SKKN Khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh - Hồ Thị Huệ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh - Hồ Thị Huệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_khai_thac_van_ban_lao_hac_cua_nam_cao_theo_huong_phat_t.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh - Hồ Thị Huệ
- PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HƯƠNG KHÊ HỌ VÀ TÊN GV: HỒ THỊ HUỆ TRƯỜNG THCS HÀ LINH - HƯƠNG KHÊ - HÀ TĨNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. MÔN: NGỮ VĂN Tên sáng kiến kinh nghiệm: Khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh (Ngữ văn 8 – tập 1) Năm học: 2018 – 2019 PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HƯƠNG KHÊ HỌ VÀ TÊN GV: HỒ THỊ HUỆ TRƯỜNG THCS HÀ LINH - HƯƠNG KHÊ - HÀ TĨNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. MÔN: NGỮ VĂN Tên sáng kiến kinh nghiệm: Khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh (Ngữ văn 8 – tập 1) Năm học: 2018 – 2019 1
- PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯƠNG KHÊ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. MÔN: NGỮ VĂN Tên sáng kiến kinh nghiệm: Khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. (Ngữ văn 8 – tập 1) Năm học: 2018 - 2019 2
- Phần I. Đặt vấn đề 1. Lí do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài. a. Lý do chọn đề tài. Như chúng ta đã biết dạy học trong giai đoạn hiện nay ngoài những mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thì mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực là vấn đề đang được quan tâm hơn bao giờ hết. Bộ Giáo dục - Đào tạo đã đưa ra các biểu hiểu hiện phẩm chất, năng lực của học sinh Trung học cơ sở, làm cơ sở cho giáo viên đánh giá học sinh trong quá trình học tập: “Về phẩm chất: sống yêu thương (nhân ái, khoan dung ), sống tự chủ (trung thực, tự trọng, tự lực, chăm chỉ, vượt khó, tự hoàn thiện), sống có trách nhiệm. Về năng lực: năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học và tự chủ, năng lực tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực thể chất, năng lực tin học, năng lực tính toán, năng lực thẩm mĩ, năng lực ngôn ngữ”. Tuy nhiên trong quá trình dạy học tùy thuộc vào môn học và đối tượng học sinh, giáo viên cần hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực thiết cơ bản nhất; không thể trong một tiết học hình thành và phát triển được tất cả các phẩm chất và năng lực. Trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản cần hình thành và phát triển cho các em những phẩm chất và năng lực chung và những phẩm chất, năng lực đặc thù của bộ môn. Trong đó năng lực đọc hiểu, năng lực phát triển ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ là các năng lực đặc thù của môn Ngữ văn. Ngữ văn là môn học mang tính công cụ, rèn cho các em có kĩ năng, năng lực về ngôn ngữ nói cũng như ngôn ngữ viết. Bản chất của văn chương là hướng đến cái đẹp, tìm đến cái đẹp trong cuộc sống con người. Môn Ngữ văn hướng các em cảm nhận cái đẹp, nhận ra cái đẹp, có cảm xúc trước cái đẹp; tiếp nhận cái đẹp trong tác phẩm và diễn tả được cái đẹp của thế giới khách quan trong tính chú quan của nó. Đó là tình cảm, lòng yêu thương, thái độ trận trọng, sự đồng cảm, sẻ chia Xuất phát từ trái tim của chủ thể sáng tạo, thể hiện giá trị nhân đạo: “Người nghệ sỹ chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê khốp); “ Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường đến xứ sở cái đẹp” (Pautopxki). Những tình cảm đẹp trong tác phẩm văn học đều gắn với thực tế cuốc sống qua mỗi thời kì, bởi văn học bắt nguồn từ đời sống và phục vụ đời sống của con người: “Nhà văn là thư kí trung thành của thời đại” (Banlzac). Tuy nhiên nhà văn với sự khám phá, tìm tòi, cảm nhận mới mẻ đã gửi đến bạn đọc những tác phẩm đặc sắc. Chính vì thế trong quá trình giảng dạy Ngữ văn ngoài việc hình thành cho học sinh những phẩm chất như yêu thương, tự trọng Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ngôn ngữ, năng lực hợp tác và sáng tạo Giáo viên cần chú ý đặc trưng bộ môn Ngữ văn, nhằm hình thành và phát triển cho học sinh năng lực cảm nhận về cái hay, cái đẹp của những tác phẩm giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Để phát triển phẩm chất và năng lực người học qua môn Ngữ văn giáo viên cần phải thay đổi phương pháp dạy học và đổi mới cách kiểm tra, đánh giá. Trong dạy học phát triển phẩm chất, năng lực giáo viên tổ chức cho học sinh tự làm, thực hành, rút ra những kết luận và có được hiểu biết, chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường học tập của mỗi cá nhân phối hợp với học tập 3
- hợp tác; vai trò của giáo viên là người hướng dẫn, là người tổ chức, học sinh là trung tâm, là chủ thể hoạt động. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy. Việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người. Trong môn Ngữ văn, tôi quan tâm ở đây là những tác phẩm văn học hiện đại trước Cách Mạng Tháng Tám mà cụ thể là truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 8 tập1 viết về đề tài người nông dân. Thể hiện phong cách: chất triết lý, suy ngẫm; chất trữ tình; đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật Tác phẩm” Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao được đưa vào giảng dạy trong chương trình THCS (2 tiết: 14+15) Ngữ văn 8 tập 1. Song trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản, tôi nhận thấy còn nhiều vấn đề chưa ổn định, phần lớn giáo viên chỉ mới chú trọng hình thành kiến thức mà chưa chú trọng đến hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh. b.Tính cấp thiết của đề tài: Từ trước tới nay khi dạy văn bản Lão Hạc hầu như giáo viên đều tuân thủ các câu hỏi như trong Sách giáo khoa, hướng dẫn học sinh khai thác các câu hỏi có sẵn trong văn bản. Các câu hỏi trong Sách giáo khoa hiện hành chưa thực sự giúp học sinh đoc – hiểu được truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao theo định hướng phát triển năng lực người học. Hầu như không có câu hỏi vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã đọc vào thực tiễn đời sống của học sinh để giải quyết các tình huống cụ thể. Các câu hỏi chưa được thiết kế theo mô hình nhất định và không đảm bảo được giai đoạn của tiến trình đọc - hiểu. Ngoài ra các câu hỏi chưa tạo ra mối liên hệ giữa việc đọc - hiểu các văn bản trước với các văn bản sau để thấy được phong cách nghệ thuật của Nam Cao; thường hỏi nội dung trước, nghệ thuật sau. Phần lớn là câu hỏi tái hiện, thông hiểu chưa chú trọng đến những