm cho họ trở thành những 10
  11. người tham gia tích cực vào giải quyết những vắn đề xã hội trước mắt. Vì vậy, loại văn bản này mang tính mục đích rõ rệt. Sự chặt chẽ, mạch lạc của lí lẽ và lập luận theo tư duy lô gích là đặc điểm nối bật của văn chính luận. Đồng thời văn chính luận còn thuyết phục và hấp dẫn người đọc bằng trí tuệ và tính lô gích của nó. Chính vì vậy khi dạy những bài này, tôi cho học sinh nắm được trình tự lập luận của tác giả trong bài bằng cách cho học sinh điền vào sơ đồ câm rồi sau đó giáo viên cần đưa sơ đồ mẫu để chốt lại kiến thức. Ví dụ: Trình tự lập luận. Giáo viên dùng để tổng kết bài: + Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi) Nguyên lí nhân nghĩa Yên dân Trừ bạo Chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt Văn Lãnh Phong Lịch Chế độ hiến thổ tục sử chủ quyền Sức mạnh của nhân nghĩa, của độc lập dân tộc + Bài Bàn luận về phép học (La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp) Mục đích chân chính của việc học Phê phán những lệch lạc Khắng định những quan điểm, sai trái phương pháp đúng đắn Tác dụng của việc học chân chính 11
  12. + Hịch tướng sỹ (Trần Quốc Tuấn) - khích lệ lòng căm thù giặc, nhẫn nhục mất nước. - Khích lệ lòng trung quân ái quốc và lòng ân nghĩa, thủy chung của Kích lệ lòng yêu nước người cùng cánh ngộ. bất khuất, quyết chiến, - Khích lệ chí lập công danh, xá thân quyết thắng kẻ thù vì nước. xâm lược - Khích lệ lòng tự trọng, liêm sĩ ở mọi người khi nhẫn rõ cái sai, thấy rõ điều đúng + Chiếu dời đô ( Lí Công Uẩn) Những tiền đề: cở sở lịch sử, thực tiễn của việc dời đô Những lí do để chọn Thành Đại La là kinh đô mới của Đại Việt Dời đô ra Thành Đại La 2. Tính thẩm mỹ. (Hình thành và phát triển năng lực thẩm mỹ) Để có một văn bản chính luận thật sự thì ngoài chất chính luận còn đòi hỏi chất thẩm mỹ. Tính thẩm mỹ của văn bản được thể hiện ở cảm hứng của chủ thể sáng tạo và tính hình tượng của tác phẩm. a. Phương diện cảm hứng. Giống như phần lớn các văn bản chính luận Trung đại Việt Nam, bốn văn bản trên đều được viết với một nhiệt huyết nồng nàn. Tuy đều thuộc loại văn bản chính trị, hành chính nhưng hịch, chiếu, cáo và tấu không hề có giọng khô khan trung tính, chỉ chú trọng lập luận khúc chiết, lô gích và văn phong chính xác, chặt chẽ mà còn tràn đầy cảm xúc. Đọc “Hịch tưởng sỹ”, ta thấy nhiều câu như có tiếng nước mắt, tiếng nghiến răng, tiếng nguyền rủa, tiếng thét căm hờn. Lời Hịch còn là lời giải bày tâm sự, bàn bạc điều phái trái, lời nhắc nhở ân tình, khơi dậy liêm sỉ, lương tâm...Tất cả đều xuất phát từ đáy lòng. Chính đây là cái gốc làm nên sức truyền 12
  13. cảm, sức thuyết phục mạnh mẽ của bài văn. Vì vậy, khi hướng dẫn học simh đọc – hiểu giáo viên cần cho học sinh khai thác các yếu tố biểu cảm có trong bài văn và cũng để tích hợp với phần tập làm văn bài “Cách đưa yếu tố biểu cảm vào văn nghị luận”, rồi đối chiếu với cách viết không có các yếu tố biểu cảm và so sánh xem cách viết nào có sức thuyết phục mạnh hơn. Ví dụ: Bài “Hịch tướng sỹ” (Trần Quốc Tuấn), tôi đưa ra bảng so sánh sau: 1 2 Thấy sử giặc đi lại ngoài đường, sỉ Ngó thấy sử giặc đi lại nghênh ngang mắng