SKKN Khai thác văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” - Trịnh Thị Hương
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Khai thác văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” - Trịnh Thị Hương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_khai_thac_van_ban_danh_nhau_voi_coi_xay_gio_trinh_thi_h.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Khai thác văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” - Trịnh Thị Hương
- PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài a. Lí do chọn đề tài Người ta thường nói “văn vẻ” quả không sai, cùng một tác phẩm nhưng mỗi người lại có một cách cảm nhận khác nhau, nhiều khi sự cảm nhận đó còn vượt ra khỏi ý đồ của nhà văn, nhà thơ. Và chính sự cảm nhận đa dạng của người đọc làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm. Chính vì thế để tìm ra sự đồng nhất về cách hiểu và khai thác đối với một tác phẩm không dễ. Nhất là tác phẩm hay và nổi tiếng như: “Tác phẩm Đôn Kihôtê (Don Qujoote)” quả thực là không đơn giản. Là một giáo viên đã từng được phân công dạy Ngữ văn 8 và đi dự giờ các đồng nghiệp, tôi cảm thấy chưa hài lòng vì học sinh tiếp cận tác phẩm “Đôn kihôtê” còn mơ hồ, chưa có được sự hiểu biết một cách khái quát toàn diện về tác phẩm dù giáo viên có giới thiệu qua về tiểu thuyết này. Và khi dạy học văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” hoc sinh chỉ mới thấy sự hài hước, chứ chưa có sự hiểu biết sâu sắc đằng sau sự hài hước đó. Là một tác phẩm nổi tiếng và dung lượng tác phẩm đồ sộ. Vậy nhưng trong giờ dạy viên chưa giới thiệu kĩ về cuốn tiểu thuyết này. Thực tế đây là một tác phẩm văn học nước ngoài nó ít khi có mặt trong các tiết kiểm tra hay thi cử. Chính vì vậy, khi đi vào khai thác văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” đa số giáo viên chỉ tập trung khai thác nội dung đoạn trích hoặc chỉ cho học sinh chỉ ra sự đối lập tương phản giữa hai nhân vật Đôn Ki-hô-tê, Pan-xa mà chưa đi sâu vào khai thác nghệ thuật xây dựng tình huống bi hài, hình tượng nghệ thuật tiểu thuyết bất hủ qua cặp đôi Đôn Ki-hô-tê – Pan-xa để chuyển tải một nội dung nhân đạo sâu sắc, hun đúc truyền thống đạo đức của con người Tây Ban Nha. Giáo viên cần giúp học sinh thấy được tính chất khác lạ, phi thường của cặp hình tượng Đôn Ki-hô-tê và Pan-xa trong tiểu thuyết nói chung và đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” nói riêng. Muốn làm được điều đó cần có tranh minh họa giúp học sinh tưởng tượng và gây cười, thấy rõ được sự hài hước. Các nhân vật được đặt vào trong thế giới của tiếng cười, tiếng cười tống tiễn cái lạc hậu, lỗi thời, mở đường cho một sức sống mới. Đây cũng chính là sức sống bền lâu của tác phẩm này, vượt qua mọi thách thức về thời gian và không gian. 1
- Từ những suy nghĩ đó, tôi đã chọn đề tài: Khai thác văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” theo hướng phát triển phẩm chất năng lực. Sau khi nghiên cứu, áp dụng vào thực tế, tôi thấy việc dạy đạt hiệu quả hơn so với hướng khai thác trước đây. Với suy nghĩ rất riêng mang tính chủ quan của cá nhân, tôi mạnh dạn đưa ra hướng Khai thác văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực để mọi người có thể nhận xét, bổ sung và góp ý cho tôi. b. Tính cấp thiết của đề tài: Xuất phát từ mục tiêu dạy học gắn với phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh đã trở thành nội dung giáo dục hiện hành. Hình thành cho học sinh nhũng phẩm chất tốt đẹp: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, phát triển nhân cách và phát triển cá tính. Chương trình Ngữ văn giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người và đời sống tâm hồn phong phú có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế (Theo tài liệu chương trình GDPT 2018). Các tác phẩm văn học hình thành và phát triển cho học sinh chủ yếu thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong tác phẩm văn học. Giúp học sinh thấy rõ vai trò và tác dụng của môn học đối với đời sống tình cảm của con người, có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. 2. Mục tiêu nghiên cứu Qua bài học giúp học sinh hiểu: hiểu được văn bản và hiểu cách đọc văn bản. Dạy học phát triển năng lực đòi hỏi người học phải tham gia làm, thực hành. Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện để tìm ra nội dung bài học, qua đó mà biết cách học, học sinh thực hiện các hoạt động để tự tìm ra kiến thức. Cách tổ chức các hoạt động là chính, trong đó học sinh được tham gia hoạt động: tìm kiếm, nêu vấn đề, trao đổi, chứng minh, phân tích rút ra các nhận xét, kết luận. Giáo viên là người giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách hoạt động. Với văn bản “ Đánh nhau với cối xay gió” người học phát triển năng lực, phẩm chất: - Năng lực tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác thông tin phục vụ bài học. - Năng lực chuyên biệt: năng lực đọc - hiểu văn bản, năng lực thẩm mỹ - Phẩm chất: Tự chủ , tự tin trong giao tiếp và trình bày trước lớp. Sống có ước mơ hoài bão, tình yêu thương và lí thuyết phải gắn với thực tế. 2
