SKKN Một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS - Nguyễn Đinh Anh

doc 20 trang baochau 09/11/2025 1510
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS - Nguyễn Đinh Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_quan_li_hoat_dong_giao_duc_dao_duc_cho.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS - Nguyễn Đinh Anh

  1. A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do, tính cấp thiết của đề tài Đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt không thể thiếu của hoạt động xã hội của con người và là một hình thái chuyên biệt của xã hội. Cùng với các hoạt động ý thức xã hội khác, đạo đức là nội dung cốt yếu của tính cách con người, có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội. Không thể có sự tồn tại xã hội mà không có đạo đức - nhất là trong điều kiện hiện nay, vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một nước mà là vấn đề "mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tương lai của loài người". (Aurello Peuei - Một trăm trang viết về tương lai). Giáo dục đạo đức cho học sinh có vai trò rất quan trọng, nó góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho các em, giúp trẻ em rèn luyện ý thức, trách nhiệm hành vi công dân ngay từ khi còn nhỏ, biết sống hợp đạo lý và tuân thủ pháp luật. Không thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ xã hội này, sẽ làm cho nhân cách của học sinh phát triển méo mó, nhất là hiện nay, nhiều tác động từ mặt trái của xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức, thái độ, trách nhiệm, hành vi sống của trẻ em. Điều 2, chương 1, luật GD 2019 đã khẳng định: "Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.". Rõ ràng giáo dục đạo đức có vị trí quan trọng bậc nhất trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung. Đạo đức là một trong những cái gốc của nhân cách. Sau hơn ba mươi năm đổi mới, bộ mặt đất nước ta có nhiều thay đổi đáng kể. Kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của chính trị, văn hóa xã hội. Bên cạnh những giá trị tích cực do nền kinh tế thị trường mang lại thì những hạn chế tiêu cực vẫn tồn tại và đang len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Tình trạng xuống cấp về mặt đạo đức ở một bộ phận thanh, thiếu niên đang là vấn đề bức xúc của xã hội. Nên trong quá trình giáo dục việc chú trọng bồi dưỡng, giáo dục đạo đức nhân cách cho thế hệ trẻ là hết sức cần thiết. 1
  2. Trong nhà trường phổ thông hiện nay vẫn còn một số đông giáo viên xem nhẹ vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh mà chỉ chú trọng vào việc giáo dục trí tuệ cho các em (chỉ chú trọng dạy chữ mà không dạy cách làm người). Chính đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xuống cấp về mặt đạo đức của học sinh hiện nay. Tại trường THCS nơi tôi công tác trong những năm qua việc giáo dục đạo đức cho học sinh đã đạt được một số thành tích đáng kể. Tuy nhiên, hiện tượng học sinh bỏ giờ, lười học, không trung thực không phải là ít, Đặc biệt trong thời đại Công nghệ 4.0 đem lại những lợi ích to lớn, song cũng đem lại những mặt trái cho xã hội. Vậy, đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này? Phải chăng do hoạt động giáo dục đạo đức cho các em đã không được giáo viên chú ý? Là cán bộ quản lý, tôi rất trăn trở với chiều hướng đạo đức của học sinh có phần đi xuống. Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS” 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh và quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường, đề xuất một số biện pháp của Ban giám hiệu về việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức ở trường Trung học cơ sở. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trường THCS 3.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường THCS. 4. Giả thuyết khoa học Tại trường THCS, tình trạng đạo đức của học sinh tương đối tốt. Tuy nhiên nếu đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp, khoa học thì chất lượng đạo đức của học sinh sẽ được nâng cao hơn nữa. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường THCS. 5.2. Tìm hiểu thực trạng của công tác giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức tại trường THCS. 2
  3. 5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận 6.2. Phương pháp quan sát 6.3. Phương pháp điều tra viết 6.4. Phương pháp đàm thoại 6.5. Phương pháp thống kê toán học 7. Dự báo đóng góp của đề tài Với đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS” sẽ góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS ngày càng hiệu quả hơn. 3
