SKKN Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 3 - Nguyễn Thị Tuyết Minh

pdf 12 trang baochau 05/02/2026 1390
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 3 - Nguyễn Thị Tuyết Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_giao_duc_ki_nang_song_cho_hoc_sinh_lop.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 3 - Nguyễn Thị Tuyết Minh

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CAM LỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CAM LỘ BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 3 Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Minh Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường tiểu học thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực khác Cam Lộ, tháng 5 năm 2023
  2. PHÒNG GD&ĐT CAM LỘ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc CAM LỘ Cam Lộ, ngày 08 tháng 5 năm 2023 BÁO CÁO SÁNG KIẾN - Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Minh Nam, nữ: Nữ - Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học sư phạm giáo dục tiểu học - Chức vụ: Tổ phó chuyên môn/ Giáo viên - Đơn vị công tác: Trường tiểu học thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ - Tên sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực khác - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 9/2022 I. Lý do chọn sáng kiến Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 là đào tạo những con người phát triển toàn diện về đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ, nghề nghiệp và hình thành nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới. Hiện nay ngành Giáo dục và đào tạo đang từng bước đổi mới phương pháp dạy học chuyển từ tiếp cận kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực của người học để rèn luyện, bồi dưỡng, giáo dục học sinh trở thành những con người tự tin, tự lực, làm chủ bản thân, làm chủ cuộc sống, có những kĩ năng ứng phó với cuộc sống luôn thay đổi, biến động của cuộc sống, của xã hội, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cũng đã cụ thể hóa mục tiêu giáo dục là giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Trong đó đối với Chương trình giáo dục Tiểu học là phải giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Để trang bị cho học sinh những kiến thức, thái độ và kĩ năng phù hợp thì ngay từ khi mới nhận lớp giáo viên phải hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Lứa tuổi học sinh lớp 3 là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống tốt, các em dễ bị lôi kéo vào những hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, chính là do các em thiếu kĩ năng sống cần thiết như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ 1
  3. năng từ chối, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nhận thức, kĩ năng xã hội và kĩ năng quản lí bản thân Thực tế giảng dạy, nhiều giáo viên còn mang nặng tư tưởng về dạy kiến thức, ít quan tâm hơn đến việc giáo dục đạo đức và kĩ năng sống cho học sinh dẫn đến một bộ phận học sinh thiếu những hiểu biết về môi trường xung quanh, kĩ năng giao tiếp, ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Với nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, để giúp các em phát triển toàn diện hơn, tôi xin được chia sẻ sáng kiến “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3” mà tôi đã áp dụng tại lớp 3A4, Trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ năm học 2022-2023. II. Giải quyết vấn đề 1. Tính mới và sáng tạo của sáng kiến Kĩ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung, nâng cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống hiện đại. Ở học sinh lớp 3, để giúp các em có tinh thần tự học, sáng tạo và biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào thực tiễn, trong quá trình dạy học người giáo viên phải luôn tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp hay để giúp học sinh học tập tốt hơn. Kĩ năng sống không thể hình thành cho các em qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động giao tiếp, thảo luận với các bạn trong nhóm, các hoạt động học tập hoặc