- Trước những băn khoăn khi dạy văn bản: “Đánh nhau với cối xay gió” bản thân tôi thấy cần phải mở ra một phương hướng tìm hiểu, khám phá tác phẩm mong đem lại kết quả tối ưu nhất trong việc giảng dạy. Với văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” tôi sẽ tiến hành khai thác những vấn đề sau: Về nghiên cứu lí luận: • Đề tài • Thể loại. • Tác phẩm a. Nội dung tác phẩm. b. Nghệ thuật c. Tranh ảnh, tư liệu về tác giả Xéc-van-tét, bộ sưu tập tranh ảnh về nhân vật Đôn Ki-hô-tê và Pan-xa trong đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” Về dạy thực nghiệm: Tiến hành giờ dạy trên lớp. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. a. Đối tượng: - Phân môn Ngữ văn 8, văn bản: “Đánh nhau với cối xay gió”. Trong chương trình Ngữ văn THCS hiện hành. - Học sinh lớp 8. b. Phạm vi nghiên cứu: - Hướng khai thác đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” của tác giả Xéc-van-tét. 4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu a. Nhiệm vụ: - Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến việc dạy văn bản “Đánh nhau với cối xay gió”. - Tiến hành đánh giá tính khả thi và hiệu quả của vấn đề được đưa ra trong đề tài thông qua dạy thực nghiệm. b. Phương pháp nghiên cứu: Tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu lí luận, khảo sát thực tế, dạy thực nghiệm. 3
- 5. Giả thiết khoa học Nếu đề tài được nghiên cứu kĩ lượng, khoa học sẽ cung cấp cho học sinh, đồng nghiệp một hướng mới trong việc đọc - hiểu văn bản văn học mà cụ thể ở đây là văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực.. 6. Dự báo đóng góp của đề tài: Việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp cùng với phương tiện hỗ trợ bằng Công nghệ thông tin, dưới sự hướng dẫn chuẩn bị bài chu đáo của giáo viên, học sinh có cơ hội tiếp nhận đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” trong tâm thế chủ động các em mới thấy được giá trị nghệ thuật đặc sắc, cảm hứng nhân đạo sâu sắc cũng như nền văn hóa của xã hội phong kiến Tây Ban Nha lúc bấy giờ được thể hiện trong một thế giới nhân vật đa dạng. Từ đó, các em có thể liên hệ so sánh con người, văn hóa Việt Nam trong xã hội phong kiến với con người Tây Ban Nha có điểm nào khác nhau, có điểm nào tương đồng. Qua đó thấy rằng khát vọng của mỗi con người chân chính dù khác nhau màu da, mái tóc nhưng họ đều giống nhau ở lí tưởng cao đẹp. Muốn làm việc nghĩa cho đời, muốn giúp đỡ, bênh vực cho người lương thiện. Tạo cho học sinh có niềm tin vào cuộc sống, vào lẽ phải, đây cũng là chức năng của văn học. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Cơ sở lí luận Văn học nước ngoài là bộ phận tất yếu trong chương trình ngữ văn phổ thông, trong đó có THCS. Việc học các tác phẩm vă học nước ngoài giúp các em có hiểu biết về các nền văn hóa trên thế giới. Từ đó các em có sự hiểu biết về đời sống tinh thần cũng như đời sống vật chất của họ. Nhưng thực tế mỗi tác phẩm văn học hay, đặc sắc chỉ được trích một đoạn làm tư liệu giảng dạy mà đặc điểm của văn bản thường phải nằm trong tính chính thể của nó mới giúp người đọc cảm nhận một cách trọn vẹn giá trị của cuộc sống. Muốn làm được điều đó với dạy học ngày nay không khó đó là nhờ phương tiện công nghệ thông tin, giúp học sinh có thể tiếp cận văn bản một cách đầy đủ dưới sự định hướng, hướng dẫn của giáo viên. Trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng sự tiếp nhận của học sinh phải bằng nhiều giác quan và một trong những tác động ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy người học chính là thị giác. Dạy học ngày nay cùng với phương tiện công nghệ thông tin giáo viên có thể dễ dàng giúp học 4
- cảm nhận tác phẩm một cách toàn diện, sâu sắc bằng máy chiếu thông qua tranh ảnh. Thông qua trình chiếu, học sinh có thể nhìn thấy những hình ảnh mang tính minh họa về nhân vật trong tác phẩm, từ đó khắc sâu nội dung bŕi học vŕ tạo nęn sự liên tưởng, tưởng tượng độc đáo trong học sinh. Học văn luôn đòi hỏi sự tưởng tượng, chính điều này làm cho tác phẩm luôn hiện lên mới mẻ trong mắt người học, người đọc ở các thời đại. Từ đó khơi dậy niềm yêu thích, hứng thú học môn Ngữ văn ở các em. 2. Cơ sở thực tiễn a. Học sinh “Văn học là nhân học” thế nhưng trong thời gian gần đây việc học văn đang bị xem nhẹ. Thứ nhất: Học sinh còn chưa phát huy tinh thần tự học, chỉ một số học sinh học khá tích cực chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên, đó là tự tìm hiểu kĩ về tác phẩm bằng nhiều hình thức; số còn lại không chịu tìm hiểu dù giáo viên bắt buộc. Vì thế việc dạy học văn chưa đáp ứng được mục tiêu như mong đợi. Thứ 2: Những học sinh giỏi đang có xu hướng chọn các môn học Khoa học tự nhiên hoặc Ngoại ngữ, bằng chứng là khi thi chọn học sinh giỏi cấp huyện học sinh bao giờ cũng chọn Toán, Lí , Hóa hoặc Ngoại ngữ mặc dù có nhiều em rất có năng khiếu về văn; số còn lại không được chọn mới chọn môn Ngữ văn, chỉ một số ít yêu thích lựa chọn môn Ngữ văn. Thứ 3: Không chỉ học sinh mà ngay cả các thầy cô giáo ít người cho con đi thi học sinh giỏi môn Ngữ văn cho dù con có năng lực văn học. Vì tác động của xã hội theo thời thế, của phụ huynh học sinh... hay chính sự tác động của giáo viên. Có một phần sự thật đa số các em học sinh THCS thích học môn nào bắt nguồn từ việc thích thầy cô dạy. Vậy thì nguyên nhân việc dạy học của giáo viên có phần ảnh hưởng đến tác động đến việc học của học sinh. b. Giáo viên: Thực tế cho thấy: Một bộ phận giáo viên chưa tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, còn ngại thay đổi thói quen cũ, vẫn thiên về dạy học thuyết trình, trang bị kiến thức là chính, khiến cho giờ học văn trở nên nhàm chán, không lôi cuốn học sinh. Một bộ phận giáo viên tuy đã có ý thức, đã tích cực đổi mới song việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học chưa linh hoạt, chưa nhuần nhuyễn hoặc quá lạm dụng một phương pháp nào đó (vấn đáp, thảo luận nhóm, trình chiếu...) trong một tiết học dẫn đến hiệu quả chưa cao. Do vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu của của dạy học văn trong trường THCS hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học trong môn Ngữ 5