triều đình, bắt nạt tế phụ ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tế phụ. Lúc bấy giờ ta cùng các người sẽ bị Lúc bấy giờ ta cùng các người sẽ bị bắt bắt, đau xót biết chừng nào Sau khi dùng bảng phụ cho học sinh quan sát vào bảng so sánh, tôi sẽ đưa ra một số câu hỏi để các em thảo luận: + Những câu trong cột 1 và cột 2 có gì giống và khác nhau? + Cách viết nào có sức thuyết phục hơn? Vì sao? Từ đó học sinh dễ dàng nhận thấy: nội dung của những câu ở cột 1 và 2 tuy giống nhau nhưng cột 2 có đưa thêm vào các yếu tố biểu cảm. Những yếu tố biểu cảm ấy đã giúp người đọc hiểu rõ nổi căm giận và lòng khinh bí giặc của Trần Quốc Tuấn, đồng thời cũng thấy rõ ông đã chí ra nối nhục lớn của mọi người khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm. Chính điều đó đã tác động mạnh mẽ tới tình cảm của người đọc, người nghe. Do đó có hiệu quả thuyết phục lớn hơn. Các bài văn nghị luận trung đại trong sách giáo khoa đều có hệ thống lí lẽ chặt chẽ. Mỗi văn bản đều có cái lí cơ bản làm gốc cho mọi lập luận nhưng là cái lí lớn của trái tim hơn là của lí lẽ thuần túy: lí lẽ chủ yếu của việc Dời đô ra Đại La là phải “ vâng mệnh trời”, “ theo ý muôn dân” , “ mưu toan nghiệp lớn, tính kể muôn đời”. Mở đầu bài “ Bình Ngô Đại Cáo” là hai câu dõng dạc nêu cao cái chính nghĩa thiêng liêng, cái đạo lí cao cả của dân tộc Đại Việt trong công cuộc Bình Ngô. Lí lẽ của Nguyễn Thiếp trong “ Bàn luận về phép học” , cũng nhằm đạt được mục đích chấn chính việc học trong nước làm cho “ Triều đình ngay ngăn mà thiên hạ thịnh trị”. Còn tất cả các lí lẽ của “ Hịch tướng sỹ” chủ yếu nằm “ đánh vào lòng” tưởng sỹ, lời hịch sẽ trở thành “chỉ thị của trái tim”, mệnh lệnh của lương tâm danh giữ đối với họ. Như vậy, hệ thống lập luận lô gích của các văn bản đó đã tác động tơi toàn bộ tâm hồn con người, không những sáng trí mà còn sáng lòng người. Chính vì vậy, khi dạy những văn bản này, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh chỉ ra cái lí ơ bản làm gốc cho mọi lập luận trong bài . Ví dụ: Khi dạy bài “ Nước Đại Việt Ta”, tôi có thể đặt câu hỏi: Qua hai câu đầu, có thể hiểu cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là gì? Hoặc dạy bài “ Hịch tướng sỹ”, tôi cho học sinh làm bài tập: Khích lệ nhiều mặt để tập trung vào một hướng, đó là cách triển khai lập luận của bài” Hịch tướng sỹ”. 13
  14. Hãy làm sáng tỏ điều này bằng một lược đồ về kết cấu của bài Hịch? Cho học sinh thảo luận nhóm, điền vào sơ đồ câm, sau đó giáo viên cần đưa ra đáp án lên bảng phụ để chốt kiến thức. - khích lệ lòng căm thù giặc, nhẫn nhục mất nước. - Khích lệ lòng trung quân ái quốc và lòng ân nghĩa, thủy chung của Kích lệ lòng yêu nước người cùng cánh ngộ. bất khuất, quyết chiến, - Khích lệ chí lập công danh, xá thân quyết thắng kẻ thù vì nước. xâm lược - Khích lệ lòng tự trọng, liêm sĩ ở mọi người khi nhẫn rõ cái sai, thấy rõ điều đúng Điều đáng lưu ý nữa là trừ bài “Bàn luận về phép hoc” của La Sơn Phu Tử là viết bằng chữ Nôm, còn lại Chiếu, Hịch, Cáo đều viết bằng chữ Hán, học sinh chỉ được tiếp cận với bản dịch. Dịch giả dù có giỏi mấy chăng nữa có khi vì mục đích khác (chẳng hạn như để