  4. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Đạo đức Đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt thể thiếu của hoạt động xã hội của con người và là một hình thái chuyên biệt của xã hội. Cùng với các hoạt động ý thức xã hội khác, đạo đức là nội dung cốt yếu của tính cách con người, có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội. Không thể có sự tồn tại xã hội mà không có đạo đức - nhất là trong điều kiện hiện nay vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một nước mà là vấn đề “Mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tương lai của loài người” (Aurello Peuei - Một trăm trang viết về tương lai). Vậy đạo đức là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có một định nghĩa được nhiều người thừa nhận: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc , chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội. Hoặc đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình. 2. Giáo dục đạo đức, mục đích giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Trung học cơ sở 2.1. Giáo dục đạo đức là gì? Giáo dục đạo đức là sự đòi hỏi trẻ không những biết và thừa nhận sự cần tính tất yếu của các phẩm chất đạo đức mà còn phải thực hiện hành vi đạo đức đó, làm mọi việc theo sự hiểu biết của mình cùng với động cơ và tình cảm tích cực. Giáo dục đạo đức là sự tác động có mục đích, có tổ chức từ nhiều phía, với những hình thức khác nhau nhằm hình thành cho con người hành vi phù hợp chuẩn mực đạo đức của xã hội. Vai trò, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức từ xưa đến nay đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều triết gia, nhiều học giả quan tâm và khẳng định: “Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa” (HCM). 4
  5. Giáo dục đạo đức là một trong các mặt giáo dục toàn diện của nhà trường nói chung, của trường THCS nói riêng. Xét đến cùng, giáo dục đạo đức là hình thành kỹ năng hành vi, thói quen đúng chuẩn mực đạo đức cho học sinh. Để hình thành được yêu cầu đó, phải tiến hành hoạt động giáo dục thường xuyên, liên tục, kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội đó là công việc của nhiều lực lượng giáo dục trong, ngoài nhà trường - mối quan hệ giữa giáo dục đạo đức với các mặt giáo dục khác luôn luôn là mối quan hệ chặt, gắn bó khăng khít với nhau. Tóm lại, giáo dục đạo dức là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình, xã hội nhằm hình thành cho các em ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và xây dựng, thể hiện được những thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội. 2.2. Mục đích giáo dục đạo đức - Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức. Học sinh phải hiểu và nhận thấy rằng cần làm cho các hành vi của mình phù hợp với những tư tưởng, nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức của xã hội, phù hợp với lợi ích của xã hội, niềm tin đạo đức được hình thành vững chắc ở các em sẽ có vai trò định hướng cho tình cảm và hành vi đạo đức. - Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc đối với những hiện thực xung quanh, làm cho chúng biết yêu, biết ghét rõ ràng và có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong xã hội và tập thể. Giáo dục thái độ, tình cảm cho học sinh trung học cơ sở là bồi dưỡng cho các em tình cảm đạo đức tích cực, bền vững và các phẩm chất, ý chí. Tình cảm tích cực được hình thành trên cơ sở đúng đắn và được củng cố, khẳng định qua hành vi, ngược lại nó có tác dụng thúc đẩy tạo động cơ cho việc nhận thức chuẩn mực và thực hiện hành vi đạo đức. - Giáo dục cho học sinh hành vi thói quen đạo đức: là tổ chức cho học sinh lặp đi, lặp lại nhiều lần những hành động đạo đức đúng đắn và từ đó có thói quen đạo đức bền vững. 3. Quản lý giáo dục đạo đức ở trường THCS 3.1. Khái niệm về quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển loại người, con người phải luôn luôn lao động để duy trì và phát triển nòi giống. Trong khi lao động cần sự hợp tác của một nhóm người hoặc nhiều người, do sự hợp tác này mà xã hội xuất hiện một loại hình lao 5
  6. động mới mang tính đặc thù là tổ chức điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu nhất định của loại hình lao động đó - hoạt động quản lý, quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu và tổ chức xã hội đề ra. Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển xã hội. Theo Các Mác “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chắc năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác so với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Theo Nguyễn Bá Sơn trong tác phẩm: " Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý" nhà xuất bản chính trị quốc gia 2000 thì: “Quản lý là tác động có mục đích đến những con người để có tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động”. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng có khoa học của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định”. Như vậy khái niệm quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau song có thể hiểu quản lý là một hoạt động có ý thức của con người để đạt được các mục tiêu đặt ra một cách có hiệu quả nhất. Quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Quản lý mang tính khoa học vì hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể. Đồng thời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội. 3.2. Quản lý giáo dục 3.2.1. Khái niệm giáo dục Để tồn tại và phát triển con người phải trải qua quá trình hoạt động trong lao động và trong cuộc sống hàng ngày con người nhận thức thế giới, tích lũy kinh nghiệm từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết đó cho nhau. Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục. 6