- văn là cần thiết và đặc biệt quan trọng. Đổi mới phương pháp không phải trên lí thuyết mà phải thể hiện rõ trong từng bài dạy cụ thể. II. SỐ LIỆU ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. Giáo viên ra câu hỏi điều tra học sinh lớp 8A và 8B trong năm học 2016-2017. 1. Em đã đọc đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió chưa ? 2. Em có thích đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió hay không ? Vì sao ? 3. Em đã đọc tiểu thuyết Đôn-ki-hô-tê của Xéc-van-téc chưa ? Kết quả điều tra lớp 8A năm học 2017 -2018 Tổng số học sinh Câu Đã đọc Chưa đọc SL % SL % Câu 1 32 94 2 6,25 8A- 34 em Câu 3 0 0 34 100 Thích Không thích Câu 2 30 88 2 5,9 Qua khảo sát, tôi thấy hầu như học sinh chỉ mới đọc đoạn trích ở sgk. Một số em thích nhân vật Đôn-ki-hô-tê điên rồ, hoang tưởng nhưng có lí tưởng cao đẹp. Một số em trả lời thích nhưng các em không giải thích rõ vì sao thích ? Còn tiểu thuyết Đôn- ki-hô-tê thì chưa em nào đọc. Phần lớn các em đều nói rằng chưa biết cuốn sách đó. Như thế có thể nói rằng các em khả năng tự học, tự tìm hiểu về cuốn tiểu thuyết Đôn-ki-hô-tê là chưa có, các em chỉ có đọc đoạn trích ở sách giáo khoa mà thôi. Với thời đại công nghệ 4.0 giáo viên trước khi dạy cần hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu và đọc tác phẩm; đọc các bài viết có liên quan đến đoạn trích sẽ học ở sách giáo khoa chính là phát triển năng lực tự học, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin ở mỗi học sinh. III. PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN ĐỂ THẤY ĐƯỢC NHỮNG NHƯỢC ĐIỂM, HẠN CHẾ, YẾU KÉM CỦA CHỦ ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP. Là một giáo viên đã từng được phân công dạy Ngữ văn 8 và đi dự giờ các đồng nghiệp, tôi cảm thấy chưa hài lòng vì học sinh tiếp cận tác phẩm “Đôn- ki-hô-tê” còn 6
- mơ hồ, chưa có được sự hiểu biết một cách khái quát toàn diện về tác phẩm dù giáo viên có giới thiệu qua về tiểu thuyết này. Và khi dạy học văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” hoc sinh chỉ mới thấy sự hài hước, chứ chưa có sự hiểu biết sâu sắc đằng sau sự hài hước đó. Là một tác phẩm nổi tiếng và dung lượng tác phẩm đồ sộ. Vậy nhưng trong giờ dạy viên chưa giới thiệu kĩ về cuốn tiểu thuyết này. Thực tế đây là một tác phẩm văn học nước ngoài nó ít khi có mặt trong các tiết kiểm tra hay thi cử. Chính vì vậy, khi đi vào khai thác văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” đa số giáo viên chỉ tập trung khai thác nội dung đoạn trích hoặc chỉ cho học sinh chỉ ra sự đối lập tương phản giữa hai nhân vật Đôn Ki-hô-tê, Pan-xa mà chưa đi sâu vào khai thác nghệ thuật xây dựng tình huống bi hài, hình tượng nghệ thuật tiểu thuyết bất hủ qua cặp đôi Đôn Ki-hô-tê – Pan-xa để chuyển tải một nội dung nhân đạo sâu sắc, hun đúc truyền thống đạo đức của con người Tây Ban Nha. Giáo viên cần giúp học sinh thấy được tính chất khác lạ, phi thường của cặp hình tượng Đôn Ki-hô-tê và Pan-xa trong tiểu thuyết nói chung và đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” nói riêng. Muốn làm được điều đó cần có tranh minh họa giúp học sinh tưởng tượng và gây cười, thấy rõ được sự hài hước. Các nhân vật được đặt vào trong thế giới của tiếng cười, tiếng cười tống tiễn cái lạc hậu, lỗi thời, mở đường cho một sức sống mới. Đây cũng chính là sức sống bền lâu của tác phẩm này, vượt qua mọi thách thức về thời gian và không gian. IV. CÁC GIẢI PHÁP, CÁC TÁC ĐỘNG (HOẶC KIẾN THỨC..) TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. A. NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN Với văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” tôi sẽ tiến hành khai thác những vấn đề sau: • Đề tài • Thể loại. • Tác phẩm - Nội dung tác phẩm. - Nghệ thuật - Tranh ảnh, tư liệu về tác giả Xéc-van-tét, bộ sưu tập tranh ảnh về nhân vật Đôn Ki-hô-tê và Pan-xa trong đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” 7
- • Ý nghĩa của tiểu thuyết Đôn-ki-hô-tê. 1. Đề tài Đây là một cuốn tiểu thuyết đặc biệt. Xecvăntét “sử dụng hình thức tiểu thuyết hiệp sĩ để nhại lại tiểu thuyết hiệp sĩ”, từ đó tạo ra một sức phản công mạnh mẽ, quét sạch loại tiểu thuyết hiệp sĩ chuyên truyền bá các tư tưởng độc hại, cổ vũ cho lối sống lang thang, vất vưởng đang phát triển trần lan trên diễn đàn văn học Tây Ban Nha lúc bấy giờ, loại trừ cho xã hội tính độc hại vô bổ của loại tiểu thuyết này. Ngay đầu bài tựa của cuốn sách, ông nhấn mạnh dụng ý của mình là “định viết một tập truyện hài hước để chế giễu loại văn học hiệp sĩ” và “đánh tan sự tín nhiệm của đa số công chúng đối với loại sách ấy”. Tác giả cũng tự xác định rằng đây là một “tập sách rất hay, rất hoàn hảo, rất thú vị”. Tác giả đã thực hiện được nhiệm vụ mà lịch sử thời đại giao phó đó và sau khi cuốn Đôn kihôtê ra đời, dòng tiểu thuyết hiệp sĩ cũng chấm dứt số phận của nó. 2. Thể loại Những vượt xa hơn, ông đã sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật tiêu biểu bất hủ qua cặp đôi Đôn Ki-hô-tê –-Pan-xa để chuyển tải một nội dung nhân đạo sâu sắc, chung đúc truyền thống đạo đức Tây Ban Nha. Cuốn tiểu thuyết bóc trần bộ mặt hiện thưc Tây Ban Nha dưới sự thống trị tàn nhẫn và cuồng tín của phong kiến và Giáo hội, và lên tiếng bênh vực cho quyền sống của nhân dân. Số lượng nhân vật của cuốn sách ngoài hai nhân vât chính, lên tới hàng trăm nhân vật gồm đủ mọi giới trong xã hộ Tây Ban Nha thời đó. Ta gặp ở đây người nông dân, anh chăn cừu, chị thôn nữ, lái buôn, cha xứ, thầy tu, nhà kinh doanh, các phạm nhân, rồi đến các công tước, quận công...Thế giới nhân vật đa dạng và đông đảo đó xoay quanh hai nhân vật chính theo suốt chặng đường phiêu lưu của Đôn Ki-hô-tê. Một hiện thực hiện ra với mọi khía cạnh của nó. Bên cạnh những áp bức bất công, bên cạnh sự phi lí mà xã hội phong kiến tạo ra, ta còn gặp ở đây thế giới tốt đẹp của những con người hiền lành lương thiện, những người nông dân Tây Ban Nha chất phác, hồn nhiên. 