Vận dụng phương pháp và kỉ thuật dạy học mới trong dạy học phân môn thực hành Ngữ văn lớp 6 - Nguyễn Thị Sương
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Vận dụng phương pháp và kỉ thuật dạy học mới trong dạy học phân môn thực hành Ngữ văn lớp 6 - Nguyễn Thị Sương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
van_dung_phuong_phap_va_ki_thuat_day_hoc_moi_trong_day_hoc_p.doc
Nội dung tài liệu: Vận dụng phương pháp và kỉ thuật dạy học mới trong dạy học phân môn thực hành Ngữ văn lớp 6 - Nguyễn Thị Sương
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài. Sách giáo khoa cũ ra đời hàng chục năm nay không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống. Việc thay sách cũ bằng bộ sách giáo khoa mới là yêu cầu bức thiết của nghành giáo dục cũng như của toàn xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nên những con người mới, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và cuộc sống. Sách giáo khoa mới ra đời đòi hỏi người dạy phải thay đổi hình thức tố chức và phương pháp dạy học để đáp ứng mục tiêu giáo dục xây dựng con người mới. Phương pháp dạy học: thầy giảng- trò nghe, ghi chép và học thuộc ..như trước đây không còn phù hợp nữa. Thay vào đó là dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập để hình thành phẩm chất, phát triển năng lực bản thân. Không những vậy nếu như trước đây thầy là người duy nhất đưa ra những nhận xét đánh giá học sinh thì trong phương pháp mới, học sinh còn được đáng giá lẫn nhau dưới sự giúp đỡ, hỗ trợ của người thầy. Năm học 2021-2022 dịch bệnh Covid diễn ra phức tạp. Là một năm có thể nói gặp rất nhiều khó khăn cho cả giáo viên và học sinh dạy và học ở khối lớp 6. Bởi đây là năm đầu tiên thực hiện thay sách giáo khoa có nhiều cái mới còn rất bỡ ngỡ. Mặc dù đã có nhiều chuyên đề tập huấn về chương trình GDPT tổng thể 2018, chuyên đề thay sách, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học... Nhưng những chuyên đề đó diễn ra khi chưa có SGK mới chính thức nên cũng chỉ mang tính “dò đường”. Khi năm học bắt đầu thực hiện chương trình SGK mới, Sở GD - ĐT, phòng GD huyện nhà cũng đã thực hiện rất nhiều chuyên đề trực tuyến bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên dạy lớp 6 nhưng do nhiều điều kiện khách quan nên dù sao nó cũng có những hạn chế so với việc giáo viên được trực tiếp chuyên đề và tương tác qua lại trực tiếp. Trong SGK Ngữ Văn 6 mới được thiết kế theo chủ đề với cấu trúc: Đọc- hiểu văn bản, Thực hành Tiếng Việt, Viết, Nói và Nghe. Qua thực tế giảng dạy và qua phản ánh của giáo viên dạy Ngữ Văn 6 nhiều nơi cho thấy, nếu như phân môn Tiếng Việt ở SGK cũ dễ dạy nhất trong ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn thì phần Thực hành Tiếng Việt trong SGK mới là là phần hack não nhất khiến cho nhiều giáo viên băn khoăn, lo lắng nhất. Trước thực tế đó, bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 6 quyết định chọn: “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 ” làm đề tài nghiên cứu. 1
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Lý thuyết về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực - Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động học của học sinh lớp 6, và hoạt động dạy của giáo viên môn Ngữ văn ở trường sở tại. - Phạm vi nghiên cứu: Việc giảng dạy học tập môn Ngữ văn, địa điểm ở trường THCS nơi bản thân công tác. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. a. Mục tiêu: Đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp, kĩ thuật dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn lớp 6, hình thành phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh. b. Nhiệm vụ nghiên cứu: Dựa vào mục tiêu môn học, điều kiện cơ sở vật chất lớp học, đặc điểm đối tượng học sinh như : Năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình yêu cầu nhiệm vụ, mục tiêu năm học đối với môn học và thực tế giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 6 tại đơn vị công tác để từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể nhằm đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học giúp học sinh học tập có hiệu quả hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn. 4. Giả thiết khoa học của đề tài: Nếu áp dụng đề tài: “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ KỈ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN LỚP 6” vào thực tế dạy học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ Văn 6, đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh 5. Phương pháp nghiên cứu: - Thu thập thông tin liên quan đến đề tài, đọc tài liệu, phân tích và tổng hợp thông tin. - Phương pháp quan sát, điều tra thực tiễn. - Phương pháp thống kê số liệu. - Phương pháp so sánh, đối chiếu. 6. Dự báo những đóng góp mới của đề tài: Nếu đề tài: “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ KỈ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 ”này được thừa nhận và áp dụng vào thực tế dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ Văn 6, phát triển năng lực, phẩm chất người học theo yêu cầu của môn học. Đề tài này cũng có thể xem như một tài liệu tham khảo cho các giáo viên dạy Văn 6 ở trường các trường THCS. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 2
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 1 . Cơ sở lí luận. Thực hiện sự chỉ đạo chuyên môn của sở GD-ĐT Hà Tĩnh và Phòng GD- ĐT Hương Khê, thông qua các đợt tập huấn, chuyên đề trực tiếp và trực tuyến do Sở, Phòng, tổ chuyên môn triển khai trong năm học 2021-2022. Tôi xây dựng đề tài “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 ”. Xuất phát từ lí luận bộ môn và phương pháp dạy học Ngữ văn, mục tiêu, nhiệm vụ năm học dựa trên các cơ sở lí luận như sau: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, “ là chìa khóa mở ra chốn lao tù” (Buổi học cuối cùng, An-phông-xơ Đô- đê). Trong Ngữ Văn, Tiếng Việt là phương tiện để nhà văn nhà thơ gửi gắm các thông điệp của mình tới độc giả qua hệ thống ngôn từ, các phương tiện, biện pháp tu từ đặc sắc. Ngôn ngữ cũng là phương tiện giúp người đọc, người viết thể hiện những hiểu biết và cảm nhận, cách giải mã của mình về những thông điệp mà tác phẩm văn học gửi gắm... Nếu học tốt Tiếng Việt sẽ giúp ta có vốn từ phong phú, sử dụng vốn từ đó một cách linh hoạt uyển chuyển, mềm dẻo và sáng tạo để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp cũng như trong học tập, viết văn,làm thơ. Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 6 mới, phân môn Tiếng Viết được gọi tên mới là: Thực hành Tiếng Việt với dụng ý thiên về thực hành chứ không nặng về lý thuyết. Nghĩa là có sự nhảy cóc và nâng cấp so với sách giáo khoa cũ. Điều này gây hoang mang, lo lắng và khó khăn cho không ít giáo viên dạy Ngữ Văn 6 trong những tuần học đầu tiên đặc biệt là những giáo viên chưa từng dạy lớp 6 hoặc chưa dạy hết các lớp ở cấp THCS.SGK Ngữ Văn 6 mới hầu như không chốt kiến thức lý thuyết, hoặc chốt vài ý rất sơ sài. Ý đồ của người viết sách có lẽ là do học sinh đã học ở tiểu học nên lên lớp 6 yêu cầu các em vận dụng những hiểu biết từ tiểu học để thực hành Tiếng Việt. Điều này khiến cho nhiều em rất lúng túng và khó khăn. Vì lý thuyết là để dẫn đường soi vào bài tập nhưng các em học ở tiểu học lâu rồi nên đa số đã quên hết lý thuyết. Kể cả giáo viên một số cũng chưa nắm vững khái niệm cơ bản của đơn vị kiến thức đó nên khi dạy kẹp thêm một cuốn SGK Ngữ Văn cũ để cung cấp lý thuyết cho học sinh giúp các em có công cụ để thực hành. SGK thiết kế theo hướng đồng tâm tích hợp nghĩa là một đơn vị kiến thức được học ở chủ đề 1 có thể sẽ tiếp tục được lặp lại ở các chủ đề 2, 3 sau đó để học sinh được thực hành Tiếng Việt nhiều lần để rèn luyện kĩ năng, phát triển phẩm chất năng lực. Nhưng nếu người dạy không linh hoạt trong việc tổ chức dạy học, phụ thuộc quá nhiều vào SGK thì sẽ dẫn đến một thực tế là dù đã thực hành nhiều lần trong các chủ đề nhưng học sinh và ngay cả giáo viên sau khi dạy xong, học xong vẫn thấy mơ hồ. 3
