SKKN Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng rèn học đúng cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Mai Lộc

pdf 12 trang baochau 05/02/2026 1270
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng rèn học đúng cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Mai Lộc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_gop_phan_nang_cao_chat_luong_ren_hoc_d.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng rèn học đúng cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Mai Lộc

  1. MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU I. Lí do lựa chọn biện pháp:.....................................................................1 PHẦN II: NỘI DUNG I. Đánh giá thực trạng:..............................................................................2 II. Trình bày biện pháp:............................................................................3 1. Biện pháp tác động giáo dục: ..........................................................3 2. Hướng dẫn học sinh phát âm: ..........................................................4 3. Hướng dẫn học sinh phần tập đọc:...................................................5 4. Giáo viên đọc mẫu phải chuẩn: ...................................................... 5 5. Khuyến khích học sinh phát hiện và điều chỉnh lẩn nhau.............. 6 6. Rèn luyện tính kiên trì cho học sinh: .............................................. 7 7. Tuyên dương khuyến khích học sinh: ............................................. 7 PHẦN III: HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TRONG THỰC TẾ DẠY HỌC 7 PHẦN IV: KẾT LUẬN I. Tóm tắt ý nghĩa của biện pháp :.............................................................8 II. Kiến nghị, đề xuất:................................................................................9 1
  2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG RÈN ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 1 PHẦN 1: MỞ ĐẦU LÍ DO LỰA CHỌN BIỆN PHÁP Bác Hồ đã dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Lời dạy đó là “kim chỉ nam” cho mục tiêu giáo dục của Đảng. Chính vì thế mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện. Giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, là nền tảng khoa học, đòi hỏi cao ở việc “Dạy học không chỉ là dạy chữ mà thông qua dạy chữ để dạy người”. Đặc biệt năm học 2020-2021 là năm học đầu tiên triển khai chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa lớp 1 mới. Là chương trình được xây dựng theo quan điểm phát triển phẩm chất và năng lực của người học, giúp các em hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt không chỉ giúp học sinh nắm chắc tri thức cơ bản mà hình thành bốn kĩ năng đọc – viết – nói và nghe một cách vững chắc. Trong bốn kĩ năng thì kỹ năng đọc rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em. Nó thể hiện kết quả nhận biết các con chữ và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, câu sau cùng là đọc được một bài thơ , một bài văn ngắn, vv Để rèn cho học sinh đọc đúng, đọc thông thạo một văn bản là việc tương đối khó. Điều này khiến tôi rất băn khoăn, trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng đọc đúng, giúp học sinh nắm chắc được kiến thức cơ bản ngay từ đầu lớp 1, là nền tảng cho sự phát triển của học sinh sau này. Qua nhiều năm giảng dạy lớp 1, tôi nhận thấy kỹ năng đọc rất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, sẽ giúp các em học tốt các môn học khác, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học. 2