3. Tác phẩm a. Nội dung • Tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê. Năm 1605, ông xuất bản phần một phần của “Đôn kihôtê (Don Qujoote)” . Tác phẩm được chào đón nhiệt liệt và được dịch sang các thứ tiếng châu Âu khác. Các nhà 8
- xuất bản giàu lên nhờ tác phẩm này còn chính tác giả vẫn cứ sống trong nghèo đói. Năm 1614, ông viết tiếp phần hai của tác phẩm này và xuất bản nó vào năm 1615. Ông qua đời vào ngày 23/4/1616 trong bệnh tật và đói nghèo. Tiểu thuyết Đôn Kihôtê gồm 126 chương, mỗi chương đều có một tiêu đề riêng tạo ra dáng dấp một truyện ngắn biệt lập và tất cả được xâu chuỗi lại bằng chuỗi du hành ba lần ra đi và ba lần trở về của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê. Câu chuyện bắt đầu từ một làng nào đó ở xứ Mantra (Mancha) với : một nhân vật thuộc lớp những nhà quý tộc có ngọn giáo treo trên giá làm cảnh, một cái khiên cũ kĩ, một con ngựa gầy và một con chó săn. Bữa ăn hàng ngày của chàng chỉ có xúp bò, họa hoằn mới được thịt cừu; bữa chiều thịt hầm; thứ bảy, trứng tráng; thứ sáu, đậu;chủ nhật, thêm con chim câu nhỏ; thế là đã mất đứt ba phần tư số thu nhập. Khoản tiền còn lại dùng để may mặc: áo ngoài bằng da nhẹ, quần bò và giày nhung dành trong ngày hội; ngày thường thì quần áo được may bằng một loại vải cũng khá tốt. Trong nhà có một bà quản gia ngoại tứ tuần, một cô cháu gái chưa đầy đôi mươi và một anh người hầu kiêm cả chăm nom ruộng vườn, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc con ngựa. Nhà quý tộc của chúng ta tuổi xấp xí ngũ tuần, thể chất tráng kiện, da thịt săt seo, mặt mũi xương xẩu, chàng có thói quen dậy sớm và rất thích đi săn bắn. Theo lời đồn, chàng mang biệt hiệu là Kihađa hoặc Kêxađa. “Những lúc nhàn cư, cả năm cũng chẳng mấy khi thấy chàng bận rộn, chàng quý tộc của chúng ta chỉ miệt mài đọc sách kiếm hiệp, hầu như quên cả thú đi săn và công việc nhà”. Tới lúc cả con người đó mụ mẫm đi và thế là anh chàng quyết định trở thành hiệp sĩ lang thang để phò nguy cứu khốn, diệt ác trừ tai họa cho thiên hạ, để đem lại công bằng cho xã hội, đem lại nụ cười cho trẻ thơ, đem lại niềm an ủi cho những người phụ nữ góa chồng. Chàng dứt áo ra đi vào một buổi sáng theo đúng tinh thần tiểu thuyết của hiệp sĩ: có con ngựa với cái tên Rôxinantê (Roicnante), có áo giáp vũ khí và có một tình nương để hiệp sĩ tôn thờ, nàng Đuynxinê xứ Tôbôxô (Dulcinea deToboso) và bản thân mang một cái tên đã lưu danh trong sử sách: hiệp sĩ Đôn kihôtê xứ Mantra. Ngày xuất hành đầu tiên may mắn vì chẳng có việc gì xảy ra. Nhưng chàng cũng nhớ tới một điều hết sức sách vở: chàng chưa được phong tước hiệp sĩ. Thế là trong chập choạng hoàng hôn chàng nhìn thấy phía trước một tòa lâu đài (mà thực ra đây chỉ là một quán trọ) và hai công chúa ra đón chàng (thực ra đây chỉ là hai cô gái làm tiền ra cửa đón khách). Trong cái đêm ấy chàng được phong tước hiệp sĩ tại một ngã ba đường mà Kinh thánh là cuốn sổ ghi nợ của chủ quán và quý tộc 9
- chịu trách nhiệm phong tước cho chàng là vị chủ quán kia. Chứng kiến buổi lễ thiêng liêng đó là hai công chúa tưởng tượng nọ. Chàng lên đường và khi gây sự với đám lái buôn, bắt họ phải tuyên thệ nàng Đuynxinê là phu nhân đẹp nhất trần gian thì chàng bị họ nện cho một trận nhừ tử. Chàng trở về trên một cỗ xe bò của người hàng xóm. Khi sức khỏe được phục hồi, chàng quyết tâm ra đi lần thứ hai. Lần này chàng nhớ tới một việc mà tiểu thuyết hiệp sĩ đã nhắc nhở chàng, đó là hiệp sĩ nào cũng cần có giám mã để săn sóc khi hiệp sĩ ốm đau, để giữ ngựa khi hiệp sĩ đánh nhau. Chàng tìm được một người giám mã thực sự vừa ý. Đó là “một người lương thiện – nếu như người ta dùng danh từ này đối với một người nghèo – nhưng phải một tội là kém thông minh. Trước những lời ngon ngọt của Đôn Ki-hô-tê, cuối cùng bác nhận lời đi làm giám mã cho chàng. Chẳng hạn, Đôn Ki-hô-tê bảo bác hãy sãn sàng từ biệt những đống rơm rạ mà đi theo chàng vì có trong một cuộc phiêu lưu mạo hiểm nào đó, chàng sẽ chiếm được một hòn đảo và sẽ trao cho bác cai trị. Bị những lời hứa hẹn tốt đẹp cám dỗ, Xan-chô Pan-xa (Sancho Panca – tên bác thợ cày) bỏ cả vợ con, nhà cửa, đi làm giám mã cho ông láng giềng”. Họ ra đi và chiến công đầu tiên mà Đôn Ki-hô-tê trong chuyến đi này là tấn công lũ khổng lồ hiện hình dưới những chiếc cối xay gió. Tiếp đó họ gặp rất nhiều chuyện phiêu lưu khác nữa cho tới khi những người làng tốt bụng tìm thấy họ. Đôn Ki-hô-tê cùng đoàn người quay trở về. Trên đường về, họ quay lại quán trọ trước đây và chiến công mới của Đôn Ki-hô-tê: đánh tan lũ phù thủy, lần này chúng hiện hình dưới những túi bóng đựng rượu. Chàng bị bỏ cũi rồi thoát ra một cách ngẫu nhiên. Họ gặp một đám lễ cầu mưa với một bức ảnh