các hoạt động tập thể trong nhà trường để hình thành kĩ năng sống. Chính vì lẽ đó, tôi đã áp dụng một số giải pháp sau: 1.1. Tìm hiểu điều kiện sống, thấu hiểu các đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, gần gũi và tạo mối quan hệ thân thiện với học sinh Để rèn luyện cho học sinh có được các kỹ năng sống, tôi ưu tiên lựa chọn công việc này làm biện pháp đầu tiên. Vì tôi thiết nghĩ, mỗi giáo viên, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, muốn đề ra các biện pháp giáo dục phù hợp, đạt hiệu quả cao thì trước hết phải hiểu học sinh của mình, phải nắm đầy đủ các thông tin cần thiết về từng học sinh. Vì vậy, ngay từ đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi gặp gỡ giáo viên chủ nhiệm của năm học trước để trao đổi về tình hình học sinh. Tôi ghi chép đầy đủ, cụ thể vào sổ tay để tiện cho việc theo dõi và có hướng giải quyết riêng với từng em. Ngoài ra, tôi còn tìm hiểu về điều kiện sống, tâm lí, tính cách của từng học sinh thông qua các bạn cùng lớp, qua trao đổi, trò chuyện cùng với phụ huynh học sinh để cùng nhau phối hợp trong việc giáo dục học sinh. Để tạo sự gần gũi và gắn kết giữa học sinh và giáo viên, tôi tự giới thiệu về bản thân mình và sắp xếp thời gian cho học sinh được giới thiệu về bản thân, động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích, ước mơ tương lai cũng như mong muốn của tôi với các em. Đây là hoạt động giúp cô trò chúng tôi hiểu nhau, đồng thời tôi muốn tạo một môi trường học tập thân thiện. Trong các giờ học hay các hoạt động tôi luôn tạo cho các em cảm giác thoải mái, gần gũi, tạo nhiều cơ hội để các em được giao tiếp nhiều hơn, được chia sẻ với nhau về những sở thích, mong muốn, để các em thấy được “Trường học thật sự trở thành ngôi nhà thứ hai của các em, các thầy cô giáo là những người thân trong gia đình". Bởi học sinh không thể mạnh dạn, tự tin trong một môi trường mà giáo viên luôn gò bó và áp đặt. Qua đó phần nào tôi nắm được đặc điểm tính cách của các em: mạnh dạn hay nhút nhát, thụ động,... 2
  4. Và tiếp tục qua những tuần học sau, tôi chú ý quan sát những biểu hiện về thái độ học tập, những cử chỉ, hành vi mà các em chọn để bắt đầu có điều chỉnh phù hợp. Ví dụ: Sau mỗi buổi dạy học, tôi sẽ dành thời gian để đến nhà từng học sinh trong lớp để trực tiếp gặp phụ huynh học sinh để nắm bắt điều kiện sống của các em, tìm hiểu thêm về tính cách của học sinh và cùng phụ huynh trao đổi về tình hình học tập của các em. Trong thời gian đầu giờ hay vào giờ nghỉ giải lao, tôi thường dành thời gian ngồi tại lớp để nói chuyện, tâm sự với các em học sinh hay hướng dẫn thêm cho những học sinh chưa hiểu bài dạy trên lớp. Qua việc làm đó, tôi sẽ giúp cho học sinh của tôi học tập tiến bộ hơn và tôi cũng nắm được suy nghĩ, tâm tư của học sinh mình và tạo một tâm thế thoải mái hơn cho học sinh. Ví dụ: Trường hợp của em Nguyễn Hữu Đạt lớp tôi từ nhỏ đã chậm nói, sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, do hoàn cảnh gia đình nên em chuyển về quê sinh sống, bố làm việc xa, mẹ bị bệnh ốm đau thường xuyên nên việc học của con giao phó cho giáo viên, em nói giọng miền Nam nên ngại khi trả lời câu hỏi cũng như giao tiếp với thầy cô, bạn bè, vì vậy việc học và giao tiếp của em gặp rất nhiều khó khăn. Em Phạm Thế Phong học tiếp thu bài chậm, ngồi trong lớp không tập trung, tôi tìm hiểu thì biết hoàn cảnh gia đình của em khá đặc biệt, gia đình có 7 người gồm ông, bà, bố, mẹ, hai anh trai và em, bố không có việc làm, cả nhà chỉ nhờ vào tiền mẹ bán rau ở chợ, một mình mẹ lo hết công việc trong gia đình nên không có thời gian quan tâm đến việc học của con. Em Nguyễn Trần Thiên An học ghi nhớ chậm, về nhà không được bố mẹ quan tâm đến việc học, học trước quên sau. Vì trong lớp có những em như vậy nên tôi đã lập kế hoạch giúp đỡ bằng những việc làm cụ thể sau: + Tranh thủ thời gian giảng lại bài mà các em chưa hiểu vào những thời gian ngoài giờ lên lớp, 15 phút đầu giờ, giờ ra chơi và ngay khi cả lớp đang làm bài tập. + Khi hỏi bài các em này, cần đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó và những câu gợi mở để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú học tập và cũng cố niềm tin ở các em, hằng ngày lên lớp, tôi thường xuyên kiểm tra bài và động viên để giúp em chăm chỉ học tập hơn. + Cần phát huy việc chia sẻ trong nhóm để tạo cơ hội cho các em thể hiện mình và học hỏi ở bạn. Tôi thường xuyên lập đôi bạn cùng tiến để học sinh tiếp thu bài nhanh giúp đỡ học sinh tiếp thu bài chậm, sắp xếp chỗ ngồi hợp lí, từ đó rèn cho các em tính mạnh dạn, khả năng điều khiển nhóm, tự tin trình bày ý kiến trước đám đông. 1.2. Rèn kĩ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được thực hiện trong bất cứ lúc nào, giờ học nào. Để việc rèn luyện diễn ra thường xuyên và đạt hiệu quả, tôi đã vận dụng vào hầu hết các môn học, hoạt động trải nghiệm. Với các môn học như Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Hoạt động trải nghiệm thì cơ hội để giáo dục kĩ năng sống cho các em được thực hiện nhiều hơn. Các em được tham 3
  5. gia vào các hoạt động, trải nghiệm để tự chiếm lĩnh lấy tri thức, biết vận dụng tri thức có được vào cuộc sống. Trong môn Tiếng Việt ở lớp 3 có nhiều bài học có thể giáo dục kĩ năng sống cho các em, đó là các kĩ năng giao tiếp xã hội như các bài: điền vào mẫu in sẵn, giới thiệu về bản thân,... được lồng ghép qua các tình huống giao tiếp. Khi giảng dạy các bài này, tôi đã gợi mở cho các em tự nói một cách tự nhiên, hoàn toàn không gò bó áp đặt. Ngoài ra, nhiều nội dung luyện tập, rèn luyện cho các em một số kĩ năng giao tiếp hoặc cung cấp những câu chuyện mà qua đó học sinh có thể rút ra những nội dung rèn kĩ năng sống. Để hình thành những kiến thức và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt, tôi đã vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như: thực hành giao tiếp, trò chơi học tập, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm. Qua các hoạt động học tập, được trải nghiệm, rèn kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân đóng vai, học sinh có cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kĩ năng sống cần thiết. Ví dụ: Khi dạy bài: “Bài tập làm văn” (Sách Tiếng Việt 3 Tập 1), giáo dục cho học sinh các kĩ năng ứng phó linh hoạt thông minh, sáng tạo trong các tình huống. Khi tổ chức dạy học, đến hoạt động đọc cá nhân, tôi sẽ tổ chức cho các em chơi trò chơi "Truyền điện". Qua trò chơi này sẽ giúp cho học sinh phát triển được kỹ năng ứng phó linh hoạt, kỹ năng giao tiếp và óc sáng tạo. - Khi dạy đến phần tìm hiểu bài, tôi thường tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận nhóm thông qua các câu hỏi rồi chỉ định hoặc khuyến khích học sinh xung phong điều hành lớp trả lời các câu hỏi. - Trong quá trình thảo luận nhóm và điều hành, nhiều học sinh được nêu suy nghĩ của mình. Qua đó để rèn cho học sinh kỹ năng hợp tác, kỹ năng thuyết trình vấn đề, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng điều hành. - Bên cạnh đó, tôi sẽ cho các em liên hệ thực tế: Cho học sinh mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình bằng câu hỏi gợi mở: + Nếu em là bạn nhỏ trong bài, em sẽ làm gì? + Qua bài em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của em với gia định, với địa phương, trường, lớp? Thông qua đó tôi sẽ giáo dục cho học sinh về trách nhiệm của em đối với gia đình, với địa phương, trường, lớp. Việc học tập, sinh hoạt theo nhóm tạo môi trường làm việc thân thiện, giúp các em cải thiện hành vi giao tiếp thông qua các hoạt động hợp tác, trao đổi diễn ra thường xuyên. Các em trở nên thân thiện, giúp bầu không khí học tập, hoạt động trở nên sôi nổi hơn. Tham gia sinh hoạt theo nhóm giúp học sinh hưng phấn hơn trong học tập và tạo nên cách ứng xử hợp lý trong mọi tình huống. Đó cũng là cách tạo sự gần gũi giữa các em với nhau. Ngoài ra, tôi cũng chú ý giáo dục học sinh rèn luyện sức khoẻ và ý thức bảo vệ sức khoẻ, kĩ năng phòng chống tai nạn giao thông, tai nạn đuối nước, tai nạn thương tích qua các môn học. Sức khỏe là tài sản vô cùng quý báu của mỗi con người. Học tập tốt, đạo đức tốt là những điều học sinh phải đạt được thì rèn luyện sức khỏe tốt cho học sinh là điều phải được đặc biệt quan tâm. 4
