SKKN Một số biện pháp giúp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Mai Lộc
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Mai Lộc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_giao_duc_ki_nang_song_cho_hoc_sin.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Mai Lộc
- MỤC LỤC Thứ tự Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài II. NỘI DUNG 1 Thực trạng của vấn đề 2 Qúa trình thực hiện 3 Tính mới của giải pháp 4 Tính thực tiễn của giải pháp 5 Tính hiệu quả của giải pháp III. KẾT LUẬN 1 Ý nghĩa của biện pháp 2 Các đề xuất và kiến nghị
- MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 1 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chuyển sang hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực cần thiết ở người học, trong đó các kĩ năng sống là một thành phần quan trọng để đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước. Học sinh không chỉ cần có kiến thức mà còn phải biết làm, biết hành động phù hợp trong những tình huống, hoàn cảnh của cuộc sống là: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống. Để trang bị cho học sinh những kiến thức, thái độ và kĩ năng phù hợp thì ngay từ khi mới nhận lớp phải hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày, tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Lứa tuổi học sinh lớp là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động .Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống tốt, các em dễ bị lôi kéo vào những hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, chính là do các em thiếu kĩ năng sống cần thiết như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp Vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh. Để đáp ứng được mọi vấn đề về nêu trên thì ngay từ khi các em bước chân vào trường Tiểu học chúng ta cần giáo dục ngay những kĩ năng này, ông cha ta đã đúc kết kinh nghiệm như sau: Uốn cây từ thuở còn non Dạy con từ thuở con còn thơ ngây Vâng kinh nghiệm này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, việc dạy dỗ uốn nắn hình thành thói quen tốt cho một con người thì phải thường xuyên và liên tục, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.
- 2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Kĩ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn được bổ sung, nâng cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống hiện tại. Ở học sinh lớp 1, để giúp các em có tinh thần tự học, sáng tạo và biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào thực tiễn. Trong quá trình dạy học người giáo viên phải luôn tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp hay để giúp học sinh học tập tốt hơn. Ở lứa tuổi học sinh lớp 1, các em đang hình thành và phát triển nhân cách, những thói quen chưa có tính ổn định mà đang được hình thành và củng cố, do đó việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 là việc làm cần thiết, chính những kết quả này sẽ là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh phát triển nhân cách sau này. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 là nội dung được đông đảo phụ huynh và xã hội quan tâm, bởi đây là một vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, mà tính tất yếu phải có giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của lớp tôi phụ trách nói riêng và học sinh cả trường nói chung là rất cần thiết. Đó chính là lí do tôi chọn để viết sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1” với mong muốn tìm ra những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giảng dạy.
- B. NỘI DUNG I. TÌNH HÌNH THỰC TRẠNG Năm học 2021 - 2022, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 1A1 gồm 34 học sinh/13 nữ. Học sinh trong lớp tôi phần lớn là ngoan và chăm học. Thế nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh tiếp thu bài còn chậm, nhiều em có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo (em Việt Hoàng, Quỳnh Chi) nên các em thiếu sự quan tâm sâu sát của bố mẹ. Những em học sinh học yếu có tâm lí chán học, thường xuyên không chuẩn bị bài trước khi đến lớp (em Phi Hoàng, Bảo Hưng, Quỳnh Chi). Một số em có tính hiếu động thường không tập trung trong giờ học, hay nói chuyện riêng (em Thiên Phúc, Phi Hoàng, Thiện Nhân, Đức Anh, Anh Duy) Từ thực tế trên, tôi xác định có những thuận lợi và khó khăn trong công tác chủ nhiệm và giảng dạy lớp của mình ở năm học này như sau: 1. Thuận lợi: 1.1. Về giáo viên: Bản thân tôi nhiệt tình, tâm huyết, có ý thức trong việc tìm tòi các giải pháp để giảng dạy đạt hiệu quả cao và có sự tích lũy kinh nghiệm qua nhiều năm trực tiếp dạy lớp 1. Ban giám hiệu nhà trường, Hội cha mẹ học sinh và Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc dạy và học của từng giáo viên và học sinh, tạo điều kiện giúp đỡ hỗ trợ nhiệt tình về mọi mặt. Được tập huấn chương trình giáo dục phổ thông 2018 và sách giáo khoa lớp 1 đầy đủ, bản thân tôi đã nắm được yêu cầu cần đạt của chương trình từng môn học lớp 1 mới. Thường xuyên truy cập Hành trang số để khai thác triệt để nguồn học liệu phục vụ cho việc dạy học đạt hiệu quả cao. 1.2. Về học sinh: Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập. Đa số các em đều ngoan, lễ phép và biết vâng lời thầy cô giáo. Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em mình. Hầu hết các em đều biết các chữ cái khi vào lớp 1. 2. Khó khăn: 2.1. Về giáo viên: Bên cạnh những thuận lợi đó thì vẫn luôn tồn tại những khó khăn, vướng mắc đó là: Giáo viên thường tập trung lo lắng cho những em khả năng tập trung kém, không có khả năng tham gia hoạt động nhóm, không thể tập trung lĩnh hội những điều giáo viên dạy, vì vậy giáo viên phải tốn rất nhiều thời gian để giúp học sinh có được những kĩ năng sống cơ bản. Tình hình dịch Covid19 phức tạp nên hàng tuần điều chỉnh kế hoạch dạy học theo công văn 3969 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phù hợp với thực tế của lớp. Xây dựng kế hoạch dạy học trực tuyến theo công văn 3969 của Bộ giáo dục và đào tạo nhằm lựa chọn nội dung cốt lõi, tăng thời lượng đọc, viết, làm Toán, những nội dung không trọng tâm giáo viên phối hợp với phụ huynh để hướng dẫn cho con học ở nhà.