  3. Chính vì những lý do trên mà tôi chọn “ Một số biện pháp rèn đọc đúng cho học sinh lớp 1” với mong muốn tìm ra những biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giảng dạy. PHẦN II: NỘI DUNG I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG Năm học 2020 - 2021, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 1A3 gồm 32 học sinh/ 12 nữ. Học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm phần lớn là ngoan và chăm học. Thế nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh tiếp thu bài còn chậm, nhiều em có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo (em Vũ, Việt Anh) nên các em thiếu sự quan tâm sâu sát của bố mẹ. Những em học sinh học yếu có tâm lí chán học, thường xuyên không chuẩn bị bài trước khi đến lớp (em Vũ, Gia Bảo, Việt Anh). Một số em có tính hiếu động thường không tập trung trong giờ học, hay nói chuyện riêng (em Gia Bảo, Giang) Từ thực tế trên, tôi xác định có những thuận lợi và khó khăn trong công tác giảng dạy lớp của mình ở năm học này như sau: 1. Thuận lợi: a. Về giáo viên: - Bản thân tôi nhiệt tình, tâm huyết, có ý thức trong việc tìm tòi các giải pháp để giảng dạy đạt hiệu quả cao và có sự tích lũy kinh nghiệm qua nhiều năm trực tiếp dạy lớp 1. - Ban giám hiệu nhà trường, Hội cha mẹ học sinh và Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc dạy và học của từng giáo viên và học sinh, tạo điều kiện giúp đỡ hỗ trợ nhiệt tình về mọi mặt. b. Về học sinh: - Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập. - Đa số các em đều ngoan, lễ phép và biết vâng lời thầy cô giáo. - Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em mình. - Hầu hết các em đều biết các chữ cái khi vào đầu lớp 1. 3
  4. 2. Khó khăn: - Trình độ tiếp thu của học sinh không đồng đều, một số em tiếp thu bài còn chậm, thiếu tự tin trong học tập và khi tham gia các hoạt động. - Một số em thường phát âm sai do phương ngữ phụ âm đầu tr/ch “ âm trờ đọc thành chờ”; s/x âm sờ đọc thành xờ. ( Việt Anh, Diệu Anh, Thái Bảo). II. TRÌNH BÀY BIỆN PHÁP Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp là người trực tiếp giảng dạy phân môn Tiếng Việt, tôi đã điều tra điều kiện học tập, nền nếp, từ đó có biện pháp, kế hoạch phân loại học sinh để có phương pháp dạy học và giáo dục phù hợp với từng em. Đầu tháng 9/2020 tôi đã khảo sát về chất lượng học tập của lớp 1A3 đạt kết quả như sau: + Khảo sát môn Tiếng Việt Tổng số Đọc chưa Đọc lưu loát Đọc đúng Đọc chậm HS được 32 7 21,9% 9 28,1% 10 31,2% 6 18,8% Từ việc điều tra, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến đọc chưa đúng của học sinh, theo tôi để khắc phục những hạn chế trên cần chú ý đến một số biện pháp sau: 1. Biện pháp tác động giáo dục. Tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đầu năm học và thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn Tiếng Việt (sách giáo khoa Tiếng Việt, vở bài tập Tiếng Việt, Bộ đồ dùng Tiếng Việt) - Thường xuyên phối hợp với phụ huynh nhắc nhở các em chuẩn bị bài, đồng thời lập nhóm lớp trên Zalo, Messenger để hàng ngày hướng dẫn phụ huynh cách đọc, cách phát âm chữ cái, cách đánh vần tiếng để phụ huynh nắm rõ cách đọc nhằm hỗ trợ giáo viên kèm cặp con em mình. - Lập đôi bạn cùng tiến để các em giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. 4