  7. Như vậy giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc được kế thừa bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng tiến lên. 3.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục. Nhà nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ. Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung, nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục nhưng chúng ta hiểu một cách cụ thể là: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động. Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ. Bởi vậy, con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản lý giáo dục. 3.3. Quản lý nhà trường Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới muc tiêu giáo dục. Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên và học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại cho rằng: Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn lực dự trữ cho Nhà nước đầu tư lực lượng xã hội đóng góp do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ thực hiện có chất lượng, mục tiêu và khoa học đào tạo đưa nhà trường lên trạng thái mới. Như vậy quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi xác định 7
  8. đó là nhà trường, đơn vị giáo dục. Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở một quy luật chung của quản lý đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục. Do đó quản lý nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý của chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo. 3.4. Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường Trung học cơ sở là tổng hợp các cách thức của Ban giám hiệu tác động đến giáo viên, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục nhân cách cho học sinh. Thực chất của các phương pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là tổ hợp các tác động có ý thức, có kế hoạch đến nhận thức tình cảm, hành vi của đối tượng, nhằm thúc đẩy, kích thích họ thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng đạo đức của học sinh trường THCS 1.1. Tình hình đạo đức của học sinh trong những năm gần đây Trong những năm học gần đây, do ảnh hưởng của tình hình chung, học sinh trường THCS đã có những biểu hiện giảm sút về mặt đạo đức. Qua tìm hiểu và thực tế công tác, tôi nhận thấy học sinh trường THCS còn có những biểu hiện vi phạm đạo đức như: Trong học tập các em tỏ ra thờ ơ với những lời giảng của giáo viên, hiện tượng ăn quà vặt bị nhắc nhở mà không sửa đổi, đi học chậm giờ, gây gỗ với bạn, viết vẽ bậy, về nhà không chịu học bài, thích chơi điện tử, chưa lễ phép với người lớn, ra đường chưa chấp hành luật giao thông, nói tục chửi bậy, không chịu tham gia làm việc nhà, những việc có thể làm Để tìm hiểu rõ hơn thực trạng đạo đức của học sinh trường THCS, tôi đã thống kê cụ thể kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh từ năm học 2017-2018. Bảng 1: Tình hình đạo đức trong năm học 2017-2018 SL Tốt Khá Trung bình Yếu TT Khối HS SL % SL % SL % SL % 1 6 110 90 81.8 15 13.64 5 4.55 0 0 2 7 99 86 86.9 8 8.08 4 4.04 1 1.01 3 8 116 89 76.7 21 18.1 5 4.31 1 0.86 4 9 108 79 73.2 24 22.22 4 3.7 1 0.93 Tổng 433 344 79.5 68 15.7 18 4.16 3 0.69 8
  9. Nhìn vào số liệu ở trên qua từng năm học, ta thấy tỷ lệ xếp loại hạnh kiểm trung bình và yếu tương đối cao. Điều đó cho thấy rằng chất lượng đạo đức của học sinh trong những năm gần đây bị suy giảm, tỷ lệ loại tốt của học sinh ngày càng giảm, tỷ lệ học sinh loại yếu ngày càng tăng. Từ bảng điều tra số liệu trên có thể làm cho bản thân tôi rất trăn trở tại sao lại có sự khác biệt đó? Qua quá trình tìm hiểu cũng như qua điều tra số liệu trên tôi nhận thấy, sở dĩ có sự khác biệt đó là do nhiều nguyên nhân trong đó có có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Đối với trường THCS từ 2016 trở về trước điều kiện địa phương chúng ta đang khó khăn. Đó là vùng miền núi, nên môi trường học tập ở đây rất hạn chế mọi thông tin văn hoá cũng rất khó tiếp cận. Chính vì thế những cái xấu xâm nhập, len lỏi của văn hoá đồi truỵ vào là rất ít. Có thể nói rằng do điều kiện môi trường như vậy nên học sinh ở nơi đây chủ yếu là học sinh ngoan có thể học sinh ở đây yếu về chất lượng văn hoá nhưng chất lượng đạo đức thì luôn chiếm tỷ lệ loại tốt cao. Qua điều tra số liệu ở bảng trên chúng ta có thể nhận thấy được một thực tế môi trường xã hội đang thay đổi dần. Trong những năm gần đây, chính sách điện, đường, trường, trạm cơ bản được đầu tư cũng chính vì thế con người càng được mở mang và bảo hoà các mối quan hệ xã hội. Giờ đây mọi thông tin