câu hỏi vận dụng; những câu hỏi chưa xoáy sâu vào trọng tâm văn bản, chưa chú trọng bồi đắp, khơi gợi tình cảm thẩm mỹ, chưa đưa ra được những câu hỏi có vấn đề buộc học sinh phải suy nghĩ, thảo luận, vận dụng những hiểu biết sẵn có để lí giải, cắt nghĩa để hiểu sâu sắc vấn đề và vì thế chưa chú ý đến hình thành phẩm chất, năng lực bộ môn Ngữ văn cho học sinh. Ngoài ra các sách tham khảo thì cũng chưa có những hướng dẫn cụ thể. Sách Thiết kế bài soạn Ngữ văn 8 của Nhà xuất bản Giáo dục cũng chỉ hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa. Sách nâng cao Ngữ văn 8, sách bài tập trắc nghiệm Ngữ văn 8, sách bồi dưỡng Ngữ văn 8 cũng chưa chú trọng gắn kiến thức, kĩ năng học sinh với phát triển phẩm chất, năng lực người học. Thực tế sách giáo khoa và sách tham khảo như trên, tôi thiết nghĩ khi dạy bài “Lão Hạc của Nam Cao” giáo viên cần có những tìm tòi, phát hiện mới mẻ giúp học sinh ngoài những kiến thức, kĩ năng; cần có những phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh. Trong khi dạy truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao với hệ thống câu hỏi – những nhiệm vụ, tôi giao cho học sinh với các mức độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu, vận dụ thấp, vận dụng cao. Phối hợp các phương pháp dạy 4
- học tích cực; tích hợp kiến thức liên môn, tôi hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực như sau: * Giao nhiệm cụ cho học sinh chuẩn bị bài: (phát triển năng lực tự học). * Ở khâu lên lớp: - phần đọc - hiểu chung khi giới thiệu về tác giả, tác phẩm. Đến lớp các em cùng bạn, thầy cô chia sẻ kết quả tự học, nhằm phát triển năng lực tự học, năng lực sử dụng công nghệ thông tin). Tác phẩm: Hoàn cảnh sáng tác: Tích hợp với kiến thức lịch sử giai đoạn 1932-1945, làm rõ hoàn cảnh xã hôi Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám - Phần đọc – hiểu chi tiết: Trong khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu, hệ thống câu hỏi của tôi theo mức độ từ dễ đến khó. Có những câu hỏi chỉ cần dựa vào văn bản Lão Hạc để nêu ra các chi tiết quan trọng (Mức độ nhận biết). Qua các chi tiết trong văn bản yêu cầu các em phải lí giải để hiểu bản chất của vấn đề (Mức độ thông hiểu) nhưng cũng có những câu hỏi buộc học sinh phải huy động khá năng tư duy ở mức độ cao nhằm phát hiện và giải quyết vấn đề. (phát triển năng lực đọc – hiểu, năng lực ngôn ngữ, năng lực hợp tác, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thẩm mĩ..). Khi cảm nhận về nhân vật Lão Hạc, hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất: tình yêu thương, lòng tự trọng, nhân hậu (phương pháp thảo luận nhóm, phát triển năng lực hợp tác, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ): * Gần kết thúc tiết học ở khâu thực hành, ửng dụng, tôi ra bài tập cho học sinh làm nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ. Muốn phát triển được phẩm chất và năng lực như trên trong quá trình dạy học giáo viên phải phối hợp các phương pháp, kĩ thuật dạy học một cách linh hoạt. Đa dạng các phương pháp dạy học: đàm thoại, bình giảng; nêu vấn đề, thảo luận nhóm nhằm phát huy được vai trò của người học, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên chỉ là cố vấn, hướng dẫn và chốt lại trọng tâm vấn đề, các phẩm chất, năng lực cần đạt qua mỗi bài học. Dạy học chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực, giáo viên phải nghiên cứu kĩ những phẩm chất và năng lực nào cần hình thành cho học sinh qua mỗi bài học, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học. Đồng thời trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý đến dạy học tích hợp liên môn. Nói chung tính mới mẻ của vấn đề nghiên cứu thể hiện qua các khâu của quá trình hoạt động: dặn học sinh chuẩn bị bài ở nhà, tiến hành dạy học trên lớp, khâu thực hành ửng dụng, giao nhiệm vụ về nhà khi kết thúc tiết học. Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm hình thành và phát huy các phẩm chất và năng lực cần thiết cho học sinh. 2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu. - Mục tiêu: Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Lão Hạc (Nam Cao) hình thành và phát triển cho học sinh lớp 8 những phát triển phẩm chất, năng lực cơ bản, thiết thực. - Đối tượng nghiên cứu: 5
- + Văn bản Lão Hạc (Nam Cao); các phẩm chất, năng lực cần hình thành và phát triển khi dạy văn bản Lão Hạc. + Các phương pháp, kĩ thuật dạy học; + Dạy học tích hợp liên môn. 3. Phạm vi, nhiệm vụ: - Phạm vi nghiên cứu: + Những phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy văn bản Lão Hạc. + Phương pháp dạy học để đạt được những phẩm chất, năng lực khi dạy văn bản lão Hạc của Nam Cao cho học sinh lớp 8. - Nhiệm vụ: + Nghiên cứu các phẩm chất , năng lực cần được hình thành cho học sinh qua văn bản “Lão Hạc” (Nam Cao). + Nghiên cứu các phương pháp, kĩ thuật dạy học để đạt được những phẩm chất, năng lực mà mục tiêu đã nêu ra. + Tích hợp liên môn để đọc - hiểu truyện ngắn Lão Hạc. 4. Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Điều tra, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, phân loại. 5. Giả thuyết khoa học Nếu đề tài này được nghiên cứu kĩ lưỡng, khoa học nó sẽ cung cấp cho học sinh cũng như đồng nghiệp những hiểu biết cơ bản về phát triển phẩm chất, năng lực khi khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao. 6. Dự báo những đóng góp của đề tài: Với đề tài nhỏ này, nó có thể góp phần nào vào giờ dạy truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao) được tốt hơn, định hướng cho học sinh những phẩm chất , năng lực cơ bản và vì thể học sinh có cảm hứng hơn khi học các tác phẩm văn học hiện thực phê phán nói chung và truyện ngắn Lão Hạc nói riêng. Phần II. Giải quyết vấn đề. 1.Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu a.Cơ sở lí luận: Nghị Quyết 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 – khóa XI đã nêu rõ yêu cầu: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Trong đó đổi mới giáo dục phố thông được xem là khâu đột phá. Nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục phố thông là sự phát triển năng lực người học, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước”. Nguyễn Vinh Hiển (Thứ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo) cũng khẳng định: “Dạy học phát triển năng lực là đổi mới căn bản cốt lõi nhất của đối mới giáo dục hiện nay”. Vậy năng lực và năng lực trong môn Ngữ văn được hiểu như thế nào? Chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả của một yêu cầu nào đó trong một hoàn cảnh nhất định. Còn năng lực Ngữ văn được xác định là khá năng của mỗi học sinh thể hiện trong việc thực hiện mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ mà các em đã có sẵn hoặc tiếp thu được để vận dụng trong quá trình học tập, đề từ đó hình thành và phát triển các năng lực Ngữ văn: năng lực giao tiếp Tiếng Việt, năng lực tiếp 6