  6. Ví dụ: Ở môn Tự nhiên và xã hội, khi dạy các bài về chủ đề “Con người và sức khỏe” cần cho các em biết cách chăm sóc, bảo vệ các cơ quan trong cơ thể, biết tham gia các hoạt động và nghỉ ngơi một cách hợp lí để có sức khoẻ tốt, biết cách ăn uống hợp lí. Ngoài ra để các em có kĩ năng phòng chống tai nạn giao thông, tai nạn đuối nước và các thương tích khác, bản thân đã giáo dục các em thông qua các tiết dạy tích hợp tài liệu giáo dục An toàn giao thông, tôi thường hướng dẫn các em bằng cách đưa ra những tình huống cho các em xử lí. Chẳng hạn: “Khi ngồi trên xe máy em phải như thế nào? Em hãy nêu cách đội mũ bảo hiểm? Nêu sự cần thiết phải đội mũ bảo hiểm?”; “Các em đã nhìn thấy tai nạn trên đường chưa? Theo các em vì sao tai nạn xảy ra?”,... Giáo dục cho các em tránh các tai nạn trên đường: không được chạy lao ra đường, không được bám bên ngoài ô tô, không được thò tay, chân, đầu ra ngoài khi đi trên tàu, xe, ghe, đò,... Bằng việc đưa ra các câu hỏi, yêu cầu học sinh suy nghĩ đưa ra kĩ năng ra quyết định: nên hay không nên; Kĩ năng nhận thức ra vấn đề, trách nhiệm, suy nghĩ, ý tưởng, tự phục vụ, tự bảo vệ bản thân, quản lí thời gian một cách khoa học. Tôi luôn sử dụng kết hợp các đồ dùng trực quan: tranh ảnh, mô hình, video... để thu hút, tạo sự hấp dẫn và hứng thú học tập cho các em. Như vậy, các em có thể tự lập, xử lí được những vấn đề đơn giản khi gặp phải. 1.3. Rèn kĩ năng sống hiệu quả qua các Tiết đọc thư viện, hoạt động trải nghiệm Ngay từ đầu năm học, tôi đã phát động các phong trào “Nói lời hay, làm việc tốt” hướng dẫn học sinh có thói quen chào hỏi, xin phép; biết nói lời xin lỗi khi có khuyết điểm, cảm ơn khi được giúp đỡ, tặng quà; vui vẻ hoà nhã với bạn bè, lễ phép với thầy cô và những người lớn tuổi,... Cuối mỗi tuần tôi đều có nhận xét, đánh giá, nêu gương những em đã thực hiện tốt phong trào. Ngoài ra tôi còn vận dụng thông qua các hoạt động trải nghiệm của trường, lớp, qua các buổi sinh hoạt dưới cờ, qua Tiết đọc thư viện... Ví dụ: Nhân Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4, cùng với Đội tổ chức cho các em tham gia trưng bày tủ sách, đọc sách, quyên góp sách vào tủ sách dùng chung. Hưởng ứng “Giờ Trái Đất” năm 2023, ngoài việc giáo dục các em tiết kiệm điện nước,... tôi còn phát động mỗi học sinh trồng và chăm sóc một cây xanh. Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tổ chức cho các em tham gia, chủ trì tiết sinh hoạt dưới cờ, hướng dẫn các em viết thiệp chúc mừng, vẽ và trang trí, tìm các bài thơ, bài văn, viết những bức thư bày tỏ lòng tri ân của mình đến thầy cô giáo. Các Tiết đọc thư viện giúp các em biết tự tra cứu danh mục sách muốn đọc theo bảng màu, từ đó các em hứng thú với việc đọc sách, xây dựng được văn hóa đọc trong học sinh, từ đó giảm thiểu tối đa việc các em sử dụng các thiết bị điện tử. Khi đọc các loại sách, các em hiểu hơn về những gì đang diễn ra xung quanh, tự hoàn thiện bản thân, phát triển tâm hồn... Qua các hoạt động này rèn cho các em nhiều kĩ năng như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng trang trí, kĩ năng biểu diễn, kĩ năng quản lý bản thân Khi tôi để cho các em chủ động trong các hoạt động, tôi đã rèn cho các em tính đoàn kết và hợp tác với nhau rất tốt. Phối hợp với nhà trường, Đội tổ chức cho các em thăm viếng Nhà Tằm (Tân Tường), Thành Tân Sở (Cam Chính)... Qua đó, giáo dục cho các em kĩ 5
  7. năng tham gia giao thông an toàn, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng chia sẽ nhằm giáo dục cho các em truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", lòng biết ơn, tự hào và giáo dục tình yêu quê hương, đất nước. Bên cạnh đó, để rèn kĩ năng tự phục vụ, biết lao động vừa sức, tôi thường hướng dẫn các em biết cách trang trí không gian lớp học thân thiện, tích cực, giúp các em yêu trường, yêu lớp hơn. Tổ chức các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh sân trường, lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường; học sinh được rèn một số kĩ năng