liên lạc cũng như giao thông đi lại trở nên dễ hơn. Chính vì vậy, bên cạnh những cái tốt, thì cái xấu cũng nhiều. Điều đáng lưu ý ở đây là công nghệ thông tin càng phát triển bên cạnh những thế mạnh của nó thì cũng có những mặt trái nếu như bản thân mỗi người không tự ý thức và làm chủ được. Điều đó phần nào lý giải được hiện tượng trong những năm gần đây chất lượng đạo đức của học sinh suy giảm nghiêm trọng. Qua các phương tiện thông tin đại chúng ta thấy được có nhiều hành vi, sự việc của các em rất đau lòng. Điều đó trước hết một phần là trách nhiệm của nhà trường, của giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn, mặt khác một phần là sự thờ ơ thiếu trách nhiệm của người làm cha làm mẹ, của chính quyền đại phương thiếu sự nắm bắt, phối hợp trong công tác giáo dục. Từ thực trạng chung về tình hình giáo dục đạo đức của các em học sinh ở bảng trên, để làm rõ hơn thực trạng, đó tôi tiếp tục khảo sát tình hình giáo dục đạo đức của các khối lớp trong năm học 2018- 2019 và thu dược kết quả như sau. 9
  10. Bảng 2: Tình hình đạo đức của học sinh trong năm học 2018-2019 SL Tốt Khá Trung bình Yếu TT Khối HS SL % SL % SL % SL % 1 6 102 78 76.5 19 18.63 4 3.92 1 0.98 2 7 118 89 75.4 20 16.95 6 5.08 3 2.54 3 8 109 84 77.1 18 16.51 5 4.59 2 1.83 4 9 101 85 84.2 8 7.92 6 5.94 2 1.98 Tổng 430 336 78.1 65 15.1 21 4.88 8 1.86 Qua bảng 2 ta thấy tỷ lệ loại tốt, khá bắt đầu giảm và tăng tỷ lệ trung bình, yếu chứng tỏ chất lượng đạo đức của học sinh có chiều hướng đi xuống. Để làm rõ nguyên nhân trên tôi nghiên cứu đến đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh và nhận thấy: Do đời sống vật chất hiện nay một số gia đình khá đầy đủ, sung túc nên một số em được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, các em phát triển nhanh về chiều cao và cận nặng kéo theo việc dậy thì sớm. Trong thời kỳ này, các em có sự mất cân bằng tạm thời về tâm lý dẫn đến thích khám phá, tìm tòi những điều mới lạ, có những bột phát về mặt tâm lý, hành vi, ứng xử. Tóm lại, thực trạng về hành vi đạo đức của học sinh ở tại trường THCS là đại đa số các em chăm ngoan lễ phép, gương mẫu nhưng số lượng học sinh thiếu gương mẫu về đạo đức, đạo đức của các em có chiều hướng đi xuống, các em được học được giáo dục ở trường nhưng thực hành vào cuộc sống chưa được là bao. 1.2 Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về tình hìnhđ ạo đức học sinh hiện nay Để đánh giá về tình hình đạo đức của học sinh hiện nay, tôi đã khảo sát 10 cán bộ, giáo viên và 20 phụ huynh của trường với câu hỏi: " Theo anh (chị) tình hình đạo đức học sinh như thế nào?". Kết quả thu được thể hiện ở bảng 3. Bảng 3: Đánh giá về tình hình đạo đức của học sinh hiện nay Giáo viên Phụ huynh TT Các tiêu chí đánh giá SL % SL % 1 Rất ngoan 4 40 6 30 2 Hầu hết ngoan nhưng có một số hư 5 50 12 60 3 Hầu hết hư chỉ có một số ngoan 1 10 2 10 10
  11. Nhìn vào kết quả thu được sau khi lấy ý kiến từ giáo viên và phụ huynh ta thấy rằng: Có 35% số người được hỏi trả lời rằng hiện nay học sinh rất ngoan; trong khi dó có tới 55% cho rằng hầu hết học sinh ngoan nhưng vẫn có một số em hư. Bên cạnh đó, vẫn còn 10% số người được hỏi trả lời rằng học sinh ngày nay hầu hết là hư và chỉ có một số ngoan. Như vậy, vẫn còn một số lượng tương đối lớn số người được hỏi cho rằng hầu hết học sinh ngày nay là hư. Để hiểu rõ về vấn đề này rôi đã trò chuyện với 2 cô giáo, các cô đều rất băn khoăn, trăn trở về tình trạng đạo đức học sinh ngày càng xuống cấp. Tôi đã lấy ý kiến qua nhiều phụ huynh thì phụ huynh hầu hết đều kết luận rằng: Các học sinh đạo đức chưa ngoan đều là do cách giáo dục của gia đình chưa tốt. Như vậy, người giáo viên cần có biện pháp giáo dục hợp lý ở trường học, đồng thời việc kết hợp với gia đình để giáo dục đạo đức cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết vì gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên của con người, mà ở đó con người sinh ra và lớn lên, đồng thời là môi trường giao tiếp đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách đối với mỗi con người. Gia đình là nền tảng của xã hội, muốn có một xã hội văn minh, hạnh phúc trước hết phải làm cho mỗi gia đình hạnh phúc, văn minh, cha mẹ phải hết mực yêu thương, quan tâm chăm lo giáo dục các em trở thành công dân tốt cho xã hội, yêu cầu này đòi hỏi các bậc cha mẹ phải là tấm gương đạo đức trước con cái. Việc giáo viên giảng dạy truyền thụ kiến thức đều có tính liên hệ với thực tiễn nhưng các em không vận dụng vào trong đời sống, chỉ học cho có học mà thôi, các em chưa xem đây là môn học quan trọng, là cái cần có của mình. Một số giáo viên còn xem nhẹ chỉ dạy qua loa cho xong tiết, việc lạm dụng thời gian của môn học Giáo dục công dân để làm việc riêng hoặc làm công tác tổ chức lớp không phải là không có. Trong các tiết học Giáo dục công dân, các em chưa chú ý, các em thường có ý xem đây là môn học không cần thiết, không liên quan đến thi cử, nhiều trang bài tập phần vận dụng, thực hành liên hệ còn bỏ trống. 2.2.3. Đánh giá chung về tình hình đạo đức của học sinh trường THCS Qua kết quả điều tra khảo sát về tình hình đạo đức của học sinh ở các bảng trên nhìn chung tình hình đạo đức của học sinh trường THCS là tốt. Vì học sinh nơi đây là học sinh miền núi, xa trung tâm, mọi thông tin liên lạc hạn chế nên khả năng bị ảnh hưởng những cái xấu của xã hội cũng rất là ít. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận học sinh có tình trạng đạo đức không tốt. Thực trạng đó là do những nguyên nhân sau đây: 11