bảo đám tính cân xứng nhịp nhàng của văn biền ngấu...) nên một số chỗ dịch chưa sát nghĩa. Đối với những trường hợp này, giáo viên cần đối chiếu với bản gốc để học sinh hiểu rõ cái hay của tác phẩm. ví dụ: bài “Hịch tưởng sỹ” dịch chưa sát nghĩa. Tên đầy đủ của tác phẩm là “ Dụ chư tì tướng hịch văn”, phải dịch là: Bài hịch (dùng để) kêu gọi các tì tướng. Tức là các tướng dưới quyền. Vậy đối tượng tiếp nhận ở đây là tì tướng chứ không phải gồm cả tướng lẫn sĩ (lính). Có cho học sinh hiểu được điều đó thì các em mới thấy những câu “ các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đẫ lâu ngày” hoặc “ Chẳng những thái ấp của ta không còn. Mà bổng lộc các ngươi cũng mất”... là hợp lý. b. Tính hình tượng. Biểu hiện ở việc làm sống dậy hiện thực trong tâm trí độc giả, tái hiện được trạng thái, truyền được động tác, sự vận động của con người, cảnh vật và toàn bộ thế giới mà tác phẩm nói tới. ngoài ra nó còn biểu hiện ở sự nắm bắt những cái mơ hồ, mong manh, vô hình chứ không chỉ dừng lại ở những cái hữu hình. Cơ sở từ trong nội dung của lời nói nghệ thuật nằm ở tính hình tượng. Nhà văn viết ra những câu chữ ấy, không chỉ để giải tóa tâm sự mà còn thể hiện tư tưởng, tình cảm của giai cấp mình, tầng lớp mình. Đưa ra những hình ảnh cụ thể, chi tiết, những dẫn chứng để huyết phục người đọc, người nghe. Trần Quốc Tuấn đã phê phản thái độ của quân giặc “đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều, mà sỉ mắng triều đình...”. Đồng thời phê phán thói ăn chơi hưởng lạc của các tướng sỹ dưới quyền. Những tấm gương hi sinh vì chú, vì nước. Trong “Chiếu dời đô” Lý Công Uẩn nêu ra những lần dời đô của nhà Thương, nhà Chu ...Tâm lí người Trung đại thích noi theo gương cũ. 3. Tính sử thi. 14
  15. Bốn văn bản nghị luận đều ra đời vào những thời điểm lịch sử hệ trọng có tính chất bước ngoặt của đất nước, đều trở thành văn kiện lịch sử đánh dấu và kết tinh tinh thần dân tộc cả một thời đại. Vì vậy, không thể tìm hiểu các văn bản đó mà không đặt chúng vào bối cánh lịch sử của nó. Nếu đọc – hiểu “Chiếu dời đô” mà không hiểu rõ ý nghĩa lịch sử to lớn của việc dời đô ra Đại La và vai trò không những mở đầu vương triều họ Lý, mà còn mở ra kỉ nguyên mới của quốc gia Đại Việt độc lập, bền vững thì đọc – hiểu Chiếu khó tránh khói nông cạn. Không gắn “Hịch tưởng sỹ” với “Hào khí Đông A” cùng ba lần chông quân xâm lược Mông – Nguyên thần kỳ của dân tộc, thì cũng khó cảm nhận hết ý nghĩa và cái hay của bài hịch. “Nước Đại Việt ta” phải gắn với cuộc “Bình Ngô” vĩ đại đầy hi sinh, gian khổ và cũng đầy hào hùng thì mới cảm nhận được hết cái hay của “ áng thiên cổ hùng văn ấy” Tấu mà không hiểu hoàn cánh đất nước lúc bấy giờ : do một thời gian dài lo chống giặc mà chưa chẩn chính được nền giáo dục nước nhà thì học sinh sẽ nắm bài hời hợt. Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng đến việc tìm hiểu hoàn cánh sáng tác trước khi bước vào đọc – hiểu văn bản. Bên cạnh đó, trong quá trình đọc – hiểu, giáo viên cần cho học sinh đọc kĩ những chú thích có liên quan đến lịch sử hoặc sử dụng những kiến thức các em được học ở bộ môn lịch sử có liên quan để dựng lại không khí của thời đại lúc bấy giờ. Ví dụ: Dạy “ Nước Đại Việt ta” khi so sánh văn bản ấy với “Sông núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt, để thấy sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc của bài Cáo so với bài thơ thần, ta cần đặt cả hai văn bản ấy vào hoàn cảnh sáng tác của nó: do ra đời sau và do quốc gia Đại Việt đã tồn tại độc lập, vững vàng qua nhiều triều đại, đồng thời dân tộc ta vừa trái qua một cuộc kháng chiến trường kì và dành thắng lợi vẻ vang nên ý thức dân tộc ở Đại Việt ta đã có một bước phát triển mới sâu sắc và toàn diện hơn so với “Sông núi nước nam”. Đặt tác phẩm vào hoàn cánh lịch sử của nó cũng giúp ta phần nào hiểu được phong cách văn chương của thời đại. Điều đó lý giải cho ta hiểu tại sao trong văn nghị luận cổ hay có phần nêu những tấm gương tiêu biểu trong lịch sử. Ví dụ trong “Chiếu dời đô” Lý Công Uẩn đưa ra những dẫn chứng về việc dời đô của hai triều Thương, Chu . Trong “Hịch tướng sỹ Trần Quốc Tuấn đã có cả một đoạn dài nêu những tấm gương của trung thần, nghĩa sỹ xưa nay bỏ mình vì nước, vì chủ; đồng thời hay nhắc đến “mệnh trời”. Sở dĩ như vậy là vì nét đặc thù tâm lý của người Trung đại là: noi theo tiền nhân, dựa vào mệnh trời. Người Trung đại coi thời hoàng kim là thời đã qua, khuôn mẫu được làm bởi tiền nhân, nên thường trích dẫn điển cổ, điển tích. Việc Lý Thái Tố dẫn sử sách Trung Quốc, nói lên mệnh trời trong “Chiếu dời đô” là một nét tâm lý thường tình của con người thời ấy. Vì vậy vần hiếu “mệnh trời” ở “Chiếu dời đô” là quy luật khách quan. Nhưng gắn tác phẩm với hoàn cánh lịch sử của nó là giúp học sinh hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm chứ không phải là biến giờ học văn thành giờ học lịch sử. Giáo viên chú ý dạy văn phải bán sát vào văn bản. Ví dụ: Xét về gốc độ lịch sử, khi xác định nền độc lập của một quốc gia thì người ta phải xét đến yếu tố lãnh thổ và chủ quyền trước rồi mới xét đến các yếu tố 15
  16. khác như văn hiến, thế chế nhà nước, kinh tế...Nhưng trong “Đại Việt ta”để khắng định chủ quyền của dân tộc Nguyễn Trãi đã đưa ra năm yếu tố: văn hiến, lãnh thổ, phong tuc, lịch sử, chế độ, chủ quyền riêng. Trong đó “văn hiến” là yếu tố đưa lên hàng đầu: “ Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc, Nam cũng khác...” Tại sao lại như vậy? Để hiểu được điều đó giáo viên cho học sinh đặt tác phẩm vào hoàn cánh sáng tác của nó: trở lại lịch sử dân tộc thời Bắc thuộc, tuy chúng ta có độc lập, có chủ quyền nhưng chính quyền đô hộ vẫn phải tìm mọi cách để đồng hóa dân ta. Khi giặc Minh sang xâm lược nước ta, chúng đốt hết sách vở, đập phá đền chùa miếu mạo của ta, bắt những người giỏi sang Trung Quốc. Mục đích của chúng là xóa bỏ truyền thống tốt đẹp lâu đời của dân tộc ta, xóa đi ý thức về cội nguồn, gốc rễ của dân tộc ta. Với sức sống kiên cường người Việt ta vẫn giữ được truyền thống văn hóa tốt đẹp trong phong tục tập quán, trong lối sống của dân tộc mình cho đến ngày nay. Đặt trong hoàn cánh lịch sử đó thì “Văn hiến” đã trở thành yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân để xác định tư cách tồn tại của một dân tộc. Như vậy, dạy văn gắn với hoàn cánh lịch