  5. - Đối với các học sinh đọc còn yếu hoặc chưa nhận biết được mặt chữ cái thì giáo viên nên dành nhiều thời gian dạy ôn các chữ cái đồng thời cho các em ôn lại những nét cơ bản. 2. Hướng dẫn học sinh phát âm Hướng dẫn cách phát âm là phương pháp quan trọng hàng đầu, đòi hỏi người giáo viên phải có những hiểu biết, kinh nghiệm và cả kĩ năng hướng dẫn tốt. Khi hướng dẫn học sinh phát âm, cần dùng lời nói mạch lạc, đơn giản để học sinh dễ hiểu. Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn, giáo viên cần phải so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (môi – răng – lưỡi, đường dẫn hơi, điểm thoát hơi ) * Ví dụ: Khi học sinh đọc lẫn lộn giữa âm l / n giáo viên cần hướng dẫn: + Âm l: lưỡi uốn cong, bật đầu lưỡi cho hơi thoát ra mạnh, dứt khoát. + Âm n: Lưỡi ép sát lợi trên, sau đó mở miệng cho hơi thoát ra trên mặt lưỡi, luồng hơi có thể kéo dài. + Âm tr/ch; s/x giáo viên cũng hướng dẫn chậm, kĩ như phân biệt l/n và hằng ngày cho các em phát âm nhắc lại nhiều lần để nhớ và phát âm đúng. - Để chữa lỗi phát âm sai, tôi giảng giải ý nghĩa của chữ cái, vần để các em nhớ và đọc viết đúng. * Ví dụ: Học sinh dễ lẫn lộn khi phát âm b và d nên tôi hướng dẫn kĩ cấu tạo của hai con chữ này. + Âm d gồm 2 nét: Nét cong kín nằm ở bên trái và nét thẳng. Đọc là : “ dờ” + Âm b gồm 2 nét: Một nét thẳng và nét cong kín nằm ở phía bên phải. Đọc là : “bờ”. * Ví dụ: HS nhầm lẫn ở những vần có âm cuối c – t như vần “at” đọc thành “ac”:, giáo viên cần hướng dẫn: + ac: mở miệng rộng, hơi thoát ra gần trong chân lưỡi. + at: môi mở hơi rộng, đưa lưỡi chạm vào lợi trên, hơi ra trên mặt lưỡi. 5
  6. Trong từng tiết học, từng bài luyện tập, tôi luôn tìm đủ mọi cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của học sinh thông qua các bài đọc, giờ chơi, giờ nghỉ .. từ đó củng cố thêm kiến thức cho các em. 3. Hướng dẫn học sinh phần tập đọc. Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh, những học sinh đọc lưu loát đã nắm vững phần chữ cái, nắm vững phần vần chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu và cả bài tập đọc. Còn học sinh đọc yếu, nhận biết còn chậm dẫn đến đọc từ và câu rất khó khăn. Vì thế đối với các học sinh này, sang phần tập đọc giáo viên cần hết sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội tập đọc cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều. Giáo viên nên cho học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ, sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ, cuối cùng ghép lại đọc câu hoàn chỉnh. Tôi chú trọng hình thức đọc cá nhân để rèn luyện, uốn nắn cho từng học sinh, kết hợp đọc theo nhóm để nhiều học sinh được tham gia và tham gia nhiều lần trong một tiết học, xen kẽ đọc đồng thanh để tạo không khí lôi cuốn học sinh đọc yếu, học sinh hay rụt rè vào hoạt động học để đảm bảo toàn bộ học sinh trong lớp được tham gia luyện đọc và càng luyện đọc nhiều lần càng tốt. +Ví dụ: Khi học bài vần ac, ăc, âc đối với những em đọc yếu thì giáo viên hướng dẫn cho các em đọc vần và các từ ở trang chẵn: lạc, nhạc, mặc, nhắc, gấc, nhấc; bác sĩ, mắc áo, quả gấc. Những từ này giáo viên chủ yếu cho các em luyện đọc đúng cá nhân, khi đã đọc được mới cho đọc theo nhóm, tổ và đồng thanh còn những em đọc tốt thì đọc cả hai trang. Đến tiết luyện với những em đọc tốt thì đọc trơn cả hai trang đồng thời yêu cầu các em đọc thể hiện ngắt nghỉ dấu phẩy, dấu chấm đúng chỗ, còn những em đọc còn chậm thì chỉ yêu cầu đọc đúng. 4. Giáo viên đọc mẫu phải chuẩn Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, đặc điểm tâm lí là hay bắt chước, hay làm theo. Vì vậy, khi vận dụng phương pháp đọc mẫu cho học sinh, giáo viên cần rèn luyện cho các em biết kết hợp cả kĩ năng nghe và nhìn (nghe tiếng phát âm 6