như: cầm chổi quét, hốt rác, tưới cây, tỉa lá, ... thông qua đó, học sinh biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động. 1.4. Hướng dẫn phụ huynh học sinh cùng phối hợp dạy các em các kĩ năng sống cơ bản. Trong dạy học, tôi cũng luôn chú trọng việc phối hợp với phụ huynh để cùng giáo dục học sinh. Hướng dẫn để phụ huynh phải luôn phải gương mẫu, chuẩn mực, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với các con và luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các em trong học tập và rèn luyện. Cha mẹ cần khuyến khích các em nói lên ý kiến của mình, không chỉ trích các quyết định của các em. Việc này sẽ hình thành kĩ năng tự kiểm soát bản thân, rèn luyện tính tự tin cho học sinh khi tham gia hoạt động; giúp các em phát triển sở thích của mình. Học sinh cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự giao tiếp trong gia đình, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình. Vì thế cần phối hợp với phụ huynh để tìm hiểu về hoàn cảnh sống, nắm bắt kịp thời đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để giúp học sinh hiểu được, giao tiếp trong gia đình là: “Kính trên, nhường dưới”. Cần quan tâm, hướng dẫn các em từ những kĩ năng đơn giản nhất trong cuộc sống hằng ngày như văn hóa trong ăn uống, thói quen sắp đặt các đồ dùng ngăn nắp, gọn gàng, biết cách sử dụng các đồ dùng đơn giản, sạch sẽ, gọn gàng, luôn có thái độ cởi mở, thân thiện với mọi người tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để hình thành kĩ năng tự phục vụ và có kĩ năng sống tự lập sau này. 2. Tính thực tiễn của sáng kiến Dạy học các môn theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh lồng ghép giáo dục kĩ năng sống là tương đối khó đối với học sinh lớp 3, vì học sinh còn nhỏ. Song tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến để học sinh có kĩ năng sống tốt hơn ngay từ nhỏ. Để làm được điều này yêu cầu giáo viên phải tập huấn đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với lứa tuổi. Đó là các phương pháp giảng giải, nêu gương, tác động, thuyết phục, khích lệ,... Trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, lời nói đi đôi với việc làm của giáo viên và học sinh. Để giáo dục học sinh lĩnh hội được tốt các kiến thức lẫn kĩ năng sống thì việc phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội rất quan trọng. Bên cạnh đó, tôi đã nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông 2018, nghiên cứu sách giáo khoa lớp 3 mới, sách giáo viên để tìm hiểu nội dung, cấu trúc của chương trình, tìm hiểu mức độ hiểu biết thực tế của các em học sinh lớp 6
  8. 3A4 đồng thời nghiên cứu qua từng tiết dạy để rút ra mỗi bài học cần giáo dục cho các em những kĩ năng gì để đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó người giáo viên cần phải năng động, sáng tạo. Biết lắng nghe, quan sát các nhóm làm việc. Khi các nhóm gặp khó khăn thì giáo viên phải kịp thời hỗ trợ để các em hoàn thành bài tập đúng tiến độ, đặc biệt với những em khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, thiếu kĩ năng thực hành thì giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi, động viên, chia sẻ, dùng những cử chỉ, điệu bộ để hòa đồng cùng các em. 3. Hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến 3.1. Hiệu quả áp dụng Các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua các môn học ở lớp 3 đã góp phần giúp giáo viên có những định hướng cơ bản, những việc cần chuẩn bị để tích hợp dạy giáo dục kĩ năng sống diễn ra một cách nhẹ nhàng không tính áp đặt hay hình thức. Học sinh có ý thức hơn trong việc tự trang bị cho mình những kĩ năng sống cơ bản, gần gũi để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi. Đa số các em có tiến bộ nhiều, có ý thức học tập, thực hiện tốt các nội quy của nhà trường như đi học chuyên cần, đúng giờ, nghỉ học có xin phép, tập trung nghe giảng bài, nghiêm túc trong việc xếp hàng ra vào lớp. Các em biết lễ phép với thầy cô giáo, ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi, biết nói lời cảm ơn, lời xin lỗi đúng lúc, biết tự quản trong