- nhận văn bản, năng lực cảm thụ thẩm mỹ. Bên cạnh những năng lực như trên môn Ngữ văn cũng cần hình thành và phát triển cho các em những phẩm để trở thành những công dân tốt, sống gương mẫu đó là: yêu gia đình, quê hương, đất nước; lòng nhân ái, khoan dung; tính trung thực, lòng tự trọng, sự tự tin, tự chủ; sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội; nghĩa vụ công dân đó là những phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi công dân. Qua mỗi tác phẩm văn học các em có cơ hội để trau dồi phẩm chất đạo đức, điều chỉnh hành vi của bản thân phù hợp với chuẩn mực xã hội. Có thể nói rằng môn Ngữ văn là một trong những môn học có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Để dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu kĩ những phẩm chất, năng lực có trong tác phẩm và cần hình thành cho học sinh những phẩm chất, năng lực nào ; bên cạnh đó giáo viên phải có phương pháp dạy học linh hoạt, phù hợp với đối tượng. Học sinh là trung tâm, chủ thể của hoạt động tiếp cận tác phẩm. Vấn đề tôi hướng đến ở đây là khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Trước tiên xuất phát từ ý tưởng: làm thế nào để dạy – học tác phẩm các em thấy hào hứng, khấn khới, gần gũi với cuộc sống. Các em biết vận dụng những phẩm chất năng, năng lực đã có và cần có để tiếp nhận văn bản một cách chú động, sáng tạo. b. Cơ sở thực tiễn: Xuất phát từ thực tiễn nhiều năm trực tiếp giảng dạy Ngữ Văn 8, bước đầu tôi cảm nhận được: muốn học sinh hứng thú với môn học, muốn có hiệu quả trong giảng dạy Ngữ văn chúng ta không thể dạy những gì cao xa, quá chú trọng về kiến thức mà quên đi những phẩm chất, năng lực mà tác phẩm vốn có. Làm cho các em thấy được những phẩm chất đẹp đẽ trong tác phẩm chúng ta cần phải học tập, bởi tình cảm trong tác phẩm văn học là tình cảm đẹp, thẩm nhuần tư tưởng nhân văn, văn học là nhân học. Bên cạch đó các em có nhiều năng lực, đặc biệt năng lực đọc - hiểu văn bản, năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mỹ làm cho các em năng động, sáng tạo, tự tin vào bản thân hơn. Để làm được điều đó trong quá trình dạy học giáo viên không thể không đổi mới phương pháp dạy học để phát huy vai trò của chủ thế học sinh. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao là tác phẩm đặc sắc viết về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Qua nhân vật Lão Hạc, chúng ta cảm nhận được cuộc sống bần cùng, bế tắc nhưng có phẩm chất vô cùng đáng quý: thương con, giàu lòng tự trọng, chu đáo,... Nhân vật ông giáo – hiện thân của tác giả cũng sống gần gũi, chia sẻ, yêu thương .Đây là những phẩm chất đáng quý mà trong quá trình dạy học giáo viên cần làm cho học sinh cảm nhận được. Nhưng thực tế nhiều em còn hiểu mơ hồ về phẩm chất của Lão Hạc, nguyên nhân cái chết của Lão Hạc, chưa hiểu về tình cảm ông giáo đối với Lão Hạc - tấm lòng nhân đạo của tác giả gửi gắm qua nhân vật ông giáo do giáo viên chưa chú trọng nghiên cứu những phẩm chất, năng lực cần hình thành và phát triển trong văn bản Lão Hạc. Lão Hạc của Nam Cao là một văn bản hay, giàu giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, sử dụng triết lí đạt đến bậc thầy nhưng thực tế nhiều năm giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp khi dạy văn bản này ở trường THCS tôi nhận thấy 7
- có những vấn đề chưa ổn như: giáo viên chỉ tập trung tìm hiểu nội dung kiến thức một chiều theo câu hỏi có sẵn trong sách giáo khoa mà chưa có những tìm tòi nghiên cứu về những phẩm chất, năng lực học sinh đã có và cần có trong văn bản. Chính vì thể, học sinh nắm bài hời hợt, thiếu chiều sâu, kiến thức khô khan, không gắn với thực tế. Khó hình thành và phát huy được tình cảm đẹp, giàu giá trị thẩm mĩ, đó là lòng yêu thương con người – giá trị nhân đạo của tác phẩm. Trong khi đó Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Tác phẩm Lão Hạc viết về đề tài người nông dân trước Cách mạng Tháng tám là tác phẩm được bạn đọc đón nhận từ trước tới nay bởi tính nhân bản của nó. Nói như Maxin Malien “Những cuộc chiến tranh đi qua, những trang lịch sử của từng dân tộc được sang trang. Nhưng những tác phẩm đi xuyên qua mọi thời đại, mọi nền văn hóa ngôn ngữ, cuối cùng vẫn nằm ở tinh thần nhân bản của nó. Văn học cuối cùng là viết về trái tim của con người”. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao là một tác phẩm như thế. Xuất phát từ suy nghĩ đó, trong khi được phân công giảng dạy nhiều năm liên tiếp Ngữ văn 8 và dự giờ đồng nghiệp, tôi đã phát một số phiếu điều tra học sinh để giúp bản thân cũng như đồng nghiệp có cái nhìn đúng đắn hơn nhằm điều chỉnh phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh khi dạy văn bản “Lão Hạc” của Nam Cao. 2.Những số liệu điều tra, khảo sát thực tế, thực trạng tại đơn vị Trong khi dự giờ đồng nghiêp, tôi đã làm một số câu hỏi khảo sát như sau: Câu hỏi: • Đánh dấu x vào lựa chọn đúng. Câu 1. Theo em trong tác phảm Lão Hạc; Lão Hạc hiện lên là con người như thế nào? A. Là người có số phận đau thương B. Là người nông dân sống ích kỉ đến gàn dở, ngu ngốc C. Là người nông dân có số phận đau thương những có phẩm chất vô cùng cao quý. D. Là người nông dân có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ Câu 2. Ý kiến nào nói đúng nhất nguyên nhân sâu xa khiến Lão Hạc phải lựa chọn cái chết ? A. Lào Hạc ăn phái bả chó B. Lão Hạc ân hận vì trót lừa cậu vàng C. Lão Hạc thương con và lòng tự trọng. D. Lão Hạc không muốn liên lụy đến mọi người Câu 3. Qua cách đổi xứ của ông giáo với Lão Hạc, em hiểu ông giáo là người như thế nào? A. Là người trí thức nghèo B. Giàu tình yêu thương C. Sống gàn gũi với nông dân D. Tất cả các ý trên. • Đáp án: Câu 1- C; Câu 2 - C; Câu 3 - D Tôi đã phát phiếu điều tra cho hai lớp 8A, 8B ở một trường THCS nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy trên địa bàn huyện Hương Khê. Kết quả thu được như sau: 8