sử không những giúp ta hiểu sâu, hiểu kĩ văn bản mà còn giúp ta hiểu thêm về tác giả. III. CẦN GẮN TÁC PHẨM VỚI TÁC GIẢ Tác phẩm văn học là sản phẩm của nhà văn, là đứa con tinh thần của nhà văn. Có được tác phẩm để đời, nhà văn đã phải mài dũa, tìm kiểm, trái nghiệp, lăn lộn với cuộc sống để tìm ra những cái gì cho riêng mình từ cuộc sống đương thời. Văn học với tư các là tấm gương phản ánh cuộc sống qua lăng kính chủ quan của nhà văn.Từ tác phẩm văn học người đời sau hiểu được cuộc sống của cha ông chúng ta trước đây sống trong xa hội như thế nào? Nếu từ tác phẩm có thể hiểu nhà văn thì ngược lại, cũng có thể từ nhà văn để hiểu về tác phẩm . Đối với các em trung học cơ sở các em đã có khao khát hiểu sâu tác phẩm. Người giáo viên có đáp ứng được nhiềm khao khát đó mới kích thích được hứng thú học văn của các em, mới tạo cho các em niềm yêu thích văn chương . Bốn văn bản nghị luận cổ trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 đều là những áng văn được viết bởi những nhân vật có tên tuổi hàng đầu trong lịch sử Trung đại. Vì vậy, không thể tìm hiểu các văn bản đó mà không đặt chúng gắn liền với chủ thế sáng tạo của nó. Muốn làm được điều đó thì khâu tìm hiểu vể tác giả là vô cùng quan trọng. Thông thường ở khâu khới động tôi nêu một số câu hỏi có vấn đề , nhằm khơi gợi sự tò mò của học sinh về tác giả để học sinh nắm được vai trò, vị trí của tác giả trong xã hội đương thời. Từ thực tế dạy học tôi nhận thấy, nếu giáo viên có hiểu những thăng trầm về cuộc đời, sự nghiệp của tác giả thì mới giới thiệu cho học sinh biết được, học sinh mới hiểu sâu được tác giả và khi hiểu sâu tác giả thì học sinh sẽ rất hứng thú tìm hiểu tác phẩm. Do vậy, gắn tác phẩm với tác giả là điều mà giáo viên lên lớp cần phải hết sức lưu tâm. Đặc biệt với văn nghị luận trung đại . 16
  17. Ví dụ 1 Khi dạy bài Hịch tướng sỹ, tôi nói cho học sinh biết được Trần Quốc Tuấn là một danh tướng hàng đầu của lịch sử dân tộc và trong lịch sử quân sự nhân loại, một con người có nhân cách vĩ đại đã đặt quyền lợi của dân tộc lên trên chữ “hiếu”. Hiếu được điều đó ta mới thấy hết lòng yêu nước nông nàn, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Trần Quốc Tuấn thể hiện mạnh liệt như thế nào trong bài hịch. Ví dụ 2. Dạy bài “Chiếu dời đô” tôi cho học sinh thấy Lý Thái Tổ là một ông vua rất gần dân, rất yêu dân, là một vị vua cực kì anh minh. Mục đích dời đô ra Đại la của ông cũng nhằm để trăm họ không phải chịu cánh hao tốn, “ dân cư khói chịu cánh ngập lụt”. Điều đó cũng lí giải được tại sao kết thúc bài “Chiếu dời đô”, Lý Thái Tố không ra mệnh lệnh mà đặt câu hỏi: “các khanh nghĩ thế nao?”. Cách kết thúc mang tính chất đối thoại, trao đổi, tạo sự đồng cảm với nhân dân. Bài “Chiếu dời đô” thuyết phục người nghe bằng lý lẽ chặt chẽ và bằng tình cảm chân thành. Nguyện vọng dời đô của Lý Thái Tố phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Ví dụ 3 Dạy bài “Bàn luận về phép học” (Trích: Luận học pháp – Nguyễn Thiếp) Nguyễn Thiếp quê ở huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh. Năm 20 tuổi đi thi Hương ở Nghệ An đỗ thủ khoa. Năm 1748 ông ra Bắc dự thi Hội đỗ tam trường, sau