đức Mẹ và thế là Đôn Ki-hô-tê nghĩ rằng đây là một cô công chúa bị kẻ xấu bắt cóc và chàng có nhiệm vụ giải thoát. Chàng xông vào phá tan lễ cầu mưa và bù lại chàng nhận được một trần đòn nhừ tử, còn nặng nề gấp mấy lần trận đòn trước. Chàng trở về trong trạng thái nhừ đòn ấy. Lần ra đi thứ ba có vẻ dễ dàng hơn. Hai thầy trò gặp được vợ chồng một viên quận công, những người nhàn cư và rất thích đọc tiểu thuyết hiệp sĩ. Họ mời hai thầy trò về dinh quận công và tổ chức lễ đón long trọng với nghi thức hiệp sĩ. Thật là bất ngờ đối với cả hai thầy trò vì chưa bao giờ họ được hưởng những hạnh phúc như vậy. Thế là thầy trò trở thành người mua vui cho vợ chồng quận công. Xan-chô trở thành chúa đảo trên đất liền như lời hứa của Đôn Ki-hô-tê, cho dù chỉ là chúa đảo mười ngày...Hai thầy trò cho rằng họ đã mất đi cái lớn nhất của cuộc đời, đó là tự do. Họ rời 10
- bỏ dinh thự quận công và ra đi. Hai thầy trò gặp hiệp sĩ Vầng trăng bạc, hiệp sĩ này không phải là ai khác mà chính là cậu tú Xamxôn Caraxcô (Samson Carasco)- người chủ trương bắt Đôn kihôtê từ bỏ con đường lang thang bằng chính hình thức hiệp sĩ, - và nhận lời thách đấu với hiệp sĩ này với điều kiện nếu thắng, hiệp sĩ Đôn kihôtê sẽ là chủ nhân của hiệp sĩ Vầng trăng bạc, còn thua thì phải quay về không được lang thang nữa. Hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê nhận lời và thua cuộc. Chàng treo áo giáp và vũ khí lên cây và trở về nhà. Chàng chỉ sống thêm một thời gian ngắn nữa trong tình cảm yêu mến của dân làng. Dân làng đã lập cho chàng một tấm bia, ghi rõ: nơi đây yên nghỉ hiệp sĩ trứ danh Đôn Ki-hô-tê xứ Mantra. (Tóm tắt tác phẩm dựa vào cuốn: Giáo trình văn học phương Tây của nhà xuất bản ĐHSP Hà Nội) • Đoạn trích, văn bản: ĐÁNH NHAU VỚI CỐI XAY GIÓ (Trích Đôn Ki-hô-tê) Nhân dân Tây Ban Nha đã từng có lời truyền tụng về một nhà văn nổi tiếng của họ: “ Nếu vì nghèo mà Xét van tét phải viết văn thì cầu giời đừng bao giờ cho ông ấy giàu”, để ông còn có thể viết mãi. Được nhân dân yêu mến như vậy là bởi Xét van tét, thông qua các tác phẩm của mình, đã thể hiện được tài năng nghệ thuật độc đáo cũng như một nhân sinh quan tích cực. “Đôn Kihôtê” là một tác phẩm như thế. Cuốn tiểu thuyết này là cuộc hành trình đầy bi hài, hoang tưởng của Đôn Ki-hô-tê – chàng hiệp sỹ tài ba xứ Mantra với anh chàng giám mã Xan -chô béo mập. Trong đó, một trong những cuộc phiêu lưu nổi tiếng nhất chính là lần “Đánh nhau với cối xay gió”. “Đánh nhau với cối xay gió” là một đoạn trích không dài nhưng đủ để hầu hết những nét tính cách của nhân vật chính được bộc lộ. Có thể nói, với những gì mà nhà văn đã “gán ghép” vào cho nhân vật chính của mình thì đây thực sự là những kẻ tương phản nhau từ tính tính cách đến lí tưởng. Trước hết, hai thầy trò nhận thức hoàn toàn khác nhau về thế giới sự vật xung quanh. Ở giữa cánh đồng nơi hai người đi qua, có khoảng ba bốn chục chiếc cối xay gió. Đôn Ki-hô-tê với dòng máu hiệp sĩ trong người đã nhìn ra ngay chúng là những “tên khổng lồ ghê gớm”, “cái giống xấu xa” cần được quét sạch ngay khỏi mặt đất này. Đấy là một cách “phụng sự chúa” và có thể giúp thu về những chiến lợi phẩm khiến hiệp sĩ trở nên giàu có. Đôi mắt của hiệp sĩ giang hồ mê muội mách bảo Đôn Ki- hô-tê rằng “cánh tay chúng dài ngoẵng, có đứa, cánh tay dài tới hai dặm”. Trong khi 11
- đó,Xan chô Panxa đủ tỉnh táo để hiểu đó chỉ là những chiếc cối xay gió vô hại, “cái vật tông giống cánh tay là những cánh quạt, khi gió thổi, chúng sẽ quay tròn làm chuyển động cối đá bên trong”. Nhưng tinh thần hiệp sĩ đã bùng lên khiến cho Đôn Ki-hô-tê duy nhất tin vào những điều mình nghĩ. Trong cơn phấn khích, chàng coi giám mã của mình là một kẻ hèn nhát, còn những lời nói khôn ngoan, đúng đắn kia chỉ là thứ bỏ đi. Vây là những gì được đọc trong tiểu thuyết kiếm hiệp đã trở thành thực tế trước mắt. Đôn Kihôtê tin vào chúng và tin vào mình một cách mù quáng và ảo tưởng. Bất chấp sự ngăn cản của Xan-chô Pan-xa, Đôn Ki-hô-tê lao vào chiến đấu với những con quái vật khủng khiếp. Chàng thúc ngựa xông lên không do dự, mặc cho Xancho vẫn tiếp tục hét lên những lời “không tưởng” về chiếc cối xay gió. Có thể thấy tuy Đôn Ki-hô-tê nhìn mọi việc và hành động một cách hão huyền nhưng ở mức độ nào đó, cái hão huyền này vẫn thể hiện rõ lòng dũng cảm và tình yêu chính nghĩa của chàng. Biết “những tên quái vật khổng lồ” rất ghê gớm và đông đảo nhưng chàng không tỏ ra khiếp sợ. Biết mình sắp bước vào một “cuộc giao tranh điên cuồng và không cân sức” nhưng chàng vẫn quả cảm xông lên. Lời thách đấu hùng hồn “Chớ có chạy trốn, lũ hèn mạt nhát gan kia, bởi duy nhất chỉ có một hiệp sĩ tấn công bọn mi đây” đã chứng tỏ thái độ không khoan nhượng trước kẻ thù, trước cái ác của Đôn Kihôtê. Chàng thực sự mang niềm tin mãnh liệt về sứ mệnh của một hiệp sĩ là phải quét sạch cái ác và phụng cho Chúa. Bởi thê, ở một vài khía cạnh, Đôn Ki-hô-tê cũng là một con người cao cả, yêu công lí, chính nghĩa và sẵn sàng chiến đâu, hi sinh vì nó. Đáng thương thay, sự cao cả đó bị đặt nhầm chỗ, bị đôi mắt nhìn đời sai lệch và dòng máu hiệp sĩ không tưởng dẫn đường. Những kẻ thù chỉ là tưởng tượng. Trước mắt chàng, những chiếc cối xay gió khổng lồ đã bắt đầu chuyển động khi một làn gió nhẹ thổi đến. Các cánh quạt bắt đầu quay không làm nhụt chí Đôn Ki-hô-tê . Chàng lao tới “đâm mũi giáo vào cánh quạt” và “gió làm quạt quay tít khiến ngọn giáo gãy tan tành, kéo theo cả ngựa và người văng ra xa”. Cuộc giao tranh tạm thời dùng lại. Xan-chô Pan-xa lúc này mới xuất hiện. Nếu xét theo quan điểm hiệp sĩ, Xan-chô quả không xứng đáng với tư cách giám mã của mình đã bỏ mặc chủ chiến đấu một mình trong lúc nguy nan. Nhưng trên thực tế, đây là hành động của một kẻ tỉnh táo, thực dụng, biết tránh xa những nơi nguy hiểm và không “tiếp tay” cho ảo tưởng. Một lần nữa, Xan-chô khẳng định “rằng đó chỉ là những chiếc cối xay gió, ai mà chẳng biết thế, trừ kẻ nào đầu óc cũng quay cuồng như cối xay” Xan-chô đã nói 12