- Lớp 8A (Tổng số 30) Lớp 8B (Tổng số 32) Đúng Sai Đúng Sai Sl % Sl % Sl % Sl % Câu A 12 40% 18 60% 16 50% 16 50% 1. B 14 46,7% 16 53,3% 17 53,1% 15 46,9% C 15 50% 15 50% 17 53,1% 15 46,9% Câu A 15 50% 15 50% 18 56,2% 14 43,8% 2. B 16 53,3% 14 46,7% 17 53,1% 15 46,9% C 17 56,7% 13 43,3% 16 50% 16 50% D 17 56,7% 13 43,3% 18 56,2% 14 43,8% Câu A 18 60% 12 40% 16 50% 16 50% 3. B 19 63,3% 11 36,7% 18 56,2% 14 43,8% C 17 56,7% 13 43,4% 17 53,1% 15 46,9% D 18 60% 12 40% 18 56,2% 14 43,8% Như vậy học sinh chưa thực sự hiểu đúng tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao, còn nhiều ý kiến hiểu sai và lệch lạc về hình tượng Lão Hạc, nguyên nhân cái chết của Lão Hạc, nhân vật ông giáo. Điều đó có nghĩa là các em chưa phát huy hết năng lực khi tiếp nhận văn bản Lão Hạc. Do đó thúc đẩy tôi hơn trong công việc làm bài tập này nhằm góp ý kiến nhỏ của mình nâng cao hiểu biết, nhận thức cho học sinh để từng bước giúp các em tiếp nhận được văn bản được tốt hơn. 3. Phân tích, đánh giá những vấn đề thực tiễn. Trong ba câu hỏi trên tôi chú ý đến số phận và phẩm chất của Lão Hạc, nguyên nhân dẫn đến cái chết của Lão Hạc là do thương con và lòng tự trọng; hiếu về nhân vật ông giáo cũng sống gần gũi, sẻ chia và giàu tình yêu thương. Những câu hỏi này hướng đến kiểm tra những phẩm chất có ở nhân vật và năng lực đọc - hiểu của học sinh nhưng xem ra nhiều em học sinh hiểu mơ hồ, chỉ khoảng một nửa số lượng học sinh làm đúng, điều đó cho thấy kết quả học tập của các em chưa cao, chưa thật sự hiểu đúng, cảm đúng năng lực tiếp cận còn hạn chế. Vậy nguyên nhân do đâu? Từ thực tế giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp tôi rút ra được một số nguyên nhân như sau: Thứ nhất: do giáo viên chưa chú ý đến những phẩm chất, năng lực mà học sinh đã có và cần có và những phẩm chất, năng lực có thể có trong tác phẩm Lão Hạc để hình thành cho học sinh. Vì thế mà hầu hết các em nắm bài mơ hồ dẫn đến trả lời sai. Thứ hai: do giáo viên chưa chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, chưa chú trọng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy vai trò của người học, tinh thần tự học, sáng tạo của học sinh. Thứ ba: giáo viên chưa chú trọng tích hợp môn Ngữ văn với các môn học khác như: lịch sử, giáo dục công dân, mĩ thuật, âm nhạc phim ảnh Tích hợp với kiến thức môn lịch sử để thấy tác phẩm sáng tác trong hoàn cảnh đất chưa dành được độc lập, người dân chưa được giải phóng. Đời sống nhân dân còn chịu nhiều đau thương mất mát, chịu nhiều áp bức bất công. Chưa tích hợp với chủ đề đạo đức trong môn giáo dục công dân để thấy được vai trò của tình thương – lòng nhân đạo của con người 9
- Từ những kết quả thu về như trên làm tôi băn khoăn suy nghĩ, trăn trở rất nhiều. Tôi nghĩ làm thế nào để dạy tốt văn bản Lão Hạc của Nam Cao. Sau khi giảng dạy và đi dự giờ đồng nghiệp tôi đã rút ra được cho mình các giải pháp. 4. Các giải pháp thực hiện. Trong khi dạy truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao với hệ thống câu hỏi - những nhiệm vụ tôi giao cho học sinh với các mức độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao. Phối hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại; tích hợp kiến thức liên môn, tôi hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực như sau: - Năng lực đọc – hiểu: Năng lực đọc – hiểu là năng lực đặc thù của môn Ngữ văn. Đọc để hiểu về vị trí tác giả, thời đại, đề tài, phong cách sáng tác, đặc điểm xây dựng nhân vật cũng như nội dung, nghệ thuật văn bản; các năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ cũng nhằm thể hiện năng lực đọc hiểu. Trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản Lão Hạc theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực tôi đã xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với bốn cấp độ tư duy, đồng thời chú trọng đổi mới phương pháp dạy học. Bởi “Tác phẩm văn học là một chỉnh thể hoàn chỉnh từ đầu đến cuối gồm các cấp độ: ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu và cấp độ chỉnh thể. Người đọc phải có trình độ văn hóa ngôn ngữ mới qua được cấp độ ngôn ngữ, phải có kinh nghiệm sống mới qua được cấp độ hình tượng; phải có trình độ văn hóa nghệ thuật mới qua được cấp độ kết cấu và phải có tư tưởng thẩm mĩ tích cực đối với đời sống mới chiểm lĩnh hết cấp độ chỉnh thể” (Tác phẩm văn học là một chỉnh thể - Lí luận văn học). * Ở khâu dặn học sinh chuẩn bị bài: trước khi học văn bản Lão Hạc, tôi dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà một cách chu đáo về phần tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm; cũng như phần tìm hiểu chi tiết văn bản: phần phân tích, cảm nhận về các đặc điểm của nhân vật; nội dung, nghệ thuật văn bản. (phát triển năng lực tự học). Theo tôi năng lực tự học có vai trò vô cùng to lớn bởi đây là tiền đề cho các năng lực khác. Các em muốn trao đổi, thảo luận, hợp tác thì các em phải tự chú động chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên và giáo viên cũng phải tạo cơ hội cho các em thể hiện mình thì đổi mới phương pháp dạy học mới phát huy hiệu quả. * Ở khâu lên lớp, phần đọc hiểu chung khi giới thiệu về tác giả, tác phẩm, tôi hướng dẫn học sinh trong quá trình chuẩn bị bài ở nhà, các em ngoài sách giáo khoa, sách tham khảo, các em vào mạng intenet. Đến lớp các em hồi tưởng lại cùng bạn, thầy cô báo cáo, chia sẻ kết quả tự học: + về tác giả: năm sinh - năm mất, quê quán, tác phẩm chính, đề tài sáng tác, vị trí, phong cách sáng tác. Giáo viên sử dụng phương pháp truyền thống thuyết trình thêm cuộc đời, sự nghiệp nhà văn Nam Cao + Về tác phẩm: hoàn cảnh sáng tác. Tích hợp với kiến thức lịch sử giai đoạn 1932-1945, làm rõ hoàn cảnh xã hôi Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. (Năng lực tự học, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, mức độ tư duy: nhận biết, hoạt đông cá nhân). 10