  12. - Do hoàn cảnh gia đình: Nhiều gia đình chỉ biết lao đầu vào làm kinh tế không quan tâm đến con cái. Nhiều gia đình bố mẹ, ông bà quá nuông chiều con cái, nhưng có những gia đình bố mẹ thiếu trách nhiệm với con cái và cũng có có một số gia đình không gần gũi con cái để quan tâm giáo dục (do làm ăn ở xa). Có những gia đình thì bố mẹ, anh chị em lại không mẫu mực trong cách cư xử, nói năng,... nên cũng có nhiều ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái. - Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi: Một số học sinh được gia đình chăm sóc đầy đủ chu đáo nên tuổi dậy thì các cháu sớm hơn, nhiều em có biểu hiện ngang bướng, nói không nghe, muốn được làm người lớn vì vậy các em ở vào tình trạng “Nửa trẻ con, nửa người lớn”, các em dễ dàng tiếp thu cả những điều tốt, cũng như những cái xấu, nếu chúng ta không nắm vững được nguyên nhân của nó. - Do tác động xã hội: Các em được xem nhiều thông tin không tốt trên báo chí, truyền hình, . Mặt khác, do sự vận động và phát triển của xã hội, đã đưa lại sự phát triển về mọi mặt, trong đó đặc biệt là sự phát triển về mặt kinh tế đã kéo theo nhiều tác động tiêu cực khác. - Do môi trường giáo dục: Một số giáo viên chú trọng dạy chữ nhiều hơn dạy người. Giáo viên còn xem nhẹ các môn học giáo dục đạo đức mà chỉ chú trọng dạy các môn có liên quan dến thi cử. Trong dạy học, giáo dục còn áp đặt học sinh, cách thực hiện liên hệ thực tế còn ít sử dụng, các phương pháp trách phạt còn được sử dụng một cách tùy tiện, sai yêu cầu sư phạm. Việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội còn tách rời, thiếu liên kết trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh. 2.3. Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường THCS 2.3.1. Các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh Dạy đạo đức là những cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học ở thời gian địa điểm nhất định với những phương pháp, phương tiện dạy học đạo đức nhằm thực hiện giáo dục môn đạo đức cho học sinh thông qua các hình thức như: GD Đạo đức thông qua các bài giảng các môn học; GD đạo đức thông qua môn học GDCD; GD đạo đức thông qua công tác CN; GD đạo đức thông qua hoạt động đội; GD đạo đức thông qua các hoạt động đội: văn nghệ, thể dục, TT. Với các hình thức dạy học trên giúp cho việc gắn kết các hình thức dạy học đạo đức với giáo dục đạo đức theo chu trình khép kín, kết hợp: Trước, trong, sau giờ học; Học và hành; Nhà trường, gia đình và xã hội 12
  13. 2.3.2. Nhận định của giáo viên về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Ban giám hiệu trường THCS Như chúng ta đã biết, đạo đức của học sinh và vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay là một vấn đề đang được đặt ra một cách bức thiết. Ban giám hiệu trường THCS đã đề ra và thực hiện những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh như thế nào và đã đạt được mức độ nào trong lĩnh vực quản lý này. Để rõ hơn về điều đó, tôi tiếp tục khảo sát 10 cán bộ, giáo viên của trường về vấn đề này. Kết quả thu được thể hiện ở bảng sau. Bảng 4: Đánh giá về công tác quản lý hoạt độnggiáo dục đạo đức của ban giám hiệu TT Cá c mức độ đánh giá SL % 1 Quản lý tốt 5 50 2 Quản lý tương đối tốt 4 40 3 Quản lý chưa tốt 1 10 Từ kết quả điều tra thu được, thể hiện ở bảng 4 chúng ta nhận thấy: Có 50% số người được hỏi cho rằng ban giám hiệu đã quản lý tốt hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường; 40% cho rằng hiệu trưởng chỉ mới đạt mức độ tương đối tốt chứ chưa phải là tốt hẳn và vẫn còn 10% số ý kiến trả lời cho rằng ban giám hiệu quản lý chưa tốt hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường. Như vậy về cơ bản cán bộ, giáo viên trường THCS nhất trí cao với các ý kiến đánh giá cho rằng ban giám hiệu đã quản lý tốt hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường. Tuy nhiên, vẫn còn một số lượng tương đối lớn số ý kiến trả lời cho rằng ban giám hiệu quản lý chưa tốt hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS 1. Thường xuyên tuyên truyền, quán triệt học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh đến tận cán bộ, giáo viên và học sinh. Đạo đức là tiêu chí đánh giá sự văn minh, cao thượng của một xã hội, con người. Người có đạo đức là người cao thượng, một dân tộc, mặc dầu kinh tế còn lạc hậu, nhưng có được đạo đức cần, kiệm, liêm, chính thì vẫn xứng đáng là một dân tộc văn minh. 13