đó ông vào Bố Chính dạy học. Năm 1756 ông được bố làm Huấn Đạo (trông coi việc học trong một huyện: Anh Sơn- Nghệ An). Năm 1768 ông xin từ quan về ở ẩn tại trại Bùi Phong trên dãy Thiên Nhẫn (Nam Đàn- Nghệ An). Năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh. Có mời ông ra giúp việc nhưng ông từ chối. Cuối năm 1788 sau khi lên ngôi Hoàng đế, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc, đến Nghệ An nghỉ binh, nhà vua lại triệu Nguyễn Thiếp để hỏi kế sách đánh đuổi quân Thanh xâm lược. Sau đại thắng vào năm 1789, vua Quang Trung về đến Nghệ An lại mời Nguyễn Thiếp đến bàn quốc sự. Như vậy, sau hai lần vua Quang Trung mời ông đều từ chối và sau cuộc gặp gỡ lần thứ ba thì Nguyễn Thiếp và vua Quang Trung đã hiểu nhau, Năm 1791 vua Quang Trung lại mời ông vào Phú Xuân (Huế) để bàn việc nước. Đến gặp ông đã dâng vua Quang Trung một bài Tấu bàn về ba điều mà theo ông bậc đế vương nên biết: quân đức (đức của vua), dân tâm (lòng dân), pháp học (phép học). Trong ba điều đó điều thứ ba (bàn luận về phép học) Mục đích là để chấn chính việc học. Đó chính là nội dung bài Tấu mà các em được học trong chương trình Ngữ văn 8. Những lời Tấu ấy được vua nghe theo, 20/8/1791 nhà vua ban chiếu lập “Sùng Chính thư viện” ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm viện trưởng viện Sùng Chính. Công lao lớn nhất của ông là thực hiện chủ trương của vua Quang Trung: chấn hưng, đề cao chữ Nôm, dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, đưa chữ Nôm trở thành văn tự chính thức của nước Việt. Năm 1802 khi triều Tây Sơn bị sụp đổ, Nguyễn Thiếp trở về trại Bùi Phong làm vườn, dạy học vời danh hiệu La Sơn phu tử. 25/12/1804 ông qua đời, hưởng thọ 81 tuổi, an táng tại Bùi Phong (Nam Đàn- Nghệ An). 17
  18. Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi về phương pháp khi dạy chùm văn bản nghị luận Trung đại theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực . Và tôi đã vận dụng các phương pháp dạy học nói trên vào dạy thể nghiệm ở đơn vị năm học 2017 - 2018 và năm học 2018 – 2019 được anh, chị, em đồng nghiệp đánh giá cao. * Những kết quả thực hiện và những nhận định làm nổi bật tác dụng của đề tài. Vào năm học 2016 – 2017 khi chưa áp dụng phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực vào dạy chùm văn bản nghị luận trung đại, kết quả thu được cũng rất thấp, tôi cảm thấy học sinh chưa có hứng thủ, thái độ học tập chưa tích cực. Sau khi dạy xong bài bàn luận về phép học (Nguyễn Thiếp), tôi cho học sinh làm hai bài tập sau: Câu 1. Hãy so sánh các thế loại: Tấu với Hịch, Chiếu, Cáo? Giống nhau Khác nhau - Thể văn: .......................... - Người viết: + Chiếu, Hịch, Cáo: ..................................... + Tấu: .................................................. - lối văn: .............................. - Đối tượng tiếp nhận: + Chiếu, Hịch, Cáo: ............................. + Tấu : .................................................. - Mục đích: + Chiếu. Hịch, Cáo: ................................ + Tấu: .................................................... Câu 2. Em hãy điền vào sơ đồ thể hiện trình tự lập luận bài Bàn luận về phép học ( Nguyễn Thiếp) 18