- đúng sự quay cuồng của Đôn Ki-hô-tê lúc ấy cũng như ít nhiều tỏ ra thương hại cho chủ mình. Tuy nhiên, nó không có chút tác động nào đến chàng hiệp sĩ vừa thất bại. Đôn Ki-hô-tê vẫn hão huyền nghĩ ra đó là trò pháp thuật xấu xa của lão pháp sư Phơ- re-xton “vì lão thâm thù ta lắm cơ”. “Cầu chúa hết sưc phù hộ cho !”- Xan-chô chỉ còn cách xót xa cầu nguyện cho đầu óc giàu trí tưởng tượng, mộng mơ của Đôn Ki-hô-tê . Hai thầy tò tiếp tụcnlên đường và vẫn không thôi bàn luận về cuộc phiêu lưu vừa xảy ra. Đôn Ki-hô-tê lại mơ về những hành trình mới đầy thử thách, nguy nan. Trong khin ấy, Xan-chô đã nhận ra cuộc giao tranh không cân sức và hậu quả của hành động liều lĩnh vừa rồi cơ hồ đã ảnh hưởng đến tư thế của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê : “Hình như ngài hơi vẹo sang một bên, chắc là do bị ngã lúc nãy”, “ngài ngồi thẳng lại một chút chứ”. Nhưng Đôn Ki-hô-tê, tuy không chịu nhận rằng mình bị đau, vẫn nhất nhất bảo vệ cho tinh thần hiệp sĩ: “ta không kêu đau là vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương thế nào cũng không được rên rỉ, dù xổ cả gan ruột ra ngoài”. Những điều được đọc trong tiểu thuyết nhắc nhở chàng phải chứng tỏ nghị lực phi thường trước mọi đau đớn. Còn Xan-chô thì ngược lại, là nông dân thật thà, chất phác nên bày tỏ một lẽ rất đơn giản: “chỉ cần hơi đau một chút là tôi rên rỉ ngay, trừ khi cả đến giám mã của hiệp sĩ cũng không được rên rỉ”. Thật vậy, lời phân trần này của Xan-chô đã vạch ra một ranh giới khác biệt giữa hiệp sĩ và những kẻ bình thường. Hiệp sĩ hay làm những việc phi thừơng nhưng lại hoang tưởng. Người thường làm những việc bình thường, bị đau sẽ kêu đau như thế mới là không mê muội. Đôn Ki-hô-tê không nhịn được cười vì sự chất phác, đơn giản của Xan-chô song vẫn không nhận ra đơực kẻ đáng cười chính là mình và những tưởng tượng viễn vông của mình. “ Xan-chô nhắc nhở đã đến giờ ăn”. Trong chuyến phiêu lưu của mình, Đôn Ki-hô-tê nào có cần ăn vì vẫn đang mải mê đeo đuổi những mục đích phi thường, hành động cao cả mà hiệp sĩ cần phải thực hiện. Xan-chô thì khác, mặc cho chủ mơ mộng, anh cũng thực hiện hành trình của mình nhưng mục đích khác và theo cách khác. “Xan-chô ngồi lại cho thật thoái mái trên lưng lừa, lôi các thứ trong cái túi hai ngăn ra, vừa đi theo chủ vừa ung dung đánh chén, thỉnh thoảng lại tu bầu rượu một cách ngon lành”. Xan-chô tự nhiên hưởng thụ và hưởng thụ như một người bình thường chứ không như phải giám mã của hiệp sĩ giang hồ. Với cái “dạ dày no căng toàn là rượu thịt”, Xan-chô chẳng còn nhớ gì đến lời hứa hẹn của Đôn Ki-hô-tê rằng sau này sẽ cho mình làm chúa đảo. Anh thậm chí còn thấy thoái mái với “nghề đi tìm kiếm chuyện 13
- phiêu lưu” này nữa. Thật vây, trong chuyến đi này, nếu thầy hành động theo kiểu viễn vông, thiếu thực tế bao nhiêu thì trò lại sống một cách rất bình thường, có khi tầm thường bấy nhiêu. Họ làm thành một cặp tương phản đầy hài hước. Sự tương phản lại một lần nữa được khắc họa đậm nét ở chi tiết cuối cùng của đoạn trích khi hai người nghỉ lại vào đêm. Sau một ngày mệt nhọc, đau dớn vì chiến đấu với “những tên quái vật khổng lồ”, Đôn Ki-hô-tê vẫn giữ được phong thái hiệp sĩ của mình. Suốt đêm chàng không ngủ để nghĩ tới tình nương Đuyn-xi-nê-a xinh đẹp, duyên dáng mà mình đã tự phong. Và bởi hai thầy trò đang ở dưới các vòm cây nên dường như khung cảnh ấy khiến chàng thêm mơ mộng. Chẳng phải các hiệp sĩ trong sách vẫn thường thức trắng nhiều đêm ròng “trong rừng hoặc nơi hoang mạc” để liên tưởng tới tình nương của mình đó sao ? Những ám ảnh từ sách vở quấn lấy Đôn Ki-hô-tê cả ngày lẫn đêm không dứt. Xan-chô thì không như thế. Đã ăn uống no say nên bác ngủ liền một mạch và chắc sẽ không dậy vào sáng hôm sau nếu chủ không gọi. Vừa tỉnh giấc, Xan-chô đã nghĩ ngay tới bầu rượu “nhẹ hơn tối hôm trước” của mình và lo lắng sẽ không tìm được rượu nữa trên quãng đường này. Đến cuối cùng, Đôn Ki-hô-tê vẫn thực hiện nghĩa vụ của một hiệp sĩ, còn Xan-chô tiếp tục mải miết với cuộc sống tầm thường. Xet-van-tét đã xây dựng rất thành công cặp nhân vật đối lập nhưng lại có khả năng bù trừ, phụ trợ cho nhau. Nếu như Đôn Ki-hô-tê tự thấy mình mang dòng dõi quý tộc thì Xan-chô Pan-xa lại có nguồn gốc thuồn túy là nông dân. Nếu Đôn Ki-hô-tê có khát vọng cao cả, ước mơ chính nghĩa thì Xan-chô Pan-xa chỉ có những nhu cầu vật chất tầm thường. Nếu Đôn Ki-hô-tê mê muội vì tiểu thuyết hiệp sĩ thì Xan-chô Pan-xa tỉnh táo trước mọi việc làm. Nếu Đôn Ki-hô-tê điên rồ chỉ sống trong tưởng tượng thi Xan-cho Panxa thực tế duy nhất sống trong hiện thực... Đặt hai tính cách bên nhau, Xét van tét muốn làm nổi rõ sự tương phản, trái ngược nhau giữa họ. Tuy nhiên, có thể thấy rằng hai tính cách ấy lại giúp họ trở thành thầy - trò, hai người bạn thân thiết chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Ví như nhờ sự tỉnh táo can ngăn, khuyên nhủ của Xan-chô mà cuối cùng Đôn Ki-hô-tê đã tỉnh ngộ trở về, nhận ra sự ảo tưởng của mình. Ngược lại, nhờ đi theo Đôn Ki-hôt-ê mà Xan -chô đã vun đắp được thêm lòng thương người, tình yêu tự do, công bằng và chính nghĩa. Nói cách khác, nhược điểm của người này lại có tác dụng tích cực nào đó với người kia, giúp người kia hoàn thiện nhân cách hơn. Đồng thời, xét đến cùng, sự hão huyền không phải bản chất thật sự của Đôn Ki-hô-tê. 14