  14. Đạo đức giúp cho con người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm người trong mọi hoàn cảnh, không dễ bị thay đổi trước những xoay vần biến thiên của thời cuộc: Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục. Hồ Chí Minh coi đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông, suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng, muốn làm cách mạng phải lấy đạo đức làm gốc, người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề. Một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.” Đạo đức là chỗ dựa giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Theo người, có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước khi gặp thuận lợi và thành công cũng giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Như vậy để thấm nhuần đạo đức của Hồ Chí Minh mỗi cán bộ, giáo viên phải thường xuyên quán triệt, tuyên truyền đến học sinh qua các hoạt động tập thể, qua các tiết chào cờ đầu tuần, qua các tiết học để giúp học sinh rèn luyện đạo đức một cách thiết thực. 2. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức cho cán bộ, giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội khác Cần làm cho cán bộ, giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội khác nhận thức một cách đúng đắn mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông nói riêng. Để nâng cao nhận thức, cần phải thông qua nhiều hình thức hoạt động khác nhau như tổ chức hoặc kết hợp với các buổi sinh hoạt chính trị, nghe thời sự, học nghị quyết, họp hội đồng giáo dục, tổ chức trao đổi kinh nghiệm quản lí, tổ chức ngoại khóa các chuyên đề về văn hóa giáo dục, đạo đức, pháp luật, phối hợp với các tổ chức chính quyền, 14
  15. đoàn thể chính trị xã hội tuyên truyền vận động mọi lực lượng tham gia các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Từ đó, tác động đến tâm lí, nhận thức của cán bộ, giáo viên học sinh và các lực lượng xã hội khác về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của hoạt động giáo dục đạo đức trong việc giáo dục toàn diện nhân cách người học sinh. Người quản lí phải nắm vững mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu của bậc THCS nói riêng. Đồng thời ban giám hiệu phải có nhận thức đúng đắn về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, phải xem đây là một nội dung quản lý quan trọng bên cạnh giáo dục trí tuệ. Mặt khác, phải luôn đề cao vai trò tiên phong gương mẫu đi đầu của người đảng viên, tổ chức tốt các hội nghị, các nghị quyết của Đảng có lồng ghép công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. 3. Lập chương trình kế hoạch và chỉ đạo nội dung, chương trình hoạt động giáo dục đạo đức Nội dung, chương trình hoạt động giáo dục đạo đức là yếu tố trọng tâm của quá trình giáo dục, là sự thể hiện mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động giáo dục cụ thể, là phương tiện tương tác giữa người tổ chức giáo dục với người tiếp thu các nội dung giáo dục. Qua việc thực hiện nội dung, chương trình học sinh nắm được hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo từ đó hình thành năng lực, phẩm chất, phát triển trí tuệ, tình cảm, thể lực, ý chí, lí luận và khả năng hoạt động thực tiễn. Tất cả nội dung này được sắp xếp khoa học giữa giáo dục và giáo dưỡng. Việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nội dung, chương trình hoạt động giáo dục đạo đức là yếu tố cơ bản để thực hiện mục tiêu giáo dục. Vì vậy, nhà trường phải xem đây là vấn đề có tính pháp lệnh và cần có sự chỉ đạo thực hiện một cách thống nhất. Để đảm bảo thực hiện đầy đủ, đúng nội dung chương trình, ban giám hiệu cùng với ban hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp dự kiến thực hiện chương trình theo từng học kỳ, tháng, tuần và cả năm. Cần chú ý đến các thời điểm quan trọng, dự kiến những vấn đề sẽ nảy sinh và biện pháp khả thi của các hoạt động. Hàng tuần, hàng tháng, hịêu trưởng theo dõi, kiểm tra tiến độ thực hiện nội dung, chương trình đã đề ra. Vịêc chỉ đạo thực hiện nội dung, chương trình nghiêm túc sẽ mang lại hiệu quả tốt cho các hoạt động giáo dục, làm cho các giáo viên, các tổ chức giáo dục khác thấy được trách nhiệm của mình trong việc tham gia các hoạt động. 15