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thuận lợi: Như trên đã nói, chương trình GDPT 2018 đã được tuyên truyền rộng rãi từ rất lâu. Mặc dù dịch bệnh phức tạp nhưng Sở GD - ĐT, phòng GD huyện nhà cũng đã thực hiện rất nhiều chuyên đề trực tuyến bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên dạy lớp 6 nhằm giúp giáo viên thực hiện thành công chương trình thay sách giáo khoa. Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho lớp 6 hiện nay đã đầy đủ. Tất cả các lớp 6 tại trường sở tại đã được lắp bảng thông minh, ti vi, bảng phụ để thảo luận nhóm rất tiện lợi cho quá trình dạy- học của thầy và trò. Trong quá trình thực hiện dạy học thay sách, Sở GD- ĐT và các phòng GD- ĐT đã luôn đồng hành cùng giáo viên bằng cách triển khai rất nhiều hoạt động chuyện môn bồi dững nghiệp vụ cho giáo viên dạy lớp 6 thay sách như chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học, soạn giáo án Elơrning, xem các vidieo dạy trực tuyến...đã phần nào hỗ trợ giáo viên học tập để vận dụng để đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học. Các trường học, giáo viên dạy các lớp có quyền tự chủ xây dựng kế hoạch dạy học hay phân phối chương trình chính khóa theo hướng dẫn điều chỉnh PPCT của Bộ GD- ĐT ban hành theo Công văn số 971 cho phép nhà trường tự chủ xây dựng phân phối chương trình dạy học dựa trên công văn 3280/BGD ĐT-VP ngày 27/8/2020, thông tư 4040 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc xây dựng một kế hoạch dạy học ( Phân phối chương trình môn học) theo thông tư 4040 và công văn 5512 trong đó có mục yêu cầu cần đạt được thể hiện ngay trong KHDH để giáo viên dạy mỗi lớp tự điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh, hoàn cảnh hiện tại là một yếu tố rất cần thiết để mục tiêu dạy học sát với đối tượng mình phụ trách. 2.2. Khó khăn: Là năm đầu tiên thực hiện thay sách giáo khoa mới còn rất nhiều bở ngỡ, ngoài những hỗ trợ đồng hành thông qua các chuyên đề trực tuyến của Sở và phòng GD-ĐT thì chủ yếu giáo viên tự mày mò, dõ dẫm để bước đi những bước đầu tiên trong thực hiện chương trình thay sách giáo khoa nhất là trong những tuần học, tháng học đầu tiên. Dịch bệnh diễn biến phức tạp, chương trình dồn ép mỗi tuần có 5-6 tiết học Ngữ Văn ngoài lịch học tực tiếp còn lịch học trực tuyến dạy đặc để gấp rút hoàn thành chương trình tạo nên rất nhiều áp lực cho cả người dạy lẫn người học trong việc chuẩn bị bài, luyện tập những bài đã học..Điều này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học. Do yêu cầu cách ly lớp học để tránh lây nhiễm nên phải bố trí học 2 ca và học 2 lớp chung một phòng nên cũng gặp nhiều bất lợi, khó khăn. Học sinh lớp 6 đầu cấp còn bỡ ngỡ chưa quen với môi trường mới, hình thức học tập 4
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 mới, lại là năm thay sách đầu tiên nên càng khó hòa nhập và bắt kịp. Chương trình SGK Ngữ Văn 6 thiết kế vừa nâng cấp vừa nhảy cóc so với SGK cũ, nặng hơn nhiều so với sách cũ. Ngữ liệu trong nhiều bài thực hành Tiếng Việt chưa mang tính toàn diện nên rất khó hình thành năng lực cho học sinh. Từ những thuận lợi và khó khăn nêu trên, trong những tuần đầu khi bước vào năm học mới 2021- 2022, tôi đã tiến hành khảo sát để năm bắt nhu cầu, hứng thú và làm bài kiểm tra để đánh giá năng lực học sinh. Tôi đã thu được kết quả như sau: a. Hứng thú học tập với môn học ở thời điểm đầu năm học 2021-2022: Đầu năm Đối Số Có hứng thú Không có hứng Chán ghét học tượng lượng thú SL % SL % SL % 2021- 2022 HS lớp 6A2 38 3 8 32 84 3 8 b. Ý thức học tập với môn học ở thời điểm đầu năm học 2021-2022: Đầu Đối Số Chăm chỉ Bình thường Lười biếng tượng lượng năm học SL % SL % SL % 2021- 2022 HS lớp 6A2 38 3 8 32 84 3 8 5