- Nó chỉ là sản phẩm mà các loại tiểu thuyết hiệp sĩ đã tiêm nhiễm vào đầu chàng. Nhà văn ở đây đã lên tiếng phê phán những tác hại của loại tiểu thuyết đã lỗi thời này. “Đánh nhau với cối xay gió” là cuộc giao tranh do trí tưởng tượng làm ra trong chuyến phiêu lưu có thật của hai thầy trò Đôn Ki-hô-tê. Chỉ có một dung lượng ngắn ngủi nhưng tác giả đã xây dựng thành công, làm nổi bật tính cách của nhân vật. Đôn Ki-hô-tê và Xan-cho Pan-xa đã trỏ thành một cặp tương phản bất hủ của thế giới. Ở họ có lời nhắn nhủ của Xét-van-tét về những giá trị nhân văn cao đẹp trong cuộc sống con người. b. Nghệ thuật Sự trái ngược mất cân xứng giữa lí tưởng và hiện thực, giữa cái hình thức bên ngoài và cái bên trong là nguyên tắc cơ bản để nhà văn tạo nên cái hài. Ở đoạn trích này cũng vậy Xéc-van-téc đã xây dựng nhân vật trung tâm, nhân vật điển hình bất hủ. Khi tạo ra cặp đôi Đôn Ki-hô-tê và Pan-xa với hàng loạt chi tiết gây cười. Qua đó nhà văn phê phán loại tiểu thuyết hiệp sĩ, cổ vũ cho lối sống lang thang, vất vưởng đang phát triển tràn lan trong nền văn học Tây Ban Nha lúc bấy giờ. Nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” được thể hiện ở các mặt sau: - Xây dựng tình huống truyện: Ðặt nhân vật vào tình huống hài hước, để tạo ra tiếng cười và nhân vật bộc lộ tính các rõ nét. - Xây dựng nhân vật tương phản: Là một hiệp sĩ chân chính nên chợt thấy tên khổng lồ hung tợn, nghênh ngang trên cánh đồng (những chiếc cối xay gió vô tri) là máu hiệp sĩ trong Đôn Ki-hô-tê sôi lên. Hành động đánh nhau với cối xay gió nói lên tính cách dũng cảm luôn khát khao làm việc nghĩa cứu đời nhưng đó là một việc làm điên rồ của một hiệp sĩ đầu óc không tỉnh táo măc bệnh hoang tưởng trầm trọng. Còn bác Pan-xa là một người tỉnh táo, thực tế, với những khát vọng lớn lao đang ấp ủ đó là mong sẽ có nhiều chiến lợi phẩm và được làm chúa đảo như lời hứa của Đôn Ki-hô-tê. Nhưng khát vọng của bác cũng điên rồ, ảo tưởng chẳng khác gì hành động của chủ. Nhưng trong đoạn trích ta thấy bác rất tỉnh táo và hành động khôn ngoan có lúc tầm thường; rất chân thật như bản chất của người nông dân và bác cảm thấy nghề giám mã cũng thú vị “cái nghề đi tìm kiếm chuyện phiêu lưu này dù có nguy hiểm đến đâu cũng chẳng vất vả gì mà còn thấy thoải mái nữa là khác”. 15
- Hai nhân vật một chủ - một tớ, luôn có mặt bên nhau, song hành trên những chặng đường phiêu lưu tìm kiếm chuyện bất bình để ra tay giải quyết.. Nét tương phản từ ngoại hình đến tính cách của cặp đôi nhân vật điển hình càng làm nổi bật bức chân dung vô tiền khoáng hậu của mỗi người. - Thủ pháp trò chơi Pan-xa và Đôn Ki-hô-tê hai nhân vật như hai diễn viên hài diễn xuất rất thành công. Điên rồ - tỉnh táo, vừa thực – vừa hư cứ đan xen tạo ra qua hành động, suy nghĩ, qua lời trò chuyện của hai nhân vật làm cho người đọc cười sảng khoái: “Đánh nhau với cối xay gió”. Nhưng đằng sau tiếng cười và hành động của Đôn Ki-hô-tê – Pan-xa người đọc mới nhận ra chiều sâu tố cáo của ngòi bút hiện thực thấm đậm nhân văn của Xéc-van-tét. Mọi nơi trong xã hội Tây Ban Nha lúc này đều cần đến ngọn giáo công phá của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê . - Kết cấu mạch vòng Trong tác phẩm Đôn Ki-hô-tê ba lần nhân vật ra đi và ba lần trở về của nhân vật tạo nên những vòng khép kín rất điển hình trong văn học thế giới. Đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” là lần ra đi thứ hai của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê và có thêm giám mã Pan-xa đi cùng. Các nhân vật được đăt vào trong thế của tiếng cười, tiếng cười hài hước, tiếng cười phê phán... Đây cũng là lí do tác phẩm được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước yêu thích và tác phẩm sống mãi với thời gian. Nhân dân Tây Ban Nha đã từng có lời truyền tụng về một nhà văn nổi tiếng của họ “nếu nghèo mà Xéc-van-téc phải viết văn thì cầu giời đừng bao giờ cho ông ấy giàu” để ông còn viết mãi.. Được nhân dân yêu mến như vậy là bởi Xéc-van-tét thông qua tác phẩm của mình đã thể hiện tài năng nghệ thuật độc đáo. (Phân tích đoạn trích tham khảo: Giáo trình văn học phương Tây của nhà xuất bản ĐHSP Hà Nội) C. Tranh ảnh Đối với văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” là một đoạn trích mang ý nghĩa tố cáo sâu sắc và hài hước. Muốn truyền đạt tiếng cười phải bằng hình ảnh học sinh mới thấy hết được sự đối lập tương phản giữa hai nhân vật trung tâm, nhân vật điển hình và tiếng cười bật ra từ đó. Hiện nay dạy học gắn với công nghệ thông tin chúng ta dễ dàng giúp học sinh cảm nhận được sự tương phản của cặp đôi Đôn Ki-hô-tê và Pan-xa từ chân dung, ngoại hình, hành động, tính cách trực tiếp bằng thị giác. 16