  19. Sau khi giao phiếu và quy định rõ thời gian làm bài, tôi thu bài và đưa ra đáp án để học sinh đổi chiếu với bài làm của mình. - Đáp án: Câu 1. Giống nhau Khác nhau - Thể văn: Nghị luận cổ - Người viết: + Chiếu, Hịch, Cáo: vua chúa... bề trên + Tấu: thần dân, bầy tôi.... bề dưới - lối văn: biền ngẫu - Đối tượng tiếp nhận: + Chiếu, Hịch, Cáo: là bề dưới + Tấu : là bề trên - Mục đích: + Chiếu. Hịch, Cáo: ban bố, kêu gọi, tuyên cáo + Tấu: trình bày sự việc, ý kiến ,đề nghị. Câu 2. Mục đích chân chính của việc học Phê phán những lệch Khắng định những quan điểm, lạc sai trái phương pháp đúng đắn Tác dụng của việc học chân chính - Kết quả tôi thu về như sau: Lớp 8B Lớp 8C Câu Đúng Sai Đúng Sai 1 35 % 65% 25% 75% 2 40% 60% 35% 65% - Nhìn vào kết quả trên tôi nhận thấy tình hình học tập của học sinh phần văn nghị luận cổ không mấy khá quan, kết quả còn rất thấp. kết quả này cũng chẳng khác gì tôi đã điều tra lớp đồng nghiệp tôi dạy các năm trước. 19
  20. - Nhưng sau đó tôi tiến hành áp dụng phương pháp dạy học văn nghị luận Trung đại mà tôi đã nghiên cứu vào hai lớp 8A và 8B trong hai năm học liên tiếp: 2017- 2018 và 2018 - 2019. (cũng hai câu hỏi mà tôi đã dùng năm học 2016- 2017). + Năm học 2017 – 2018. Tôi thu được kết quả như sau: Lớp 8A Lớp 8B Câu Đúng Sai Đúng Sai 1 85 % 15% 75% 25% 2 90% 10% 85% 15% + Năm học 2018 – 2019. Tôi thu được kết quả cũng rất khá quan: Lớp 8A Lớp 8B Câu Đúng Sai Đúng Sai 1 90 % 10% 85% 15% 2 95% 5% 90% 10% Như vậy với hai năm liên tục áp dụng phương pháp dạy học các bài văn nghi luận cổ theo hướng phát huy năng lực, phẩm chất người học vào dạy các văn bản này, chúng ta nhận thấy kết quả thu được rất cao; các em học sinh rất có hứng thú học bài, đa số học sinh nắm được kiến thức bài học, nắm được đặc điểm của văn bản nghị luận trung đại, thể loại hịch, chiếu, cáo, tấu; tác gải của những thể loại này là những người có địa vị xã hội nhất định; biết so sánh để tìm ra điểm giống và khác nhau khi tiếp cận, nên các em thích được thể hiện năng lực học chùm văn bản nghị luận cổ. C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: - Để thực hiện được đề tài tôi đã tiến hành nghiên cứu, tìm nhiều nguồn tài liệu tham khảo: Sách giáo khoa Ngữ văn 8, sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy, sách bồi dưỡng ngữ văn 8, sách bài tập trắc nghiệm ngữ văn 8, sách văn học Trung đại, mạng inte-nét: chế độ khoa cử thời phong kiến.... - Ý nghĩa của đề tài: + Đối với bản thân tôi, tôi nhận thấy mình tự tin hơn, chững chạc hơn. Học sinh học bài nhẹ nhàng mà kết quả hiểu bài rất tốt. Tôi đã sử dụng vào giảng dạy trong hai năm học 2012 – 2013 và 2013 – 2014; các đồng nghiệp đã dự giờ và có những đánh giá cao về tính thực tiễn của đề tài. + Với tập thể đồng nghiệp: là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn bè đồng nghiệp khi dạy văn bản nghị luận Trung Đại. Và tôi tin chắc rằng nếu như giáo viên chịu khó nghiên cứu, tìm tòi , chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp thì sẽ dạy tốt các văn bản nghị luận Trung đại và do vậy học sinh sẽ rất hứng khi học các văn bản này.. 2. Kiến nghị. 20