- 2.2. Về học sinh: Trình độ tiếp thu của học sinh không đồng đều, một số em tiếp thu bài còn chậm, thiếu tự tin trong học tập và khi tham gia các hoạt động, có hai em quá hiếu động, không tập trung vào giờ học. 2.3. Đối với phụ huynh: Một số phụ huynh chỉ quan tâm chú trọng đến việc dạy con mình biết đọc, biết viết, biết làm toán, học tiếng anh mà không cần quan tâm đến việc con học được những kĩ năng gì ở trường. Một số gia đình học sinh chiều chuộng, yêu thương con quá mức khiến trẻ không có khả năng tự phục vụ bản thân, để có những phản ánh đầy đủ về thái độ của học sinh, tôi thường theo dõi học sinh trong lớp qua ý thức học tập, đối xử với bạn bè – thầy cô giáo và mọi người xung quanh. II. CÁC GIẢI PHÁP ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 1. Quá trình thực hiện Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp là người trực tiếp giảng dạy phân môn Tiếng Việt, Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm nên đã xây dựng kế hoạch hoạt động để đạt hiệu quả cao. Tháng năm Nội dung thực hiện Tìm hiểu về tình hình học tập và hoàn cảnh HS đầu năm Khảo sát học sinh; Nghiến cứu và lựa chọn sáng kiến. Thu thập các minh chứng kiểm tra các kĩ năng của học Tháng 9/2021 sinh đầu năm. Đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện quá trình giảng dạy . Áp dụng các giải pháp vào công tác giảng dạy các môn Tháng 10/2021 học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực trên đến tháng 3/2022 lớp 1A1 và rút kinh nghiệm trong tổ, sau đó bổ sung hoàn chỉnh. Tháng 4/2022 đến Phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, thu thập kết quả, tháng 5/2022 rút kinh nghiệm và viết hoàn chỉnh sáng kiến. Sau khi nhận lớp tôi tiến hành ôn tập củng cố kiến thức mà các em đã học ở lớp mẫu giáo lớn để nắm được những kĩ năng ứng xử của các em, tôi đưa ra một số câu hỏi để tiến hành khảo sát: Muốn biết các em có cách ứng xử thế nào với các vấn đề diễn ra thực tế hàng ngày, tôi đưa ra một số tình huống có vấn đề yêu cầu các em đưa ra cách xử lí: - Khi đến lớp, thấy lớp bẩn, bàn ghế xếp lộn xộn lúc đó em sẽ làm gì? - Trước khi đi học, em có tự chuẩn bị sách vở đồ dùng học tập được không? - Giờ ra chơi thấy một bạn trong lớp bị ngã thì em sẽ làm gì để giúp bạn? - Trong lớp có bạn hay lấy đồ dùng của bạn, cả lớp không ai biết, chỉ có mình em biết em sẽ làm gì để giúp bạn bỏ thói xấu ấy? - Em đã tự mặc áo quần chưa hay phải nhờ bố mẹ giúp đỡ? - Em tự giác học bài hay phải đợi bố mẹ nhắc nhở mới học? Kết quả khảo sát lớp 1A1 như sau:
- Mặc quần áo Học bài ở nhà Tự giác học bài Chưa tự giác TSHS Tự mình mặc áo Cần bố mẹ giúp không cần nhắc học, bố mẹ phải quần mặc quần áo nhở nhắc nhở nhiều SL % SL % SL % SL % 34 10 29,4 24 70,6 15 44,1 19 55,9 Chuẩn bị đồ dùng học tập, sách vở TSHS Tự mình chuẩn bị đồ dùng học tập Cần bố mẹ soạn giúp ĐDHT SL % SL % 34 18 52,9 16 47,1 Sau hai tuần học, tôi khảo sát về nội dung: Học sinh thực hành thảo luận nhóm trong một số tiết môn Đạo đức, Tiếng Việt, Toán. Thực hành thảo luận nhóm TSHS Chưa biết cách lắng nghe, hay Biết cách lắng nghe, hợp tác tách ra khỏi nhóm SL % SL % 34 16 47,1 18 52,9 Cuối tháng 9 năm 2021 tôi tiếp tục khảo sát với nội dung: Ứng xử với bạn khi chơi các trò chơi dân gian tập thể, qua môn học Hoạt động trải nghiệm, kết hợp với giáo viên Giáo dục thể chất, Tổng phụ trách Đội để đánh giá học sinh. Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể TSHS Biết cách ứng xử hài hòa, khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi hợp SL % SL % 34 20 58,8 14 41,2 Từ việc điều tra, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chưa thực hiện tốt hành vi kĩ năng sống của học sinh, theo tôi để khắc phục những hạn chế trên cần chú ý đến một số giải pháp sau. 2. Các giải pháp Kĩ năng sống không thể hình thành cho các em qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt giao tiếp, thảo luận với các bạn trong nhóm, các hoạt động học tập hoặc các hoạt động tập thể trong nhà trường để hình thành kĩ năng sống. Chính vì lẽ đó, tôi đã áp dụng một số giải pháp sau: Giải pháp 1: Nhận thức tầm quan trọng dạy học sinh vè kĩ năng sống Kĩ năng sống là hoạt động được tổ chức theo mục tiêu, nội dung, chương trình dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thông qua các loại hình hoạt động, các mối quan hệ nhiều mặt, nhằm giúp người học chuyển hóa một cách tự giác, tích cực tri thức thành niềm tin, kiến thức thành hành động, tạo cơ hội cho học sinh trải
- nghiệm tri thức, thái độ, quan điểm và hành vi ứng xử của mình trong môi trường an toàn, thân thiện có định hướng giáo dục. Qua đây giúp học sinh sống một cách an toàn, khỏe mạnh, có khả năng thích ứng với biến đổi của cuộc sống hàng ngày. Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội, hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương đất nước, có thái độ đúng đắn với các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Với lứa tuổi của học sinh lớp 1, những kĩ năng quan trọng nhất trẻ phải học như: sự hợp tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò khả năng thấu hiểu và giao tiếp. - Muốn giáo dục học sinh được tốt, thì việc đầu tiên là tìm hiểu rõ về học sinh, đặc biệt là những học sinh cá biệt. + Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinh nhưng không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng các hình thức trách phạt, giáo viên cần gần gũi, tâm sự, chia sẻ với các em trong vai trò là một người bạn lớn và thường xuyên nhắc nhở động viên, khen ngợi kịp thời, gắn trách nhiệm cho các em bằng cách giao cho các em một chức vụ trong lớp để từng bước điều chỉnh mình. - Giáo viên cần lập kế hoạch giúp đỡ những em này bằng những việc cụ thể sau: +Tranh thủ thời gian trên lớp để giáo dục các em từ việc nhỏ nhất như là kĩ năng chào hỏi, xin phép, dạ, thưa. + Phải yêu thương, tôn trọng và đối xử công bằng với các em. Tránh có thái độ miệt thị, phân biệt đối xử làm cho các em mất tự tin, xấu hổ trước bạn bè. + Dù đối tượng nào, giáo viên phải hiểu tâm lí lứa tuổi, chủ yếu sử dụng phương pháp tác động tình cảm, động viên khích lệ kịp thời, khen chê đúng lúc và phối hợp với phụ huynh và các tổ chức giáo dục khác để giáo dục các em và xác định giáo dục đạo đức là then chốt. Giải pháp 2: Tìm hiểu hoàn cảnh học sinh + Đây là việc rất quan trọng để giáo viên bắt đầu công tác giáo dục học sinh. Muốn học sinh làm được, học được thì giáo viên phải tìm hiểu kĩ hoàn cảnh của từng học sinh, từ đó có những phương pháp giáo dục cho phù hợp. + Thăm gia đình học sinh, gặp gỡ cha mẹ các em để trao đổi về tình hình học tập cũng như sự tiến bộ của các em và chia sẻ kinh nghiệm hướng dẫn, quản lí các em học ở nhà để phụ huynh giúp đỡ thêm. + Với những học sinh nghèo không thể mua nổi sách, vở để đi học, từ đầu năm học, tôi đã báo với nhà trường mượn bộ sách giáo khoa, liên hệ với Ban đại diện cha mẹ học sinh để giúp đỡ cho các em có được vở khi đi học. Ví dụ: Lớp Tôi có em Nguyễn Anh Duy học tiếp thu bài chậm, còn rụt rè trong mọi hoạt động.
- + Tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó học tiếp thu chậm và chậm ở môn nào, về nhà có được bố mẹ quan tâm, đôn đốc đến việc học không, hay là để cho các em thoải mái vui chơi, xem ti vi, chơi game, giao hẳn việc hoặc tập cho giáo viên và nhà trường. Do dó em Duy chưa tập trung vào việc học. Ví dụ: Trường hợp của em Thiên Phúc lớp tôi từ nhỏ đã chậm nói, sống tại Đồng Nai, do dịch Covid-19 nên em chuyển về quê sinh sống, biết nói chậm, em rất hiếu động, bố làm việc xa, mẹ bị bệnh ốm đau thường xuyên nên việc học của con giao phó cho giáo viên. Ví dụ: Trong lớp có em Bảo Hưng em học tiếp thu bài chậm, ngồi trong lớp không tập trung, nói chưa rõ tiếng. Tôi tìm hiểu thì biết hoàn cảnh gia đình của em khá đặc biệt, gia đình có 7 người gồm ông, bà, bố, mẹ, hai anh trai và em, bố không có việc làm, cả nhà chỉ nhờ vào tiền mẹ bán rau ở chợ, một mình mẹ lo hết công việc trong gia đình nên không có thời gian quan tâm đến việc học của con. Em Hưng học không nhớ và phát âm rất khó khăn (chậm nói), đọc trước quên sau nhưng lại ham chơi, không tập trung. Vì trong lớp có những em như vậy nên tôi đã lập kế hoạch giúp đỡ bằng những việc làm cụ thể sau: + Tranh thủ thời gian giảng lại bài mà các em chưa hiểu vào những thời gian ngoài giờ lên lớp, 15 phút đầu giờ, giờ ra chơi và ngay khi cả lớp đang làm bài tập. + Khi hỏi bài các em này, cần đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó và những câu gợi mở để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú học tập và cũng cố niềm tin ở các em, hằng ngày lên lớp, tôi thường xuyên kiểm tra bài và động viên để giúp em chăm chỉ học tập hơn. + Với em Thiên Phúc do ngôn ngữ vùng miền khác nhau nên em ngại giao tiếp, hằng ngày tôi luôn gần gũi, trò chuyện rồi hướng dẫn em chậm rãi để em hiểu bài, dần dần em mạnh dạn và hòa đồng cùng bạn bè. + Cần phát huy việc chia sẻ trong nhóm để tạo cơ hội cho các em thể hiện mình và học hỏi ở bạn. Tôi thường xuyên lập đôi bạn cùng tiến để học sinh học tốt giúp đỡ học sinh tiếp thu bài chậm, xếp chỗ ngồi hợp lí, từ đó rèn cho các em tính mạnh dạn, tự tin trình bày ý kiến trước tập thể. Giải pháp 3: Giáo dục kĩ năng sống qua các môn học Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được thực hiện liên tục, xuyên suốt trong quá trình học tập và rèn luyện ở tất cả các môn học, Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả vào các môn học, tiết học, nhất là các môn như: Tiếng Việt; Đạo đức; Tự nhiên và Xã hội; Hoạt động trải nghiệm để những giờ học sao cho các em được làm để học, được trải nghiệm như trong cuộc sống hằng ngày. Khả năng giáo dục kĩ năng sống của môn Đạo đức không những thể hiện ở nội dung môn học mà còn được thể hiện ở các phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn. Để các chuẩn mực đạo đức xã hội trở thành tình cảm, thái độ, niềm tin, hành vi và thói quen của học sinh, phương pháp dạy học đã được đổi mới theo
- hướng phát huy tính tích cực, chủ động tìm tòi sáng tạo của học sinh, tăng cường việc liên hệ thực tế, trải nghiệm, rèn luyện, thực hành. So với chương trình hiện hành, ngoài các môn học ra thì chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1 có thêm một hoạt động chính khóa đó là Hoạt động trải nghiệm. Các em đến trường không chỉ được tiếp thu kiến thức, được vui chơi mà còn được tham gia các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo nhằm hình thành các kĩ năng sống cần thiết. Việc học thông qua thực hành và học từ trải nghiệm đều giúp học sinh đạt được tri thức và kinh nghiệm theo các hướng tiếp cận đa chiều, trong đó trải nghiệm có ý nghĩa giáo dục cao nhất. Qua đó, học sinh được thực hiện các hoạt động học tập, phong phú, đa dạng như: Kể chuyện theo tranh, quan sát tranh, băng hình và tiểu phảm, phân tích trường hợp điển hình, xử lí tình huống, tự liên hệ bản thân, chơi trò chơi học tập, đóng vai, xây dựng và thực hiện những dự án nhỏ, múa hát, đọc thơ, vẽ tranh, vì vậy trong quá trình dạy học, tôi luôn chú ý đến việc lồng ghép giáo dục các em kĩ năng sống nhằm bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em. Ví dụ: Sau khi học bài: Cùng vui ở trường Giáo viên cho học sinh xem một đoạn video quay về cảnh ngôi trường có các anh chị đang làm vệ sinh trường lớp, sau khi học sinh xem video xong, giáo viên đặt ra một số câu hỏi để học sinh suy nghĩ trả lời, lớp lắng nghe, nhận xét, bổ sung hoàn chỉnh. + Vì sao rác lại có ở trrong lớp học, có ở sân trường? + Hằng ngày, chúng ta có xả rác ở lớp, sân trường không? + Chúng ta phải làm gì để bảo vệ ngôi trường sạch đẹp? + Bảo vệ ngôi trường là việc của ai? + Em phải làm gì để bảo vệ môi trường xung quanh trường học? + Nói về những việc em đã làm được để giữ trường, lớp sạch sẽ. Trong quá trình học sinh trả lời các câu hỏi, tôi tổ chức cho các em nhận xét, bổ sung và phát triển sự sáng tạo của mỗi cá nhân, việc làm này giúp học sinh hình thành và rèn luyện khả năng diễn đạt, thói quen giải quyết tình huống. Các phương pháp và kĩ thuật dạy học rất đa dạng, bao gồm nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: học theo nhóm và dự án, giải quyết vấn đề, đóng vai, trò chơi, động não, hỏi chuyên gia, khăn trải bàn, phòng tranh. Trong các giờ dạy, giáo viên linh động kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp để phát huy sự sáng tạo của học sinh. Thông qua việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, học sinh được tạo cơ hội để thực hành, trải nghiệm, rèn luyện nhiều kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi như; kĩ năng hợp tác, kĩ năng đảm nhận trách nhiệm, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng giao tiếp, ứng xử với người khác, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, chia sẻ, kĩ năng trình bày ý tưởng, kĩ năng thể hiện sự tự tin.