  16. 4. Bồi dưỡng kỹ năng quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho cán bộ, giáo viên, cán bộ lớp, tổng phụ trách đội, xây dựng các tập thể học sinh tự quản, lập đội xung kích Sự đa dạng của nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sự phức tạp trong tâm sinh lí của học sinh, sự phát triển đa dạng, phức tạp của các hoạt động vui chơi không lành mạnh có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Nếu kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của cán bộ giáo viên, cán bộ lớp, cán bộ đội không đổi mới, không có sự lôi cuốn, thiếu hứng thú thì chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp sẽ không đạt được hiệu quả cao. Vì vậy, việc bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho cán bộ, giáo viên, cán bộ đội, cán bộ lớp là nội dung cần thiết trong việc chỉ đạo các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của ban giám hiêu. Để nâng cao hịêu quả việc bồi dưỡng các kỹ năng hoạt động giáo dục đạo đức cho cán bộ, giáo viên, cán bộ đoàn, lớp, cần dựa trên kế họach hoạt động chung của nhà trường, tổ chức các buổi tập huấn phù hợp với khả năng hiện có để đội ngũ này có điều kiện giao lưu, học tập, rút kinh nghiệm, từ đó nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. 5. Bồi dưỡng năng lực hoạt động cho học sinh Trong bất kỳ một hoạt động giáo dục đạo đức nào cũng có hai đối tượng: đối tượng tổ chức hoạt động và đối tượng tham gia hoạt động. Cả hai đều có vai trò quan trọng như nhau. Song nếu đối tượng tham gia nhận thức không đầy đủ, không hứng thú, thiếu sự tự giác, chủ động, sáng tạo thì các hoạt động giáo dục khó có thể đạt được hiệu quả mong muốn. Vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực hoạt động giáo dục đao đức cho học sinh trong trường THCS có ý nghĩa hết sức quan trọng. Để làm được điều đó, cần cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ, hành vi cho học sinh. Tạo điều kiện cho học sinh tham gia tìm hiểu nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức trước khi tham gia các hoạt động, điều này sẽ giúp cho học sinh phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo, tự giác và có hứng thú khi tham gia các hoạt động. Cung cấp, giới thiệu những tư liệu cần thiết, liên quan đến hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, tổ chức các buổi tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành, tinh thần, thái độ và đề cao trách nhiệm và quyền lợi của học sinh khi tham gia các hoạt động. 16
  17. Cần có biện pháp kiểm tra, theo dõi, đánh giá kết quả, khen thưởng, động viên kịp thời đối với những học sinh có thành tích tốt trong các hoạt động. Tăng cường vận động, thuyết phục, kích thích lòng nhiệt tình và sự say mê hoạt động trong học sinh, đồng thời nghiêm khắc xử lí những đối tượng có hành vi chây lười, làm ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục chung. 6. Chỉ đạo đổi mới hình thức các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục đạo đức ở trường THCS rất đa dạng và phong phú. Do đó, muốn thu hút học sinh tham gia đầy đủ các hoạt động cần phải thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức. Tùy theo tính chất, mức độ của mỗi hoạt động, người hiệu trưởng xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cho phù hợp. Chẳng hạn, thông qua các đợt thi đua chào mừng những ngày lễ lớn trong năm, nhà trường kết hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT, lồng ghép các cuộc thi nhỏ như thi tìm hiểu, thi hát theo chủ đề hoặc tham quan các di tích lịch sử Giờ chào cờ đầu tuần nên tổ chức thi thuyết trình theo chủ đề, nói chuyện chuyên đề, thi vấn đáp về các kiến thức khoa học nhằm giảm bớt tình trạng khô khan, căng thẳng và tính giáo dục thấp. Giờ sinh hoạt 15 phút đầu buổi học cần có sự quản lí chặt chẽ và tạo cho học sinh sự say mê, hứng thú trong việc truy bài, sinh hoạt tập thể, trao đổi hoặc tranh luận các vấn đề khoa học Tiết sinh hoạt cuối tuần nên tìm những tư liệu có tính chất tư vấn về hôn nhân, gia đình, định hướng nghề nghiệp để giáo viên chủ nhiệm kết hợp triển khai cho học sinh. Các hình thức sinh hoạt khác như hoạt động TDTT, sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt ngoại khóa, tham quan, du lịch là những hoạt động mang tính tự nguyện cao, có sức thu hút những học sinh có cùng sở thích, cùng nguyện vọng tham gia hoạt động. Do đó, nhà trường cần bố trí nguồn kinh phí tương ứng để tổ chức các hoạt động phù hợp nhằm góp phần củng cố và bổ sung kiến thức học trên lớp, rèn luyện, giáo dục năng khiếu, thể lực, giáo dục giới tính, mĩ thuật, hội họa cho học sinh. Các hoạt động giáo dục đạo đức hiện nay rất phong phú, đòi hỏi người hiệu trưởng phải thường xuyên quan tâm, suy nghĩ, tìm tòi các hình thức hoạt động phù hợp với mục tiêu, đối tượng, thời gian, cơ sở vật chất, nguồn kinh phí, môi trường sư phạm và con người hiện có. Nội dung và hình thức hoạt động phải bao hàm các mặt giáo dục đức, trí, thể, mĩ . Tiến trình tổ chức hoạt động phải hài hòa, khoa học và hợp lí, phải có bộ máy tổ chức, có kế họach, chương trình, hoạt động cụ thể, có nội dung hoạt động, 17