  7. và quan sát môi, miệng, lưỡi của cô). Như thế học sinh sẽ phát âm đúng và dễ dàng hơn. Người giáo viên khi đọc mẫu, không đơn giản chỉ là phát ra âm tiết mà cần biết phối hợp với thuật “hình môi” nhằm hướng dẫn các em phát âm chuẩn xác hơn. Học sinh nếu chỉ nghe mà không nhìn miệng cô đọc thì việc phát âm sẽ không đạt hiệu quả cao. + Ví dụ: Học bài vần oa, oe, thì khi phát âm miệng mở to, môi phải tròn. Bài vần am, ăm ,âm thì khi phát âm xong hai môi chạm vào nhau, miệng mím lại,... Vì vậy học sinh phải quan sát miệng của giáo viên để thực hiện đúng và dễ dàng hơn. 5. Khuyến khích học sinh phát hiện và điều chỉnh lẫn nhau Hoạt động dạy và học luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ tương tác: giáo viên với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh. Một tiết học diễn ra nếu thiếu sự tương tác giữa học sinh với học sinh thì tiết học sẽ trở nên đơn điệu, không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, đồng thời bầu không khí lớp học sẽ thiếu sự nhẹ nhàng, tự nhiên; người giáo viên cũng không thể hiện rõ được vai trò là người chỉ dẫn để giúp các em tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức mà trong môn Tiếng Việt Giáo dục phổ thông 2018 với phương châm là “ Phát triển phẩm chất và năng lực của người học” cho nên giáo viên cần chú trọng việc rèn cho các em có kĩ năng nghe – nhận xét – sửa sai giúp bạn và tự sửa sai cho mình. Các em sử dụng các kĩ năng ấy thường xuyên trong các tiết học trở thành một thói quen, tạo nền nếp học tập tốt. * Ví dụ: Khi học bài âm th, ia ở phần nhận biết học sinh thảo luận nhóm 2, bạn này nêu nội dung đã quan sát nhận biết được – bạn kia nghe nhận xét, bổ sung và ngược lại. H1: Bạn thấy gì trong bức tranh? H2: Trong bức tranh có múa lân, có ông địa,.... H2: Bạn đã thấy gì trong bức tranh? H1: Trong bức tranh có chị Hằng, chú Cuội đang chia quà cho các bạn thiếu nhi. Như vậy cả hai bạn bổ sung cho nhau sẽ tìm hiểu được hoàn chỉnh nội dung phù hợp với câu ở dưới tranh. 7
  8. 6. Rèn luyện tính kiên trì cho học sinh Rèn cho học sinh có tính kiên trì là nhiệm vụ quan trọng. Bản thân người giáo viên cũng phải rất kiên trì để hình thành tính cách ấy cho học sinh. Khi có được lòng kiên trì, học sinh sẽ vượt qua những khó khăn để đạt tới đích cao nhất. Trong dạy phát âm cho học sinh, khi các em phát âm chưa đúng, phải điều chỉnh nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu, các em sẽ dễ chán nản, không muốn luyện tập. Khi ấy, giáo viên cần kiên trì hướng dẫn, làm mẫu, yêu cầu học sinh phát âm nhiều lần, thường xuyên động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen “Em đã đọc tốt hơn rồi, em cố gắng thêm tí nữa nhé”, “em đã đọc được rồi đấy, cố gắng lên em nhé” được động viên như vậy, học sinh sẽ không nản lòng vì nghĩ rằng mình sẽ làm được, sắp làm được, bạn làm được thì mình cũng sẽ làm được từ đó học sinh sẽ quyết tâm hơn và kĩ năng đọc ngày càng tiến bộ. 7. Tuyên dương, khuyến khích học sinh. Từ đầu năm học 2020 – 2021, tôi đã áp dụng các biện pháp nêu ở trên để rèn đọc cho các em đồng thời cũng thường xuyên kiểm tra đánh giá kết hợp với biện pháp tuyên dương, khuyến khích, từ đó các em rất hứng thú, vui vẻ, tạo được không khí thoải mái, là động lực cho các em tiếp tục rèn luyện, sửa chữa các lỗi mà các em mắc phải. Khi các em có tiến bộ, dù nhỏ nhất tôi cũng dùng những lời động viện để khuyến khích các em (VD: “Em đã phát âm đúng hơn hôm qua rồi, cố lên em nhé”, “Em đã có tiến bộ nhiều