- Ví dụ: Khi học bài 16: Học tập, sinh hoạt đúng giờ môn Đạo đức thì rèn được kĩ năng cụ thể sau: Kĩ năng lập kế hoạch: Hướng dẫn học sinh sắp xếp thời gian biểu học tập, sinh hoạt đúng giờ, giải quyết vấn đề thực hiện học tập, tư duy phê phán, đánh giá hành vi sinh hoạt học tập đúng giờ, chưa đúng giờ để từ đó, các em biết sắp xếp thời gian học tập hợp lí và đạt hiệu quả cao. Ví dụ: Khi học bài 23: Biết nhận lỗi đã rèn được cho các em kĩ năng giao tiếp và ứng xử, biết nhận lỗi khi mắc lỗi và biết nói lời xin lỗi với bạn bè, người thân và từ đó các em không còn mắc những lỗi tương tự nữa. Ví dụ: Khi học bài 7: Kính yêu thầy cô môn Hoạt động trải nghiệm Sau bài học, giáo dục cho các em kĩ năng kể chuyện, sắm vai, lắng nghe, tự tin, hợp tác và giải quyết vấn đề, qua bài học giáo dục được cho các em tỏ lòng biết ơn và kính yêu thầy cô giáo bằng những việc làm cụ thể như: đi học đúng giờ, chăm chỉ học tập, tập trung nghe giảng, không nói chuyện, không làm việc riêng, tích cực tham gia các hoạt động, tích cực phát biểu ý kiến. Ví dụ: Học bài 37: Luyện tập chung, môn Toán Đê các em thực hành được tốt, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh ở bài tập 2 trang 84 sách Toán tập 2 để biết được các hoạt động của Việt trong ngày chủ nhật. Sau khi quan sát, các em biết được mỗi hoạt động của Việt ứng với một thời gian biểu và biết được những việc làm vào các thời gian như vậy là không nên như: ngủ dậy lúc 10 giờ, đá bóng lúc 2 giờ chiều, ăn cơm tối lúc 9 giờ tối, chơi game lúc 11 giờ đêm. Từ những việc làm của bạn Việt, các em rút ra cho mình thời gian thích hợp cho mỗi hoạt động là: ngủ dậy lúc 6 giờ sáng, đá bóng lúc 5 giờ chiều, ăn cơm lúc 7 giờ tối và đến 9 giờ tối đi ngủ, không nên chơi game, ăn ngủ đúng thời gian sẽ tốt cho sức khỏe. Ví dụ: Học bài: Rửa tay trước khi ăn, môn Tiếng Việt tập 2 trang 64 Sau bài học các em biết quý trọng bản thân và có ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể, có thêm hiểu biết về một số bệnh trẻ em hay mắc do vi trùng gây nên. Giáo viên rèn cho các em kĩ năng cơ bản là phải biết rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và rửa tay bằng xà phòng với nước sạch, nhắc nhở các em thực hiện rửa tay khi làm vệ sinh, trực nhật xong, giữ cho đôi bàn tay luôn sạch sẽ. Ngoài ra giáo viên cần dạy cho học sinh nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy các em kĩ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, không nên ăn quà vặt, chỉ ăn uống tại bàn ăn biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, biết mời mọi người trước khi ăn, biết tự phục vụ trước và sau khi ăn, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh. Kĩ năng tư duy sáng tạo, làm việc đồng đội sẽ được lồng ghép ở tất cả các bài học, từ đó giúp các em biết sống và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với
- bản thân và mọi người xung quanh để trở thành con ngoan trong gia đình, học sinh tích cực của nhà trường và công dân tốt của xã hội. Giải pháp 4: Những kĩ năng cơ bản mà giáo viên cần dạy học sinh + Kĩ năng thể hiện sự tự tin: Đây là kĩ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của học sinh. Tự tin là có niềm tin vào bản thân, tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy mình có nghị lực để hoàn thành tốt các nhiệm vụ. Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình; quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống. Tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm. Học sinh lớp 1 cần được giáo dục kĩ năng này để các em có thể tự tin vào khả năng của bản thân; mạnh dạn bày tỏ nhu cầu, mong muốn mình thích; mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến của bản thân trong nhóm, trước lớp; xung phong nhận những nhiệm vụ phù hợp với khả năng của bản thân; chủ động, mạnh dạn trong giới thiệu, làm quen, trò chuyện với bạn bè. Ví dụ: Sau khi dạy bài “Gọn gàng, ngăn nắp”. Ở lớp học có rất nhiều đồ dùng trong tủ. Giáo viên yêu cầu học sinh nào có khả năng tự sắp xếp lại tủ đồ dùng học tập của lớp cho gọn gàng, ngăn nắp theo chủ đề của từng góc tủ. Khi đó sẽ có một số em học sinh nhút nhát, thụ động, không tự tin vào khả năng của mình để làm, giáo viên có thể dùng một số câu gợi ý để các em có thể mạnh dạn để sắp xếp, như là: các em cứ làm đi, cô sẽ hướng dẫn thêm; hoặc sẽ có bạn khác hỗ trợ thêm nếu em làm chưa được; giáo viên luôn khích lệ bằng cách cho các nhóm vỗ tay, hoặc cổ vũ tinh thần bằng cách “ cố lên”; “gần đúng rồi”; “bạn rất giỏi”..... Từ đó tạo thêm niềm tin vào bản thân để giúp những em này mạnh dạn hơn khi giải quyết vấn đề. Tôn trọng mục tiêu hoạt động của nhóm, tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết. Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác, biết lắng nghe quan điểm của mọi người trong nhóm. Học sinh lớp 1 cần rèn luyện kĩ năng hợp tác với bạn bè trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập hoặc các nhiệm vụ chung khác của nhóm, của lớp. Đồng thời các em cũng cần rèn luyện kĩ năng hợp tác với ông bà, cha mẹ, anh chị em khi cùng nhau giải quyết những công việc chung của gia đình. Hiện nay, dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 là phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, nên kĩ năng hợp tác được vận dụng trong tất cả các môn học. Đây cũng là ưu điểm rất lớn để học sinh chúng ta được trao đổi, hợp tác, chia sẻ cùng các bạn trong nhóm, các bạn trong lớp. Hình thành thói quen tốt cho học sinh giúp các em khi lớn lên sẽ có kĩ năng hợp tác tốt, đó là một yêu