- * Ở phần đọc hiểu chi tiết: Trong quá trình học sinh cùng thảo luận, bàn bạc, trao đổi với nhau để giải quyết vấn đề giáo viên nêu ra học sinh cùng thảo luận nhóm, sử dụng kĩ thuật dạy học như kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật chia nhóm, ví dụ: tìm – hiêu chi tiết miêu tả tâm trạng Lão Hạc sau khi bán cậu vàng; nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật; chi tiết miêu tả cái chết của Lão Hạc (Phương pháp thảo luận nhóm - Năng lực hợp tác ) Trong khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu, hệ thống câu hỏi của tôi theo mức độ từ dễ đến khó. Có những câu hỏi buộc học sinh phải huy động khá năng tư duy ở mức độ cao nhằm phát hiện được vấn đề, đề xuất được giải pháp thực hiện. Đánh giá và lí giải những vấn đề còn, mơ hồ, khó hiểu trong nội dung và nghệ thuât. Ví dụ: có ý kiến cho rằng: “Nếu Lão Hạc là người ham sống, lão còn có thể sống, thậm chí là sống lâu nữa là đằng khác. Vì Lão còn có ba mươi đồng, ba sào vườn có thể bán ăn dần”. Vậy vì sao lão lựa chọn cái chết? (Phương pháp thảo luận nhóm, kĩ thuật đặt câu hỏi - Năng lực giải quyết vấn đề) Bản chất của văn chương là hướng đến cái đẹp, tìm đến cái đẹp trong cuộc sống con người. Đọc hiểu văn bản là cơ hội tốt nhất để phát triển năng lực thẩm mỹ: các em biết nhận diện, thưởng thức và đánh giá cái đẹp trong tác phẩm và ngoài đời sống, biết làm chủ cuộc sống, biết làm chủ cảm xúc của bản thân, biết hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện, cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ, nhận ra vẻ đẹp thẩm mĩ trong văn bản, biết rung cảm, hướng thiện. Ở truyện ngắn Lão Hạc năng lực thẩm mỹ là cảm nhận vẻ đẹp của nghệ thuật xây dựng nhân vật, đánh giá vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật Lão Hạc, ông giáo; hướng phẩm chất của bản thân mình với phẩm chất của nhân vật chính – nhân vật trung tâm Lão Hạc: tình thương, lòng tự trọng, lòng nhân hậu và nhân vật ông giáo về lòng nhân đạo. Khi phân tích về nhân vật Lão Hạc tôi hướng dẫn học sinh cảm nhận nhân vật lão Hạc là một nông dân có có cuộc sống bần cùng, bế tắc, bi thương nhưng có nhân cách cao thượng với những phẩm chất đáng quý: tình yêu thương, lòng tự trọng (phương pháp thảo luận nhóm, phát triển năng lực hợp tác, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ, mức độ thông hiểu): - Tình yêu thương: tình yêu thương của Lão Hạc dành cho con trai, cậu vàng, qua hành động Lão Hạc bán câu vàng gửi vườn, tiền cho ông giáo nhờ ông giáo giữ hộ rồi tìm đến cái chết.Tình yêu thương con nồng nàn sâu sắc của lão Hạc là câu chuyện cảm động về tình cha con. Thương nhớ con lão dồn tình cảm quý mến cậu vàng và cũng vì thương con nên lão đi đến quyết định bán cậu vàng. Đây là cơ hội giáo dục cho các em phẩm chất yêu thương. Người con cần phải làm gì để bù đắp tình phụ tử thiêng liêng đó. Phẩm chất giàu tình yêu thương của Lão Hạc mà trong khi đọc – hiểu các em đã rút ra được khi trả lời câu hỏi: nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết của Lão Hạc? hiểu được vì thương con mà Lão Hạc phải chọn đến cái chết). Khi dạy văn bản Lão Hạc tôi đã cho học sinh đóng vai con trai Lão Hạc trở về sau Cách mạng tháng Tám để thăm cha. Học sinh cũng đóng vai tưởng tượng rất tốt: thể hiện được sự ân hận, lòng hiểu thảo của con đối với người cha đáng kính của mình. Đây cũng là phẩm chất giàu tình yêu thương của Lão Hạc mà trong khi đọc – hiểu các em đã rút ra được khi trả lời câu hỏi nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết của Lão Hạc. 11
- Qua nhân vật ông giáo, giáo viên cũng cho học sinh thấy được thái độ trân trọng, lòng thương người của ông giáo đối với lão Hạc: gần gũi, giúp đỡ, chia sẻ khó khăn, động viên về vật chất, tinh thần Ông giáo là hiện thân của tác giả Nam Cao một người trí thức ngèo, sống gần gũi và am hiểu tầng lớp nông dân, có lòng nhân đạo cao cả. - Lòng tự trọng: lòng tự trọng của Lão Hạc được thể hiện qua chi tiêt: “Lão từ chối tất cả những gì tôi cho lão. Lão từ chối gần như hách dịch và lão cứ xa tôi dần dần”. Bằng câu hỏi gợi mở tôi đã làm cho các em thấy được một phẩm chất tốt đẹp nữa của lão Hạc đó là lòng tự trọng. Trong khi tìm hiểu về nhân vật Lão Hạc các em cảm nhận được phẩm chất như trên , tôi đã chú trọng các năng lực như: năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát triển ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ - Tiếp cận phần cuối văn bản, các em phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong quá trình học tập, đề xuất các giải pháp, có cách tiếp cận và có cách cắt nghĩa đúng đắn. Ví dụ: Cùng viết về đề tài người nông dân nhưng Nam Cao không lặp lại Ngô Tất Tố. Em hãy lí giải làm rõ điều đó? (Năng lực tư duy sáng tạo) * Gần kết thúc tiết học ở khâu thực hành ứng dụng tôi giao bài tập cho học sinh làm nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ. Ví dụ 1: Sau khi học xong văn bản Lão Hạc em rút ra bài học gì về cách nhìn nhận, đánh giá con người? Ví dụ 2: Đóng vai con trai Lão Hạc trở về sau Cách mạng tháng Tám kể lại câu chuyện ngày trở về. Muốn phát triển được phẩm chất và năng lực như trên trong quá trình dạy học giáo viên phải phối hợp các phương pháp, kĩ thuật dạy học một cách linh hoạt. Đa dạng các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại: đàm thoại, bình giảng; nêu vấn đề, thảo luận nhóm nhằm phát huy được vai trò của người học, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên chỉ là cố vấn, hướng dẫn và chốt lại trọng tâm vấn đề, các phẩm chất, năng lực cần đạt qua mỗi bài học. Dạy học chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực, giáo viên phải nghiên cứu kĩ những phẩm chất và năng lực nào cần hình thành cho học sinh qua mỗi bài học, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học. Đồng thời trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý đến dạy học tích hợp liên môn. Dạy học tích hợp là tổ chức nội dung dạy học sao cho học sinh có thể huy động nội dung kiến thức, kĩ năng cần thiết thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành các năng lực cần thiết. Ví dụ: khi tìm hiểu hoàn cảnh ra đời tác phẩm Lão Hạc giáo viên cho học sinh tích hợp với kiến thức lịch sử Việt Nam trước Cách mạng Tháng tám 1945. Khi giới thiệu bài mới, tích hợp với âm nhạc phim ảnh cho học sinh nghe, xem cảnh tiêu điều xơ xác nông thôn trước Cách mạng Tháng tám qua trích đoạn phim: “Làng Vũ Đại ngày ấy”. Tích hợp với phần đạo đức của bộ môn Giáo dục công dân để hiểu những phẩm chất đạo đức của nhân vật Lão Hạc. 12