hơn rồi, cô khen em”...). Tôi không chỉ khen những em đã biết sửa lỗi mà tôi còn khen cả những em đã giúp bạn phát âm đúng, để từ đó các em có động lực giúp bạn hơn, hứng thú với công việc đó hơn. PHẦN III: HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TRONG THỰC TẾ DẠY HỌC Sau hai tháng tìm hiểu nguyên nhân và áp dụng những biện pháp trên về việc rèn đọc đúng cho học sinh lớp 1 qua phân môn Tiếng Việt. Để biết được kết quả bước đầu mình thực nghiệm thực tế, tôi đã cho học sinh của lớp mình thực hành đọc các bài bất kỳ trong chương trình đã học, đến cuối tháng 10/2020 lớp tôi có kết quả như sau: 8
  9. Đọc chưa Đọc lưu loát Đọc đúng Đọc chậm TSHS được 32 14 43,8% 12 37,5% 6 18,7% 0 0% Đến thời điểm này, tôi thấy kĩ năng đọc và trả lời các câu hỏi tìm hiểu nội dung tranh tốt, học sinh rất hứng thú học tập. Bằng sự nhiệt tình trong công việc và nghiên cứu kĩ yêu cầu cần đạt của môn học, tôi đã vận dụng sáng tạo những phương pháp đã học để hướng dẫn kèm cặp từng đối tượng học sinh lớp mình nhằm giúp các em không chỉ đọc tốt, đọc không sai lỗi mà còn viết đúng chính tả và biết trả lời các câu hỏi tìm hiểu nội dung tranh, nội dung bài học. PHẦN IV. KẾT LUẬN 1. Ý nghĩa của biện pháp Qua quá trình nghiên cứu thực nghiệm rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1, tôi thấy rằng kĩ năng đọc có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học môn Tiếng Việt. Đọc giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc là một công cụ để học tốt các môn học khác. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập tốt, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tự chiếm lĩnh kiến thức mới trong quá trình học tập. Chính vì vậy, để rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 đạt hiệu quả cao, giáo viên cần linh hoạt đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm hình thành và phát triển về năng lực đọc cho học sinh, từ kĩ năng đọc đúng âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn và cả bài, nâng cao dần kĩ năng đọc hiểu văn bản. Từ đó giúp các em đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt. 2. Kiến nghị với nhà trường. - Khuyến khích giáo viên trao đổi kế hoạch bài học, cùng thống nhất cách dạy các giáo viên trong khối để thực hiện có hiệu quả cao. 9
  10. - Thường xuyên cho giáo viên đi dự giờ để học hỏi, trao đổi cách dạy hay của các trường bạn trong huyện. Trên đây là một số biện pháp mà bản thân tôi đã thực hiện để rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1 qua phân môn Tiếng Việt. Trong điều kiện còn hạn chế, các biện pháp này chỉ đề cập đối tượng học sinh Tiểu học thuộc lớp 1A3 ở trường Tiểu học Thị trấn Cam Lộ. Tôi rất mong được sự giúp đỡ góp ý của các cấp quản lý, các anh chị em đồng nghiệp để bản thân tôi có những biện pháp phù hợp hơn trong giảng dạy cho học sinh trong những năm học tiếp theo. Tôi xin chân thành cảm ơn! Xác nhận của nhà trường Cam Lộ, ngày 31 tháng 10 năm 2020 Tôi xin cam đoan đây là các biện pháp rèn đọc đúng cho học sinh lớp 1 của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người viết Nguyễn Thị Mai Lộc 10
  11. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CAM LỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CAM LỘ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG RÈN ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 1 Họ và tên: Nguyễn Thị Mai Lộc Giáo viên: Giảng dạy và chủ nhiệm lớp 1A3 Đơn vị công tác: Trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ NĂM HỌC: 2020 - 2021 11