  18. có người phụ trách, có qui định lề lối làm việc, điều kiện hoạt động và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nhà trường. 7. Chăm lo đến việc xây dựng cơ sở vật chất, môi trường sư phạm, xây dựng tiêu chí thi đua, tổ chức thi đua và đổi mới công tác thi đua, khen thưởng: Muốn tổ chức tốt các hoạt động, điều kiện tiên quyết là phải chăm lo đến việc xây dựng cơ sở vật chất trường học và xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh. Ngày nay có nhiều tổ chức, cá nhân rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, do đó, nhà trường cần tranh thủ sự hỗ trợ của các lực lượng ngoài xã hội để tăng cường cơ sở vật chất cho nhà trường, tạo mọi điều kiện tốt nhất để các lực lượng ngoài xã hội cùng tham gia hoạt động, tham gia giáo dục học sinh. Đổi mới công tác thi đua khen thưởng cũng là một trong những yếu tố đem lại hiệu quả cao trong quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Công tác thi đua khen thưởng là động lực thúc đẩy phong trào học tập, rèn luyện của học sinh. Để làm tốt việc khen thưởng, ban giám hiệu cần quan tâm đến khâu kiểm tra, đánh giá các hoạt động ngoài giờ. Nếu kiểm tra, đánh giá và động viên, khen thưởng kịp thời thì chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức sẽ được nâng cao. Tóm lại, quản lí hoạt động giáo dục đạo đức trong trường THCS là hoạt động quản lí các con đường để phát triển năng lực trong mỗi cá nhân học sinh, tạo ra môi trường thuận lợi để học sinh phát triển tư duy, hình thành nhân cách đáp ứng theo yêu cầu của xã hội: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Việc nhìn nhận đúng vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục đạo đức sẽ giúp các cấp quản lí dành sự đầu tư thích đáng để chỉ đạo hoạt động này ở nhà trường, giúp đội ngũ giáo viên có thái độ tích cực và sáng tạo khi tham gia tổ chức các hoạt động, tạo ra sự chuyển biến về chất trong các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục trong trường THCS. Để làm được điều đó, cần phải có sự cải tiến công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức theo hướng tích cực hóa các hoạt động, nâng giá trị của hoạt động giáo dục đạo đức lên ngang tầm với vai trò vị trí của nó mới mong đem lại hiệu quả cao hơn. 18
  19. C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Sự phát triển về kinh tế xã hội và sự tiến bộ về văn hoá vật chất, tinh thần con người với những tác động của mặt trái cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức, thái độ, trách nhiệm, hành vi sống của học sinh. Với thực tiễn đạo đức đồng biến động, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen đang từng ngày từng giờ tác động vào học đường. Do đó giáo dục đạo đức cho học sinh là một nội dung giáo dục hết sức cần thiết và quan trọng. Đặc biệt là vai trò của người ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm lớp, tổng phụ trách đội trong quá trình quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh. Xuất phát từ những thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này với kết quả cụ thể như sau: Đề tài đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận về đạo đức, giáo dục đạo đức, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức và đã phân tích môt cách cụ thể thực trạng của hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức tại trường THCS; Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức trong trường THCS. Đó là : - Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức cho cán bộ, giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội khác - Lập chương trình kế hoạch và chỉ đạo nội dung, chương trình hoạt động giáo dục đạo đức - Bồi dưỡng kỹ năng quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho cán bộ, GV, cán bộ lớp, cán bộ đoàn, đội, xây dựng các tập thể HS tự quản, lập đội xung kích. - Bồi dưỡng năng lực hoạt động cho học sinh - Chỉ đạo đổi mới hình thức các hoạt động giáo dục - Chăm lo đến việc xây dựng cơ sở vật chất môi trường sư phạm, xây dựng tiêu chí thi đua, tổ chức thi đua và đổi mới công tác thi đua, khen thưởng: 2. Kiến nghị Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THCS, tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau đây: * Đối với nhà trường: Cần coi nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh là nội dung quan trọng có tính bắt buộc. Kiểm tra việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua giáo viên như thế nào? Đã nghiêm túc chưa? Để có những giải pháp kịp thời; Cần kết 19
  20. hợp giáo dục đạo đức thông qua các môn học, các hoạt động ngoại khóa; Là những người cán bộ, giáo viên gương mẫu về mọi mặt; Theo dõi thường xuyên để nắm bắt những diễn biến về mọi mặt đặc biệt là những diễn biến về mặt đạo đức hiện nay ở địa phương để từ đó có định hướng cho học sinh xử lý các tình huống xấu có thể xảy ra. (Tệ nạn ma túy, mê tín bị những phần tử xấu lôi kéo dụ dỗ....). Nghiêm túc xử lý, kỷ luật, hạ hạnh kiểm những học sinh nào vi phạm về đạo đức; Cần nắm rõ tâm sinh lý, thể chất, nhân cách, năng lực, hoàn cảnh gia đình của học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng. * Đối với phụ huynh, chính quyền địa phương: Cần gương mẫu, có trách nhiệm với con cái; Cần liên kết chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm để đưa ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho con em có hiệu quả hơn. Đặc biệt vai trò giáo dục cho học sinh trong dịp hè ở địa phương là rất quan trọng. 20