- cầu quan trọng đối với người công dân trong một xã hội hiện đại: Mỗi người đều có một điểm mạnh và hạn chế riêng; sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ bổ sung cho nhau tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất vượt qua mọi khó khăn trong công việc cũng như trong cuộc sống. Ví dụ: Trong bài “Học tập, sinh hoạt đúng giờ” Giáo viên tổ chức trò chơi “ai nhanh? ai đúng?”. Yêu cầu phân loại ích lợi và tác hại của học tập sinh hoạt đúng giờ. Giáo viên chia lớp thành hai đội lựa chọn các câu ghi trên băng giấy và xếp vào cột phù hợp, trong thời gian 2 phút . Đội nào gắn nhanh, gắn đúng sẽ là đội thắng cuộc. Nội dung gợi ý trên băng giấy (1 câu/ 1 băng giấy) như sau: - Tiếp thu bài trên lớp tốt hơn. - Không bị mệt mỏi. - Đảm bảo đủ thời gian tự học. - Tinh thần sảng khoái. - Cở thể khỏe mạnh. - Kết quả học tập tiến bộ. - Đầu óc căng thẳng, mệt mỏi. - Không đủ thời gian ôn bài. - Ảnh hưởng đến công việc chung. - Tiết kiệm được thời gian. - Có hại cho sức khỏe. Sau khi hết thời gian làm bài giáo viên cùng học sinh kiểm tra lại kết quả của 2 đội và chốt lại cách sắp xếp đúng như sau: Lợi ích của học tập, sinh hoạt Tác hại của học tập, sinh hoạt đúng giờ không đúng giờ. Tiếp thu bài trên lớp tốt hơn Đầu óc căng thẳng, miệt mỏi Đảm bảo đủ thời gian tự học Không đủ thời gian ôn bài Kết quả học tập tiến bộ Ảnh hưởng đến công việc chung Không bị mệt mỏi Có hại cho sức khỏe. Đầu óc sảng khoái Cơ thể khỏe mạnh Tiết kiệm được thời gian
- Giáo viên sẽ yêu cầu cả lớp tuyên dương đội thắng cuộc. Để hoàn thành được yêu cầu mà đề bài đưa ra, các bạn trong đội phải có tính đoàn kết, tích cực hợp tác thì mới hoàn thành được bài làm. + Kĩ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kĩ năng quan trọng nhất cần có ở các em vào giai đoạn này nên giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng, phương pháp khác nhau để khơi gợi tính tò mò tự nhiên của các em. + Kĩ năng giao tiếp: là khả năng có thể trình bày, diễn đạt suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn, cảm xúc của bản thân dưới hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Ví dụ: Khi dạy bài “Lịch sự khi đến nhà người khác” Hoạt động 4. Đóng vai thể hiện cách ứng xử trong tình huống. Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm giao cho mỗi nhóm đóng vai một trong các tình huống. Tình huống 1. Em sang nhà bạn chơi và thấy bạn có một bộ đồ chơi điện tử mà em rất thích. Tình huống 2. Em sang nhà bạn chơi mới biết bà của bạn đang ốm mệt. Tình huống 3. Em sang nhà bạn chơi thấy nhà bạn đang có khách. Tình huống 4. Em đang chơi với bạn thì đến giờ nhà bạn ăn cơm. Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận, đóng vai và nhận xét sau mỗi tình huống đóng vai. Theo gợi ý. - Vì sao em lại ứng xử như vậy trong tình huống đó? - Em có nhận xét gì về cách ứng xử của bạn trong tình huống đó? - Bạn nào có nhận xét, bổ sung cho bạn không? - Cả lớp cùng tuyên dương nhóm thực hiện đóng vai và xử lí tình huống đúng Sau đó giáo viên chốt lại cách ứng xử cần thiết trong mỗi tình huống như sau: Tình huống 1: Em cần hỏi mượn, nếu chủ nhà đồng ý mới được lấy ra chơi và phải giữ gìn cẩn thận, chơi xong phải cất gọn gàng. Tình huống 2: Em cần giữ trật tự để bà nghỉ ngơi hoặc đi về chờ lúc khác sang chơi. Tình huống 3: Nếu bạn có phòng riêng, em có thể vào chơi cùng bạn nhưng không đùa nghịch làm ồn ào. Hoặc em nên về để lúc khác sang chơi. Tình huống 4: Đến giờ nhà bạn ăn cơm, em nên xin phép đi về, lúc khác sang chơi. Qua đây giáo viên rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp, ứng xử lịch sự khi đến nhà người khác; kĩ năng thể hiện sự tự trọng khi đến chơi nhà bạn. Giáo viên phải định hướng cho học sinh có những hành vi đúng trong học tập, sinh hoạt cũng như trong cuộc sống hằng ngày. Cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực của học sinh, cần phải biết khai thác phát huy năng lực, tiềm năng sáng tạo của mỗi học sinh.
- Giúp các em phát triển đều các các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mĩ. Phát huy tính tích cực, giúp các em hứng thú, chủ động khám phá tìm tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kĩ năng mới.... các nội dung chuyển tải đến cho các em một cách nhẹ nhàng, sinh động thông qua các hoạt động, hình thức học tập phong phú và đa dạng như: sắm vai đóng tiểu phẩm, theo nhóm, cá nhân, ứng xử, xử lí tình huống, trinh bày ý kiến, quan điểm. Ví dụ: Sau khi học bài “Khi mẹ vắng nhà” môn Tiếng Việt lớp 1, tập 2, Giáo viên phát phiếu học tập yêu cầu học sinh làm việc theo nội dung sau: PHIẾU HỌC TẬP 1. Dê mẹ dặn dê con được mở cửa khi nào? (Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời của em). a. Khi nghe tiếng gõ cửa. b. Chỉ mở cửa khi nghe tiếng gọi của mẹ c. Khi nghe tiếng của sói d. Ai gọi đều mở cửa, mời khách vào nhà. 2. Câu chuyện “Chú bé chăn cừu” khuyên em cần có đức tính gì? .................................................................................................................................... ........................................................................................................................... Giáo viên phát phiếu học tập cho học sinh, yêu cầu các em làm trong khoảng thời gian 2 phút sau đó thu bài để chấm điểm. Qua hoạt động này giáo viên kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực như: động não, trình bày một phút, trải nghiệm, thảo luận nhóm, chia sẻ thông tin, trình bày ý kiến cá nhân, phản hồi tích cực. Tôi luôn kết hợp hài hòa giữa việc trang bị tri thức với bồi dưỡng tình cảm, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh như là tự nhận thức về bản thân (hiểu về mình, biết tự đánh giá ưu, khuyết điểm của mình để tự điều chỉnh). Lắng nghe tích cực. Ví dụ: Trong tiết Tiếng Việt kể lại câu chuyện “Kiến và chim bồ câu”, Giáo viên đưa ra các hình thức kể như: Kể từng đoạn câu chuyện theo tranh; Kể chuyện bằng dựng hoạt cảnh; Kể chuyện theo hiểu ý nghĩa câu chuyện. Khi các em kể chuyện trước lớp, tôi luôn yêu cầu các bạn nhận xét về sự sáng tạo (trong nội dung, trong cách thể hiện của cử chỉ, điệu bộ, giọng kể....). Từ đó giúp các em thấy được sự phê phán hóm hỉnh, hài hước, yếu tố gây cười .... Thể hiện nội dung câu chuyện với giọng kể, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp, nâng tính kịch tính câu chuyện lên cao. Việc lồng ghép giáo dục các kĩ năng sống trong phân môn Tự nhiên và xã hội, sẽ góp phần không chỉ khắc sâu thêm các kiến thức của môn học mà còn hình thành thái độ và hành vi tích cực, phù hợp, cần thiết giúp học sinh có thể ứng xử có hiệu quả các tình huống thực tế trong cuộc sống.