- 4. Ý nghĩa của đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” Lí tưởng mà Đôn Ki-hô-tê theo đuổi là lí tưởng cao đẹp nhưng đáng cười vì lí tưởng ấy khoác màu hiệp sĩ mà thực tế xã hội Tây Ban Nha thời phục hưng không còn chỗ đứng cho mọi loại hiệp sĩ nữa. Lí tưởng ấy là lí tưởng hi sinh phấn đấu vì mọi người. Gánh nặng lí tưởng đè nặng lên đôi vai gầy còm của người hiệp sĩ tạo thành một sự tương phản từ đó tạo ra tiếng cười giễu cợt, mỉa mai nhưng rất thâm thúy. Lí tưởng ấy cũng thể hiện khát vọng của thời đại, muốn có công bằng, muốn có chính nghĩa và muốn giúp đời. Tiếng cười hài hước được cất lên ngay từ đầu văn bản khi Đôn Ki-hô-tê nhìn thấy những chiếc cối xay gió giữa đồng và nói với Pan-xa về ý định hành động của mình. Văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” kể câu chuyện về sự thất bại của Đôn-Ki-hô-tê khi đánh nhau với cối xay gió, nhà văn chế giễu lí tưởng hiệp sĩ phiêu lưu, hão huyền; đồng thời phê phán thói thực dụng thiển cận của con người trong đời sống xã hội. Đoạn trích tạo ra tiếng cười hài hước, dí dỏm. 17
- B. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ( PTDH: SỬ DỤNG MÁY CHIẾU) Ngày soạn: 12/ 10/ 2018. Ngày dạy: 15/ 10/ 2018, thực hiện lớp 8B Tiết 26, 27 ĐÁNH NHAU VỚI CỐI XAY GIÓ Trích: “Đôn Ki-hô-tê” của Xéc-van-tét I. MỤC TIÊU BÀI HỌC 1. Kiến thức: Cảm nhận đúng về các hình tượng và cách xây dựng các nhân vật này trong đoạn trích. - Đặc điểm thể loại truyện với nhân vật, sự kiện, diễn biến truyện qua đoạn trích trong tác phẩm Đôn Ki-hô-tê. - Ý nghĩa của cặp nhân vật bất hủ mà Xéc-van-tét đã góp vào văn học nhân loại: Đôn Ki- hô- tê và Xan-chô Pan-xa. 2. Kĩ năng: - Nắm bắt diễn biến của các sự kiện trong đọan trích. - Chỉ ra được những chi tiết tiêu biểu cho tính cách mỗi nhân vật (Đôn ki-hô-tê và Xan-chô Pan-xa) được miêu tả trong đoạn trích. 3. Thái độ: - Đánh giá các mặt tốt, xấu của hai nhân vật Đôn Ki-hô-tê, Xan-chô Pan-xa. 4. Hình thành năng lực 4.1. Năng lực chung: - Tự chủ và tự học: Độc lập trong suy nghĩ và thực hiện nhiệm vụ. - Giao tiếp và hợp tác: Tự tin trình bày hiểu biết của mình trước bạn bè, thầy cô; biết lắng nghe, nhận nhiệm vụ và hoàn thành các hoạt động theo nhóm. - Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Có thao tác xử lí nhanh, đúng trọng tâm nhiệm vụ học tập, sáng tạo trong cách tiếp cận và trình bày vấn đề. - Năng lực sử dụng công nghệ thông tin: Sử dụng CNTT trong việc tìm hiểu, khám phá tác phẩm. 4.2. Năng lực chuyên biệt: 18
- - Năng lực - đọc hiểu văn bản: Kĩ năng đọc - hiểu văn bản tiểu thuyết của thời đại Phục hưng. - Năng lực thẩm mĩ: Trân trọng lí tưởng cao đẹp của nhân vật, biết nghĩ và hành động vì cộng đồng. 5. Phẩm chất: Yêu chính nghĩa, sống có lí tưởng cao đẹp, lí tưởng phải gắn với thực tế cuộc sống. II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH 1. Chuẩn bị của giáo viên: Thiết bị dạy học ; Học liệu . 2. Chuẩn bị của học sinh: Các nội dung hoạt động do gv giao nhiệm vụ III. CÁC HOẠT ĐỘNG A. KHỞI ĐỘNG - Mục tiêu: Thông qua hoạt động khởi động, cuốn hút học sinh nhập cuộc, “động não” về tình huống được đặt ra, dẫn dắt học sinh tham gia vào các hoạt động học tiếp theo. - Phương pháp/kĩ thuật dạy học: tích cực hóa hoạt động của học sinh, hs tích cực tham gia hoạt động đọc hiểu. - Hình thức tổ chức: đàm thoại, hoạt động theo nhóm - Phương tiện dạy học: sgk, bảng, HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH - Chuyển giao nhiệm vụ học tập. * Tình huống khởi động của của cả lớp: - - Hs suy nghĩ, trả lời. - Hình ảnh cối xay gió em thường thấy có nhiều ở - - HS nhận xét câu trả lời những nước nào ? Họ sử dụng các cối xay gió để làm của bạn. gì ? - Theo dõi, hướng dẫn, giúp đỡ học sinh thực hiện nhiệm vụ. SP cần đạt sau khi kết thúc hoạt động: - Cối xay gió: Cối xay hoạt động bằng sức gió thổi quay các cánh quạt. Tại các nước châu Âu rất phổ biến các loại cối xay này để lấy các năng lượng của thiên nhiên trong việc - - Suy nghĩ về vấn đề được đặt ra. Từ cách nêu vấn đề nêu như trên, giáo viên dẫn học sinh vào các hoạt động mới: Hoạt động hình thành kiến thức. 19
- B. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC - Mục tiêu: Thông qua hoạt động tìm hiểu giúp hs có cảm nhận đúng về các hình tượng và cách xây dựng các nhân vật này trong đoạn trích. HS nắm, hiểu được những đặc điểm, phẩm chất của Đôn-ki-hô-tê, Xan-chô Pan-xa và nghệ thuật kể, tả nhân vật. Thấy được NT xây dựng cặp nhân vật tương phản bất hủ. - Phương pháp/kĩ thuật dạy học: đàm thoại, nêu vấn đề, thảo luận cặp đôi. - Hình thức tổ chức: Tổ chức trong lớp học. - Phương tiện dạy học: SGK, bảng, cá nhân HS HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH - Chuyển giao nhiệm vụ học tập - Thực hiện nhiệm vụ GV - Nhóm (cặp đôi): Qua tìm hiểu ở nhà và phần chú thích phân công. *, em hãy trình bày hiểu biết của mình về nhà văn Xéc- - Trao đổi, thảo luận văn-tét và sự nghiệp của ông. - Báo cáo kết quả học tập. - - * HÌNH ẢNH: GV giới thiệu chân dung nhà văn Xéc- Trình bày sản phẩm của van-tét và bìa cuốn tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê. (Máy hoạt động học. chiếu) - Nhóm (cặp đôi): Trình bày ngắn gọn hiểu biết của em vể tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê ? * GV hướng dẫn đọc văn bản. - Chú ý các câu đối thoại nhưng không in xuống dòng của hai nhân vật chính; những câu nói với cối xay gió – bọn khổng lồ của Đôn Ki-hô-tê; cần đọc với giọng thích hợp, vừa ngây thơ vừa tự tin xen lẫn hài hước. - 3 hs đọc nối tiếp nhau cho hết đoạn trích. - GV nhận xét cách đọc. - Nhóm (cặp đôi): Xác định bố cục của văn bản theo trình tự diễn biến trước, trong và sau khi Đôn Ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió ? - Nhóm (cặp đôi): Liệt kê những sự việc chủ yếu, qua đó tính cách của lão hiệp sĩ và bác giám mã được bộc lộ ? - Nhóm (cặp đôi): Phương thức biểu đạt chính là gì ? - Nhóm (cặp đôi): Tình huống truyện ? 20