- Ngoài những giải pháp như trên để dạy văn bản Lão Hạc theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực đòi hỏi giáo viên phải có những kiến thức sâu, rộng về thời đại tác giả Nam Cao sống, về phong cách sáng tác cũng như tác phẩm Lão Hạc để trong quá trình hướng dẫn học sinh học đọc – hiểu, giáo viên dừng lại giảng bình cho học sinh để các em có ẩn tượng sâu sắc về tác phẩm: Thứ nhất: ở phần tìm hiểu tác giả, sau khi học sinh trả lời các câu hỏi, giáo viên thuyết trình thêm cho học sinh hiểu thời đại tác giả Nam Cao. Giai đoạn 1930- 1945 là giai đoạn đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt. Từ đó dẫn đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng và ý thức hệ. Những sự tác động qua lại hết sức phức tạp của các khuynh hướng và phương pháp khác nhau. Nam Cao là nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc của giai đoạn này. Sự nghèo đói, thất nghiệp luôn rình rập, vồ chầm lấy nhà văn như muốn đẩy nhà văn tới đường tuyệt vọng. Song với bản lĩnh nghề nghiệp, ăn nói ôn tồn nhiều khi đến rụt rè lại mang trong mình một sự phản kháng mảnh liệt. Nam Cao đã không do bất mãn cá nhân mà hằn hộc, thù ghét cả “giống người”. Trong con người lạnh lùng khó gần ấy là một tâm hồn chan chứa yêu thương, là sự gắn bó với nông dân. Nam Cao là một nhà văn rất có ý thức trong việc tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật. Quan điểm của ông nhà văn phải là những người “ khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có”. Ông phê phán những người làm công việc nghệ thuật mà “Thấy người ta ăn khoai mình cũng vác mai đi đào”. Đặc biệt ông phê phán quyết liệt đối với những người có cái nhìn phiến diện về người nông dân, không hiểu những phẩm chất, nhân cách cao đẹp của họ. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nam Cao là người bắt nhịp khá nhanh với thời đại. Lúc bấy giờ nhiều nhà văn, nhà thơ chưa biết lựa chọn con đường nào th́ Nam Cao đã mạnh dạn đi theo cách mạng. Ngòi bút của ông hướng về cuộc sống mới - Cuộc sống cách mạng. Nam Cao đã ngã xuống trong chiến dịch biên giới năm 1951 trong lúc đi công tác, Những gì mà nhà văn đóng góp luôn được người đời ghi nhận. Chính vì thể tác phẩm của Nam Cao sống mãi với bạn đọc. Nam Cao trở thành một trong những tác giả lớn của nền văn học Việt Nam. Thứ hai: ở phần tìm hiểu tác giả, đọc – hiểu văn bản, sau khi học sinh trả lời các câu hỏi, giáo viên cung cấp thêm cho học sinh hiểu phong cách sáng tác của Nam Cao. Nam Cao là nhà văn đa phong cách với bản lĩnh nghệ thuật già dặn trong đó nổi lên ba đặc điểm tiêu biểu: chất triết lý, suy ngẫm; chất trữ tình; đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật. Tác phẩm của Nam Cao hầu như không có sự bịa đặt mà xuất phát từ hiện thực. Những sự vật hết sức tầm thường, quen thuộc được Nam Cao đưa vào văn, trở thành vấn đề xã hội mang ý nghĩa to lớn. Chúng ta đọc văn Nam Cao vừa thấy được cái cụ thể quen thuộc, lại vừa bất ngờ mới mẻ. Truyện Nam Cao thường đậm đà ý vị triết lý mang nặng suy ngẫm. Đó là suy nghĩ vắt ra từ thực tế cuộc sống vất vả, lầm than từ những giằng xé của một tâm hồn trung thực cố bám sát vào cuộc sống vươn tới chân lý. Nó xa lạ với cái tôi cá nhân của chủ nghĩa bế tắc. Chất suy ngẫm đã khiến những trang truyện của Nam Cao có chiều sâu, mang màu sắc riêng. Chẳng hạn trong tác phẩm Lão Hạc có những câu triết lý: “ Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ối... không bao giơ ta thấy họ đáng thương, 13
- không bao giờ ta thương Một người đau chân có lúc nào quen được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu?” (Lão Hạc – Nam Cao) Chất trữ tình trong tác phẩm của Nam Cao cũng hết sức đặc sắc. Nam Cao không hề né tránh những khía cạnh phức tạp, xù xì của hiện thực và để cho cảm xúc chủ quan che lấp thực tế khách quan. Nhưng đằng sau sự phán ánh hiện thực một cách lạnh lùng là một thái độ đau xót của nhà văn. Nhà văn thường xen lẫn tự sự với trữ tình, vừa kế chuyện vừa tham gia vào câu chuyện bằng những suy nghĩ triết lý đầy chất trữ tình. Có khi Nam Cao bước hẳn vào tác phẩm trực tiếp đứng ra phát biểu và kế chuyện. Trong truyện ngắn Lão Hạc tác giả đóng vai ông giáo kể chuyện Lão Hạc. Tác giả quá thương xót cho số phận của một con người, của một tầng lớp bần cùng trong xã hội. Ông đã nói: “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn...Không ! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác” (Lão Hạc – Nam Cao). Có thể nói Nam Cao đau trước nỗi đau của nhân vật, buồn trước nỗi buồn của nhân vật. Ngoài chất suy ngẫm triết lý và chất trữ tình Nam Cao đặc biệt đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật. Miêu tả nhân vật ông không chú trọng miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ để bộc lộ phẩm chất, tính cách nhân vật như các nhà văn khác; có chăng đó chí là cái nền để ông soi rọi vào bên trong. Miêu tả về Lão Hạc tác giả tập trung vào khuôn mặt với những điệu bộ, cử chí của người già để bộc lộ nội tâm nhân vật. Nam Cao nắm vững quy luật tâm lý của con người và rất chú ý diễn biến tâm lý nhân vật. Chắc hắn không có một nhà văn nào miêu tả chân thực cụ thể sinh động nỗi đau của người già như Nam Cao . Cách miêu tả của Nam Cao đã phản ánh chính xác tuần tự diễn biến tâm trạng đau đớn cứ dâng lên không kìm nén được: “Cười như mếu” (muốn khóc), nỗi đau dâng lên cao hơn “Đôi mắt lão ầng ậc nước” và đính điểm “lão hu hu khóc”. Cách miêu tả tâm lý của Nam Cao vô cùng mới mẻ nhưng cũng rất tự nhiên, hợp với cái lôgic nội tại của tính cách người già. (Lão Hạc – Nam Cao) Với ba đặc điểm như trên cho ta thấy Nam Cao bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ gọt dũa. Có phong cách sáng tác riêng, không ai có thể sánh kịp. Thứ ba: trong phần tìm hiểu chung tác phẩm Lão Hạc giáo viên bình thêm: Lão Hạc là tác phẩm xuất sắc nhất viết về đề tài người nông dân. Tác phẩm ra đời năm 1943 đã thực sự gây ra tiếng vang lớn trên văn đàn. Có hai nhân vật chính là Lão Hạc và ông giáo, trong đó nhân vật trung tâm được nói đến là Lão Hạc. Lão Hạc là một nông dân sống túng quẫn trước Cách mạng Tháng Tám. Cuộc sống bế tắc. Lão Hạc nghèo nhưng không hèn, không phái vì miếng ăn mà quỵ lụy kêu xin ai. Thậm chí đoán vợ ông giáo hơi có phàn nàn về sự giúp đỡ của ông giáo đối với mình là Lão đã láng tránh ông giáo. Lòng tự trọng đến mức không muốn sau khi mình chết còn bị người đời khinh rẻ. Lão Hạc rất mực thương con vì nhà nghèo mà hạnh phúc bị dang dở. Lão thương con và hiểu nỗi đau của con. Cả đời Lão sống tằn tiện, chăm chỉ làm việc để vun vẻn cho con. Đói kém, ốm đau sắp chết Lão vẫn giữ cho con mánh vườn. Cuối cùng người cha ấy đã chọn cho mình cái chết, chứ không thể sống bê tha, bất lương cũng là để lại cho con tiếng thơm ở đời, không phải cúi mặt hổ thẹn trước bà con làng xóm. Đoạn trích (chữ to) là phần cuối tác phẩm. Đây là một đoạn văn đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật. Thể hiện một cách chân thực, cảm 14