- Ví dụ 4: Sau khi học xong chủ đề về “Con người và sức khỏe” trong phân môn Tự nhiên và xã hội, chủ đề đều xoay quanh mối quan hệ giữa con người và sức khỏe. Tôi cho các em trao đổi, chia sẻ các vấn đề như sau: Vì sao chúng ta vận động được? Chúng ta phải làm gì để xương và cơ phát triển tốt? Thức ăn được tiêu hóa như thế nào? Ăn, uống thế nào để cơ thể khỏe mạnh? Vì sao chúng ta phải ăn uống sạch sẽ? Bằng việc đưa ra các câu hỏi, yêu cầu học sinh suy nghĩ đưa ra kĩ năng ra quyết định: nên hay không nên; Kĩ năng nhận thức ra vấn đề, trách nhiệm, suy nghĩ, ý tưởng, tự phục vụ, tự bảo vệ bản thân, quản lí thời gian một cách khoa học. Tôi luôn sử dụng kết hợp các đồ dùng trực quan : tranh ảnh, mô hình, video..... để thu hút, tạo sự hấp dẫn và hứng thú học tập cho các em. Giải pháp 5: Làm tốt công tác chủ nhiệm và phối hợp với phụ huynh học sinh Sau khi nhận lớp, giáo viên phải tiến hành xếp chỗ ngồi cho học sinh, phải xem trước hồ sơ của từng học sinh, khi sắp chỗ ngồi nên chia đều những học sinh tiếp thu bài nhanh ngồi xen lẫn với những học sinh tiếp thu bài chậm. Sau khi xếp chỗ ngồi xong giáo viên lập sơ đồ lớp và dán tại bàn giáo viên để giáo viên bộ môn tiện theo dõi. Cách sắp xếp chỗ ngồi như vậy các em học nhanh sẽ giúp giáo viên kèm cặp được những học sinh tiếp thu bài chậm. Giáo viên cần phát động các phong trào như: “Đôi bạn cùng tiến”, “Vòng tay bè bạn”, ... Tuyên dương và khen thưởng những em giúp bạn vượt lên trong học tập. Sau khi sắp xếp chỗ ngồi, giáo viên tiến hành cho học sinh học nội quy lớp để các em thực hiện đúng các quy định của lớp và thực hiện một cách nghiêm túc. Giáo viên phát cho mỗi em một thời gian biểu rõ ràng, giờ nào việc ấy (Nhắc các em dán vào góc học tập của mình). Giúp các em hình thành thói quen làm việc khoa học, cũng là cách giúp cha mẹ các em quản lí tốt các em ở nhà. Việc xây dựng một ban các sự của lớp vững vàng, có uy tín với các bạn, mạnh dạn nhiệt tình, có trách nhiệm với công việc được giao. Trong buổi sinh hoạt lớp đầu tiên, với tinh thần dân chủ các em tự giới thiệu đề cử, biểu quyết để bầu ban các sự của lớp, lớp trưởng, lớp phó học tập, lớp phó văn thể mĩ các tổ trưởng tổ phó. Sau đó giáo viên giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực và sở trường của từng em. Là học sinh lớp 1, các em mới bắt đầu làm quen với phương pháp học mới, nên đa số các em còn bỡ ngỡ lúng túng, giáo viên phải chỉ từng bước làm việc của từng em. Giáo viên giữ vai trò là người đóng vai các trưởng ban để làm vệc, cho các em tập theo, phải mất một thời gian khá dài thì tôi mới đào tạo được các em cách làm nhiệm vụ của mình. Để lớp học có phong trào học tập tốt thì ban cán sự phải thực hiện và điều hành tốt công việc của mình. Giáo viên luôn theo dõi kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động để các hoạt động hoàn thành như kế hoạch. Cho nên, sau một giai đoạn cần có tổng kết, đánh giá, phát huy ưu điểm, rút kinh nghiệm. Cần tuyên dương,
- khen thưởng tập thể hay cá nhân tốt, động viên khích lệ các cá nhân thiếu tích cực, thiếu cố gắng. Do lớp học có nhiều học sinh cho nên ngay từ đầu năm tôi đã đến thăm từng gia đình học sinh, để năm bắt đầy đủ thông tin. Trao đổi với phụ huynh về hướng phối hợp giáo dục kiến thức cũng như kĩ năng sống cho các em nhằm tạo sự hiểu biết, cảm thông giữa giáo viên và phụ huynh học sinh.Thống nhất với phụ huynh một số biện pháp giúp các em học tập cũng như vui chơi giải trí. Vì học sinh lớp 1 còn nhỏ nên các em còn ham chơi ít tập trung vào học, cho nên nhờ phụ huynh thường xuyên quan tâm nhắc nhở các em thực hiện nhiệm vụ học tập, tránh trường hợp chê bai, không nên tạo cho các em thói quen kiêu ngạo cũng không nên nói những lời không hay đối với học sinh. Không dọa nạt vì đó là một việc hoàn toàn có hại không giúp cho các hành vi của các em được tốt hơn. Không nên nhồi nhét lượng kiến thức quá mức so với khả năng tiếp nhận của học sinh. Nhờ phụ huynh thường xuyên quan tâm, nhắc nhở các em thực hiện nghiêm túc thời gian biểu; kiểm tra sách vở, vở bài tập, đồ dùng học tập trước khi đến lớp góp phần giúp các em học tốt hơn. Thông qua sổ liên lạc hàng tháng hoặc điện thoại trực tiếp cho phụ huynh để họ nắm bắt được tình hình học tập, các kĩ năng sống trên lớp đồng thời giáo viên cũng nắm bắt được những biểu hiện hành vi tích cực hoặc tiêu cực của các em từ phía phụ huynh để từ đó uốn nắn các em kịp thời. Qua mỗi kì họp phụ huynh học sinh, giáo viên cần báo cáo cho phụ huynh đầy đủ quá trình rèn luyện, phấn đấu của từng em cũng như điểm số kiểm tra cuối học kì, nhận xét xếp loại từng môn và so sánh với thời điểm trước đó. Cùng với việc sắp xếp chỗ ngồi hợp lí; tổ chức học tập, giáo viên đọc, quán triệt nội quy lớp, lớp tôi đã đi vào nề nếp, kỉ luật tốt. Đến bây giờ, chất lượng và kĩ năng sống lớp tôi đã thực hiện rất tốt, năm học này sẽ đạt được nhiều thành tích cao như em Lê Công Nhật Minh tham gia thi IOE lớp 3 cấp huyện, 3 em thi Trạng nguyên Toàn tài, 12 em thi Trạng nguyên Tiếng Việt, trong đó có em Lê Công Nhật Minh đạt giải 3 Trạng nguyên Tiếng Việt cấp tỉnh. Tham gia thi gấp chăn màn với chủ điểm “Hành quân theo bước chân những người anh hùng” đạt giải nhì; Hội thi làm bánh truyền thống với chủ đề “ Mừng Non sông thống nhất” đạt giải nhất, tham gia thi nhảy bao bố với chủ đề “ Thiếu nhi vui khỏe- Tiến bước lên Đoàn” đạt 1 giải nhất, 1 giải nhì, tham gia cuộc thi “Tuần lễ học tập suốt đời” đạt giải nhì; tham gia cuộc thi vẽ tranh “Tri ân thầy cô giáo” đạt giải ba; phong trào “Nuôi heo đất” lớp đã tham gia cả hai đợt được 1750.000 đồng, phong trào thu gom giấy vụn vượt chỉ tiêu, cuối năm đạt lớp Tiên tiến xuất sắc. Giải pháp 6: Tạo bầu không khí học tập tích cực Trong giờ học cũng như các tiết sinh hoạt tập thể , tôi luôn tạo ra không khí phấn khởi, dân chủ nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của các em trong bài học cũng như tính cách của các em nhất là những em yếu kém, nhút nhát hay mặc cảm thông qua các trò chơi.