những phút truy bài đầu giờ. Các em bước đầu thực hiện được quy tắc an toàn giao thông khi đi bộ. Qua các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt ngoại khóa tôi thấy các em đã mạnh dạn, tự tin hơn nhất là ban cán sự của lớp, các em biết giúp đỡ, tương trợ những bạn còn rụt rè, chưa mạnh dạn trong lớp. Hiệu quả lớn nhất là đã huy động được sự tham gia của cha mẹ các em, của các tổ chức, các lực lượng xã hội trong việc giáo dục văn hóa, truyền thống cho học sinh, đồng thời đây là những cơ hội vàng dạy trẻ kĩ năng sống. Bảng số liệu so sánh trước và sau khi áp dụng sáng kiến Trước khi áp dụng sáng kiến Tổng Nhóm kỹ năng Nhóm kỹ năng Nhóm kỹ năng quản số nhận thức xã hội lí bản thân học Tốt Đạt Tốt Đạt Tốt Đạt sinh SL % SL % SL % SL % SL % SL % 32/19 13 40.6 19 59.4 11 34.2 21 65.8 15 46.8 17 53.2 Sau khi áp dụng sáng kiến Tổng Nhóm kỹ năng Nhóm kỹ năng Nhóm kỹ năng quản số nhận thức xã hội lí bản thân học Tốt Đạt Tốt Đạt Tốt Đạt sinh SL % SL % SL % SL % SL % SL % 32/19 26 81.2 6 18.8 24 75.0 17 25.0 27 84.3 5 15.7 3.2. Phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến Tôi nghĩ rằng, sáng kiến này có thể áp dụng được cho tất cả các lớp trong 7
  9. trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ và các trường Tiểu học trên địa bàn huyện nhưng để đạt được những hiệu quả cao, người giáo viên cần nâng cao nhận thức của mình về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho các em học sinh. Giáo viên phải thường xuyên áp dụng vào hầu hết mọi hoạt động học và các hoạt động khác. Đặc biệt, giáo viên cần căn cứ vào tình hình thực tế của lớp mình để áp dụng các sáng kiến sao cho phù hợp. III. Kết luận 1. Bài học kinh nghiệm Quá trình áp dụng sáng kiến, đúc rút kinh nghiệm được tiến hành trong suốt năm học 2022 - 2023, kết quả cho thấy các biện pháp áp dụng đã có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập và sinh hoạt của các em. Biện pháp đã góp phần giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, giúp học sinh mạnh dạn, tự tin, trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết. Trong các tiết học trên lớp, học sinh hào hứng, tích cực hoạt động hơn, thực hành một cách tương đối chủ động; mạnh dạn trình bày trước lớp. Đặc biệt một số học sinh rụt rè, nhút nhát đã tự tin hơn trong học tập và các hoạt động, nhiều học sinh đã có tiến bộ rõ rệt. 2. Kiến nghị đề xuất 2.1. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo Tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm về biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh tiểu học, để giáo viên có điều kiện trao đổi học hỏi lẫn nhau nhằm nâng cao chất lượng. 2.2. Đối với nhà trường Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, Nhà trường cần tổ chức nhiều tiết chuyên đề có dạy lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, để giáo viên có điều kiện giao lưu, học hỏi, rút kinh nghiệm. 2.3. Đối với giáo viên Mỗi một giáo viên cần không ngừng học hỏi, nâng cao tay nghề, đổi mới phương pháp dạy học và linh hoạt trong việc tổ chức lồng ghép các hoạt động học tập, các hoạt động trải nghiệm cho học sinh. Luôn tạo cơ hội cho học sinh có cơ hội nói, suy nghĩ, nhu cầu, bộc lộ cảm xúc... Ngoài ra, giáo viên phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. 2.4. Đối với phụ huynh và học sinh Phối kết hợp với nhà trường trong việc giáo dục và rèn luyện học sinh, theo dõi mọi biểu hiện của trẻ để có biện pháp giáo dục phù hợp và kịp thời. Học sinh cần hợp tác tích cực với bạn bè, với thầy cô giáo cũng như với gia đình và cộng đồng để không ngừng rèn luyện và phát triển, tự hoàn thiện dần bản thân. Trên đây là một số sáng kiến giáo dục rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 của tôi. Rất mong Hội đồng giám khảo, quý thầy cô giáo góp ý để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cám ơn! 8
  10. XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN (Ký tên, đóng dấu) Nguyễn Thị Tuyết Minh XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 9
  11. MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 10