- động số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. Đồng thời, truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương trân trọng đối với người nông dân và tài năng nghệ thuật xuất sắc của nhà văn Nam Cao. Đặc biệt trong việc miêu tả tâm lý nhân vật và cách kể chuyện. 5. Kết quả nghiên cứu: Sau quá trình nghiên cứu tôi đã hướng dẫn học sinh khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực, chú trọng đổi mới phương pháp dạy học – phát huy vai trò của chủ thể trong quá trình học tập, lấy học sinh làm trung tâm. Tôi nhận thấy trong giờ học, học sinh làm việc tích cực, hứng thú. Số lượng học sinh hiểu bài nhiều hơn. Đặc biệt các em biết phát huy những phẩm chất và năng lực mà các em đã có để tiếp nhận văn bản Lão Hạc một cách nhẹ nhàng, không gò bỏ, gưỡng ép. Tôi đã áp dụng khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh lớp 8B trường tôi đang dạy. Sau khi dạy xong tôi lấy ba câu hỏi đã điều tra, khảo sát ở các lớp đồng nghiệp dạy hôm trước, phát cho học sinh lớp 8 B hiện tôi đang dạy. • Đánh dấu x vào lựa chọn đúng. Câu 1. Theo em trong tác phảm Lão Hạc; Lão Hạc hiện lên là con người như thế nào? A. Là người có số phận đau thương. B. Là người nông dân sống ích kỉ đến gàn dở, ngu ngốc. C. Là người nông dân có số phận đau thương những có phẩm chất vô cùng cao quý. D. Là người nông dân có sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ. Câu 2. Ý kiến nào nói đúng nhất nguyên nhân sâu xa khiến Lão Hạc phải lựa chọn cái chết ? A. Lào Hạc ăn phái bả chó. B. Lão Hạc ân hận vì trót lừa cậu vàng. C. Lão Hạc thương con, lòng tự trọng. D. Lão Hạc không muốn liên lụy đến mọi ngườ. Câu 3. Qua cách đổi xứ của ông giáo với Lão Hạc, em hiểu ông giáo là người như thế nào? A. Là người trí thức nghèo B. Giàu tình yêu thương C. Sống gàn gũi với nông dân D. Tất cả các ý trên. • Đáp án: Câu 1- C; Câu 2 - C; Câu 3 - D Kết quả thu được như sau: 15
- Lớp 8B ( Tổng số 32) Đúng Sai Sl % Sl % Câu 1. A 31 96,8% 1 3,2% B 30 93,7% 2 6,3% C 30 93,7% 2 6,3% Câu 2. A 32 100% 0 0% B 31 96,8% 1 3,2% C 30 93,7% 2 6,3% D 30 93,7% 2 6,3% Câu 3. A 31 96,8% 1 3,2% B 32 100% 0 0% C 30 93,7% 2 6,3% D 31 96,8% 1 3,2% Cũng ba câu hỏi trên tôi phát cho học sinh lớp 8A - lớp không áp dung đổi mới khai thác văn bản Lão Hạc của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực, thì kết quả thu được là như thế này. Lớp 8A (Tổng số 30) Đúng Sai Sl % Sl % Câu 1. A 12 40% 18 60% B 14 46,7% 16 53,3% C 15 50% 15 50% Câu 2. A 16 53,3% 14 46,7% B 17 56,6% 13 53,4% C 16 53,3% 14 46,7% D 17 56,6% 13 53,4% Câu 3. A 19 63,3% 11 36,7% B 17 56,6% 13 53,4% C 16 53,3% 14 46,7% D 17 56,6% 13 53,4% Như vậy, nhìn vào kết quả thu về của hai lớp 8B và 8A ta thấy được vị trí, vai trò của đề tài này. Cùng một giáo viên dạy nhưng thực hiện ở hai lớp với hai mục tiêu, phương pháp khác nhau thì kết quả thu được sẽ khác nhau. Lớp 8B có kết quả rất tốt, hầu như các em hiểu bài, vận dụng vào làm bài tập dễ dàng. Điều đó chứng tỏ đã phát huy được các phẩm chất và năng lực khi dạy văn bản Lão Hạc. Ngược lại với kết quả của lớp 8A, số lượng mới hơn một nửa học sinh làm đúng các bài tập, phần còn lại làm sai. Qua đó chứng tỏ hoc sinh lớp 8A nhiều em nắm 16
- bài chưa tốt và mức độ vận dụng chưa cao, chưa hiểu được phẩm chất đáng trân trong của hai nhân vật chính Lão Hạc và ông giáo. Có so sánh giữa hai lớp 8B với 8A như thế chúng ta mới thấy được tác dụng to lớn của đề tài. Phải nói rằng kể từ giờ học văn bản Lão Hạc của Nam Cao đối với các em học sinh lớp 8B sẽ là một giờ học đáng nhớ, nó sẽ đi theo các em suốt cuộc đời. C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Tài liệu tham khảo: Để viết được đề tài này là cả một quả trình nghiên cứu, tìm tòi trong sách vở, vào mạng google cũng như qua thực tế giảng dạy và dự giờ đồng .Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng các tài liệu: - Sách giáo khoa Ngữ văn 8 Tập 1, nhà xuất bản Giáo dục (2004) - Thiết kế bài soạn Ngữ văn 8 của Bộ giáo dục 2003, - Sách giáo viên Ngữ văn 8 Tập 1 của Bộ giáo dục 2003, - Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở trường THCS 2002, - Ngữ văn 8 nâng cao, nhà xuất bản Giáo dục (2004) - Sách bài tập trắc nghiệm ngữ văn 8, nhà xuất bản Giáo dục (2004) - Sách bình giảng Ngữ văn 8, nhà xuất bản Giáo dục (2004) - Các phẩm chất và năng lực trong dạy học nói chung và đặc thù bộ môn ngữ văn theo chương trình giáo dục tổng thể của bộ Giáo dục – Đào tạo. - Các phương pháp dạy học phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh Trung học cơ sở - Module14THCS xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp. 2. Ý nghĩa của đề tài + Đối với bản thân tôi, tôi nhận thấy mình tự tin hơn, chững chạc hơn, phát triển các phẩm chất và năng lực các em đã có để tiếp nhận văn bản một cách nhẹ nhàng, tình cảm. Hình thành được cho các em nhiều năng lực: năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại, năng lực phát triển ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ Nhưng cơ bản nhất là năng lực thẩm mỹ - thấy được tình yêu thương giữa con người và con người trong cuộc sống mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc; “văn học bắt nguồn từ trái tim”. Hướng dẫn được học sinh khai thác văn bản “Lão Hạc” của Nam Cao theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Học sinh học bài nhẹ nhàng mà kết quả hiểu và vận dụng rất tốt. Tôi đã sử dụng vào giảng dạy trong năm học 2018– 2019; các đồng nghiệp đã dự giờ và có những đánh giá cao về tính thực tiễn của đề tài. + Với tập thể đồng nghiệp: là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn bè đồng nghiệp khi dạy văn bản “Lão Hạc” (Nam Cao). Tôi tin chắc rằng nếu như giáo viên chịu khó nghiên cứu, tìm tòi, chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp thì sẽ dạy tốt và do vậy học sinh sẽ rất hứng thú khi học văn bản này. 3. Những kiến nghị, đề xuất. a, Kiến nghị Từ kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi rút ra những kiến nghị sau đây: 17