- Ví dụ: Dạy bài “ Con vật quanh em”. Tôi chuyển yêu cầu ở hoạt động 1 thành trò chơi xếp tranh với việc làm có ích của con vật. Trò chơi có tên là tìm lợi ích của con vật đối với con người. Dán chữ đúng với tranh con vật có ích. Chuẩn bị tranh và chữ, Tranh con vật gồm: con bò, con ngựa, con voi, con chó, con cá heo, con mèo, con ong. Chữ ghi ích lợi: kéo gỗ, kéo xe, cho sữa, bắt chuột, cho mật ong, cứu người chết đuối, giữ nhà. Lớp chia thành hai đội. Thời gian chơi là 5 phút. Đội nào dán đúng dán nhanh sẽ thắng. Sau đó giáo viên đưa bảng phụ, tranh con vật, chữ ghi ích lợi con vật cho hai nhóm. Khi học sinh đã sẵn sàng giáo viên hô bắt đầu, học sinh sẽ nhanh chóng tập trung vào để hoàn thành trò chơi. Các em rất hăng say, thích thú để dán tranh. Kết quả đúng giáo viên tuyên dương và yêu cầu học sinh đọc lại lợi ích của từng con vật. Qua đây chúng ta thấy con vật mang lại những lợi ích gì cho con người? các em sẽ làm gì để bảo vệ chúng?. Ví dụ 2. Khi dạy bài “ Tự giác làm việc nhà” ở hoạt động 3 tôi biến hoạt động này thành trò chơi bông hoa bí ẩn. Đố bạn nêu cách làm các công việc này? Hình thức là dùng những bông hoa, phía sau bông hoa ghi tên các công việc ở nhà như là phơi đồ, tưới hoa, cho gà ăn, nhặt rau, rửa ly, lau bàn ghế, quét nhà. Ai bốc được câu nào trả lời đúng sẽ được cả lớp thưởng một tràng pháo tay. Phơi đồ phải dùng móc để phơi hoặc phơi lên dây. Sau khi được chơi học sinh rất tự tin chia sẻ trước lớp học. Học sinh rèn được kĩ năng diễn đạt, chia sẻ, nói lên suy nghĩ của mình. Lớp học trở lên sôi nổi, tích cực. Tính mới của giải pháp Các giải pháp trên lần đầu tiên áp dụng với học sinh lớp 1A1, trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ, từ việc áp dụng các giải pháp mới đã đem lại kết quả cho học sinh về kĩ năng sống rất cao, các em mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, thích thảo luận nhóm, đa số các em giải quyết được các tình huống đưa ra. Điều đó khẳng định các giải pháp tôi áp dụng hoàn toàn phù hợp với học sinh lớp 1A1 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung. Tính thực tiễn của sáng kiến Dạy học các môn theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh lồng ghép giáo dục kĩ năng sống là khó đối với lớp 1, vì học sinh còn nhỏ. Song tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp để học sinh có kĩ năng sống tốt hơn ngay từ nhỏ. Để làm được điều này yêu cầu giáo viên phải tập huấn đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với lứa tuổi. Đó là các phương pháp giảng giải, nêu gương, tác động, thuyết phục, khích lệ, ... Trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, học đi đôi với hành, lới nói đi đôi với việc làm của giáo viên và học sinh. Để giáo dục học sinh lĩnh hội được tốt các kiến thức lẫn kĩ năng sống thì việc phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội rất quan trọng. Để xây dựng được một sáng kiến kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có tính khả thi thì việc nghiên cứu thực tiễn là không thể thiếu. Khi xây dựng sáng kiến giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, tôi đã nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông 2018, sách giáo khoa lớp 1 mới, sách giáo viên và nhiều tài liệu tham khảo có liên quan đến việc nghiên cứu sáng kiến để nắm chắc yêu cầu cần đạt
- của chương trình và những phẩm chất, năng lực của các em. Thông qua sáng kiến nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ trong quá trình dạy học. + Rèn kĩ năng giao tiếp, ứng xử, kĩ năng giải quyết vấn đề trong các tình huống khác nhau, sự tự tin, mạnh dạn trước tập thể, kĩ năng trình bày một vấn đề,... + Bồi dưỡng kiến thức tính toán, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức về đời sống cho học sinh + Giáo dục thẫm mĩ, tình yêu thiên nhiên, bảo vệ các con vật có ích, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, biết giúp đỡ bạn bè nhằm phát triển tư duy cho học sinh. + Qua các tiết dạy chuyên đề, các tiết dự giờ để học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp nhằm nâng cao về kiến thức về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được tốt hơn. Bên cạnh đó người giáo viên cần phải năng động, sáng tạo. Biết lắng nghe, quan sát các nhóm làm việc. Khi các nhóm gặp khó khăn thì giáo viên phải kịp thời hỗ trợ để các em hoàn thành bài tập đúng tiến độ. Để tiến hành làm sáng kiến này, tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt tập 2, sách Toán, Hoạt động trải nghiệm, Đạo đức để tìm hiểu nội dung, cấu trúc của chương trình, tìm hiểu mức độ hiểu biết thực tế của các em học sinh lớp 1A1 đồng thời nghiên cứu qua từng tiết dạy để rút ra mỗi bài học cần giáo dục cho các em những kĩ năng gì để đạt hiệu quả cao. Tính hiệu quả của sáng kiến Các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua các môn học ở lớp 1 đã góp phần giúp giáo viên có những định hướng cơ bản, những việc cần chuẩn bị để tích hợp dạy giáo dục kĩ năng sống diễn ra một cách nhẹ nhàng không tính áp đặt hay hình thức. Học sinh có ý thức hơn trong việc tự trang bị cho mình những kĩ năng sống cơ bản, gần gũi để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi. Đa số các em có tiến bộ nhiều, có ý thức học tập, thực hiện tốt các nội quy của nhà trường như đi học chuyên cần, đúng giờ, nghỉ học có xin phép, Tập trung nghe giảng bài, nghiêm túc việc xếp hàng ra vào lớp. Các em biết lễ phép với thầy cô giáo, ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi. Học sinh làm rất tốt khi có khách đến lớp, biết nói lời cảm ơn, lời xin lỗi đúng lúc, biết tự quản trong những lúc truy bài đầu giờ. Các em bước đầu thực hiện được quy tắc an toàn giao thông khi đi bộ. Qua các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt ngoại khóa tôi thấy các em đã mạnh dạn, tự tin hơn nhất là ban các sự của lớp, các em biết giúp đỡ, tương trợ những bạn gặp khó khăn trong lớp. Sau một thời gian thử nghiệm và áp dụng các phương pháp trên, học sinh trong lớp tôi đã có nhiều chuyển biến như: Tình trạng nói tục, chửi thề không còn, tham gia các hoạt động tập thể, các em không còn xô đẩy nhau mà có ý thức tham gia các hoạt động rất tích cực, các em biết quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoạt động, không còn hiện tượng ăn quà vặt, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, gọn gàng, luôn đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe máy, đi bộ về phía bên phải, qua môn Đạo đức các em biết cách phòng tránh các tai nạn thương tích như: phòng tránh đuối
- nước, phòng tránh điện giật, phòng tránh ngộ độc thực phẩm, phòng tránh bị xâm hai, đến đầu tháng 5/2022, kết quả tôi thu được như sau: Mặc quần áo Học bài ở nhà Tự giác học bài Chưa tự giác TSHS Tự mình mặc áo Cần bố mẹ giúp không cần nhắc học, bố mẹ phải quần mặc quần áo nhở nhắc nhở nhiều SL % SL % SL % SL % 34 32 94,1 2 5,9 32 94,1 2 5,9 Chuẩn bị đồ dùng học tập, sách vở TSHS Tự mình chuẩn bị đồ dùng học tập Cần bố mẹ soạn giúp ĐDHT SL % SL % 34 33 97,1 1 2,9 Thực hành thảo luận nhóm TSHS Chưa biết cách lắng nghe, hay Biết cách lắng nghe, hợp tác tách ra khỏi nhóm SL % SL % 34 32 94,1 2 5,9 Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể TSHS Biết cách ứng xử hài hòa, khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi hợp SL % SL % 34 34 100 0 0 Nội dung sáng kiến này phù hợp với lứa tuổi học sinh, có thể vận dụng được trong tất cả các lớp học, sau này, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để tìm thêm một số giải pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh được phong phú và đạt kết quả cao hơn.
- C. KẾT LUẬN I. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy rằng, giáo dục kĩ năng sống là nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hằng ngày. Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Với khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” được treo ở tất cả các bậc học trong các nhà trường, vì thế việc giáo dục kĩ năng sống không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi cả quá trình nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi hành vi trong suốt cả quá trình học tập của các em. Để làm tốt được việc giáo dục các em, đòi hỏi mỗi giáo viên luôn luôn tự học trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giáo dục để cho phù hợp với thời đại. Trong các tiết học giáo viên cần phải đi sâu, đi sát từng đối tượng học sinh, biết vận dụng nhiều hình thức, phương pháp dạy học, có kế hoạch giảng dạy ngay từ đầu năm học, tiến hành các giờ dạy có hiệu quả. Đặc biệt trong cách đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh, giáo viên phải đảm bảo tính khách quan, vô tư công bằng, tạo niềm tin tuyệt đối của các em với thầy, cô giáo Công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học là một công việc và trách nhiệm của mỗi giáo viên, của nhà trường, gia đình và của xã hội. Giáo viên phải thường xuyên phối hợp, trao đổi với phụ huynh để tìm ra biện pháp và nắm bắt kịp thời những điểm còn yếu của học sinh giúp các em học và rèn kĩ năng sống tốt hơn. Phối hợp với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường mới mong giáo dục các em một cách toàn diện. Luôn động viên khuyến khích các em tiến bộ dù là rất nhỏ nhất là học sinh chưa hoàn thành, giáo viên luôn động viên, khen kịp thời đó chính là động lực lớn giúp các em phấn chấn tinh thần học tập tốt. Giáo viên cần nắm được phương pháp đặc trưng trong việc giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh, biết lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp nhằm phát huy tính chủ động của học sinh, sẽ giúp các em phát huy cao độ trí tuệ, cảm xúc, năng động, sáng tạo trong học tập và giao tiếp. II. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 1. Đối với nhà trường Thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa, mô hình sáng tạo để các em được trải nghiệm, thực hành nhiều hơn. 2. Đối với phòng giáo dục Mở thêm nhiều lớp tập huấn cho giáo viên về giáo dục kĩ năng sống, nhiều chuyên đề có áp dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trên đây là một số biện pháp mà bản thân tôi đã thực hiện để rèn kỹ năng sống cho học sinh lớp 1 qua các môn học, trong điều kiện còn hạn chế, các biện