- - Giáo viên phải nghiên cứu kĩ các phẩm chất và năng chung, năng lực chuyên biệt thuộc môn Ngữ văn. Các phẩm chất, năng lực cần hình thành và phát triển qua văn bản Lão Hạc của Nam Cao. - Giáo viên phải xác định được những nội dung kiến thức có liên quan của bộ môn Ngữ văn với nội dung kiến thức của các môn học khác để tích hợp. - Trong quá trình dạy học giáo viên cần phải triệt để hơn nữa về việc đổi mới phương pháp giảng dạy – Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cần phải nắm chắc từng đối tượng học sinh để có phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh có hiệu quả - Cần chuẩn bị chu đáo cho việc thiết kế bài dạy để giờ học đạt hiệu quả cao hơn. Giáo viên cần tích cực tự học, tìm hiểu kiến thức có liên quan đến bài dạy, rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, tích cực dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp để có phương pháp và kỹ thuật dạy học. - Tránh cách dạy rập khuôn máy móc dẫn đến việc học sinh khó tiếp nhận kiến thức, cần quan tâm đến dạy học văn bản phù hợp với đặc trưng bộ môn. - Phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, tích cực trong hoạt động học, tăng cường giao tiếp giữa giáo viên và học sinh để tạo được mối liên hệ gần gũi trong quá trình giảng dạy. b. Đề xuất: Để công tác giảng dạy ngày càng hiệu quả hơn bản thân đề nghị Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên trong quá trình dạy học được tập huấn nhiều hơn về dạy học phát triển phẩm chất, năng lực; khuyến khích và tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề về chuyên môn để giáo viên có điều kiện học tập, đúc rút kinh nghiệm về dạy học phát triển phẩm chất, năng lực. Mặt khác đề nghị Phòng giáo dục tổ chức việc bồi dưỡng giáo viên qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, tổ chức hội thảo về dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Trên đây là những kinh nghiệm của cá nhân trong quá trình nghiên cứu và thực hiện. Với thời gian và kinh nghiệm chưa nhiều vì vậy còn có những hạn chế, nên bản thân rất mong được sự góp ý và bổ sung của đồng nghiệp để việc áp dụng vấn đề vào giảng dạy đạt hiệu quả cao. Với cách khai thác trên đây tôi đã thiết kế bài dạy như sau: Thiết kế bài dạy: Tiết 13- 14. Văn bản: Lão Hạc (Nam Cao) I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT. 1. Kiến thức: Giúp học sinh thấy được tình cánh khốn cùng và nhân cách cao quý của nhân vật Lão Hạc, qua đó hiểu thêm số phận đáng thương và vẻ đẹp tâm hồn đáng trọng của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. - Thấy được lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn Nam Cao trước số phận của người nông dân cùng khổ (chủ yếu qua nhân vật ông giáo), thương cảm, xót xa và thật sự trân trọng đối với người nông dân nghèo khổ 18
- - Bước đầu hiểu được đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Nam Cao: khắc họa nhân vật tài tình, cách kể chuyện tự nhiên hấp dẫn, sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình và triết lý 2. Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích và tìm hiểu nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, qua bộ dạng, cử chỉ 3. Thái độ, phẩm chất. - Bồi dưỡng tình yêu thương con người, nhất là với những con người cùng khổ. - Biết cảm thông, chia sẻ với những số phận khổ đau, bi thảm, biết tin vào những phẩm chất cao đẹp của con người. 4. Định hướng phát triển năng lực cho học sinh * Năng lực chung: Năng lực tự học. Năng lực giải quyết vấn đề. Năng lực sáng tạo. Năng lực hợp tác * Năng lực bộ môn: Năng lực đọc - hiểu văn bản. Năng lực giao tiếp Tiếng Việt. Năng lực cảm thụ thẩm mĩ II. PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN, HÌNH THỨC VÀ CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC * Phương tiện dạy học - Giáo viên: Nghiên cứu Sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, tài liệu tham khảo Chuẩn bị máy chiếu, phiếu học tập, giấy A0, bút dạ, ảnh tác giả - Học sinh: Chuẩn bị bài theo hướng dẫn của giáo viên, * Phương pháp dạy học: - Phương pháp dạy học truyền thống: vấn đáp, thuyết trình, - Phương pháp dạy học tích cực: nêu vấn đề, thảo luận nhóm, dạy học tích hợp *Tích hợp trong môn: ngôi kể trong văn bản tự sự, đặc điểm thể loại, * Tích hợp liên môn: - Tích hợp với môn âm nhạc, phim ảnh: (phim: Làng Vũ Đại ngày ấy) - Môn Lịch sử: Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945 - Giáo dục công dân: các phẩm chất đạo đức. * Kỹ thuật dạy học: đặt câu hỏi, chia nhóm, * Hình thức dạy học: cá nhân, nhóm nhỏ ngồi cùng bàn III. Tiến trình hoạt động. • Ổn định tổ chức • Bài cũ: ? Hãy chia sẻ với cô và các bạn những điều em biết về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945? Hãy kể tên một số tác phẩm viết về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám? -Học sinh lên bảng trả lời – học sinh khác nhận xét bổ sung – giáo viên chốt vấn đề. * Bài mới 19
- HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG Giáo viên cho học sinh xem clip khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nông thôn Việt Nam trước cách mạng (trích từ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”) và thuyết trình, giới thiệu vào bài. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH NỘI DUNG CẦN ĐẠT I. Đọc - hiểu chung (Hoạt động cá nhân) Hoạt động 1. Tìm hiểu chung về tác giả. I. Đọc - hiểu chú - Giáo viên chiếu chân dung nhà văn Nam Cao chung a. Tác giả 1. Tác giả, tác phẩm: ? Hãy giới thiệu về tác giả Nam Cao? a. Tác giả: Nam Cao Giáo viên lưu ý học sinh khi tìm hiểu về tác giả: (1915- 1951) tên khai Tên khai sinh; năm sinh – năm mất; quê quán; vị trí; tác sinh là Trần Hữu Tri, phẩm chính; đề tài; phong cách sáng tác quê ở phủ Lý Nhân, tỉnh HS: trên cơ sở chuẩn bị ở nhà, sự hiểu biết của mình Hà Nam. về Nam Cao (Phát huy năng lực tự học - mức độ nhận - Là nhà văn hiện thực biết) xuất sắc với những (Gv sử dụng phương pháp truyền thống thuyết tŕnh, để truyện ngắn, truyện dài học sinh hiểu về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong - Đề tài: người nông dân cách sáng tác của nhà văn Nam Cao; sự khác biệt giữa và người trí thức tiểu tư Nam Cao và Ngô Tất Tố khi viết về đề tài nông dân và sản. Phong cách sáng sự vất vả lận đận khi bước vào làng văn của nhà văn tác. Sau cách mạng sáng Nam Cao). tác phục vụ kháng Gv kiểm tra học sinh một số chú thích chiến. Ông đã hi sinh trên đường đi công tác ở Hoạt động 2. Tìm hiểu chung về tác phẩm vùng sau lưng địch ? Nêu hiểu biết của em về tác phẩm? - Nam Cao được truy (Tích hợp với kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn tặng giải thưởng Hồ Chí 1930 – 1945) Minh về văn học nghệ thuật. b. Tác phẩm: là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất viết Hoạt động 3. về đề tài người nông GV hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm biến đổi giọng dân năm 1943 điệu theo tâm trạng, tình cảm tác giả. 2. Đọc, tóm tắt ? Em hãy tóm tắt cốt truyện theo diễn biến cuộc đời a. Đọc. nhân vật Lão Hạc một cách ngắn gọn? b. Tóm tắt. ? Tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao thuộc thể 3. Thể loại: loại gì? Truyện ngắn ? Truyện kể theo ngôi nào? Ai là người kế chuyện? kể 4. Ngôi kể: ngôi thứ ở ngôi kể ấy có tác dụng gì? nhất ? Em có nhận xét gì về giọng điệu của người kể chuyện 5. Bố cục. trong tác phẩm? ? Ai là nhân vật chính? Thuộc tầng lớp nào trong xã 20