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 c. Kết quả học tập (qua bài kiểm tra)với môn học ở thời điểm đầu năm học 2021-2022: : Đầu Đối Số Giỏi Khá TB Yếu Kém tượng lượng năm học SL % SL % SL % SL % SL % 2021- 2022 HS lớp 6A2 38 1 3 6 16 30 78 1 3 0 0 Qua khảo sát thực tế, tôi nhận thấy hầu hết ý thức học tập của học sinh không cao, chưa có hứng thú với môn học, kết quả học tập thấp. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này: Đầu tiên có thể khẳng định, chương trình SGK Ngữ Văn 6 mới nặng hơn nhiều so với sách cũ. Phần văn bản đọc- hiểu có nhiều văn bản vốn ở lớp 8,9 SGK cũ được đưa vào SGK Ngữ Văn 6. Phần Tiếng Việt mỗi tiết thực hành có tới 3- 4 đơn vị kiến thức ví dụ như: Bài 1 trong phần Thực hành Tiếng Việt học sinh phải thực hành được 4 đơn vị kiến thức gồm: từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy và biện pháp tu từ so sánh. Trong khi SGK cũ các nội dung trên được bố trí học trong 3-4 tiết. Phần Viết học sinh phải học và viết các loại văn bản thuyết minh, nghị luận... mà sách cũ các dạng bài này lên lớp 8,9 các em mới học. Mặc dù như trên đã nói SGK mới được thết kế theo hướng đồng tâm tích hợp. Tất nhiên các nội dung này sẽ được thực hành lại trong một số tiết học sau đó hoặc những lớp trên. Nhưng nếu như phần Tiếng Việt ( Đề tài này đang bàn về thực hành Tiếng Việt), giáo viên chỉ cho HS làm các bài tập trong SGK thôi thì có cảm giác tất cả chỉ sợt qua một cách hời hợt, chưa đâu vào đâu cả. Vì vậy rất khó hình thành năng lực cho học sinh. Việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học của giáo viên bước đầu còn e dè, mang tính hình thức, chưa thực sự quyết liệt, chưa cuốn hút được học sinh. Chương trình dồn ép, lịch học dày đặc cả trực tiếp và trực tuyến trong suốt học kỳ I. Học sinh không kịp trở tay, nhiều em tỏ ra mệt mỏi. 3. Vận dụng đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học phần Thực hành Tiếng Việt Ngữ Văn 6 3.1. Giải thích khái niệm: Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV 6
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học. Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Có rất nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học nhưng không có phương pháp, kĩ thuật dạy học nào là tuyệt đối. Vì vậy ngoài việc nắm vững các phương pháp, kĩ thuật dạy học thì giáo viên còn phải biết vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học đó sao cho phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của lớp học là một vấn đề rất đáng được quan tâm. 3.2. Cấu trúc một bài thực hành Tiếng Việt trong SGK Ngữ Văn 6 Trước khi bàn về đề tài: “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 ”.Người viết muốn trình bày thêm về cấu trúc một bài Thực hành Tiếng Việt ở SGK Ngữ Văn 6 mới để từ đó làm cơ sở cho việc đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học. Một bài thực hành Tiếng Việt trong SGK Ngữ Văn 6 mới có cấu trúc như sau: - Tri thức ngữ Văn cung cấp những tri thức cơ bản của toàn bài( chủ đề) trong đó có tri thức của phân môn Tiếng Việt. - Thực hành Tiếng Việt: Trong SGK Ngữ Văn 6 mới thông thường một tiết Thực hành Tiếng Việt học sinh phải thực hành từ 3-4 dạng bài thuộc các đơn vị kiến thức khác nhau. Chẳng hạn Bài 1 SGK Ngữ Văn 6 tập 1 có 2 tiết thực hành. Tiết 1 nằm sau văn bản : Bài học đường đời đầu tiên- tác giả Tô Hoài. Sách yêu cầu HS thực hành các bài tập liên quan đến 3 đơn vị kiến thức gồm: 1. Từ đơn, từ phức, từ ghép từ láy 2. Nghĩa của từ 3. Biện pháp tu từ ( So sánh) Trong 3 phần trên thì chỉ có phần 1:Từ đơn, từ phức, từ ghép từ láy là có chốt kiến thức và có cung cấp kiến thức trong phần tri thức Ngữ Văn. Còn hai phần còn lại không hề cung cấp kiến thức trong phần tri thức Ngữ Văn cũng như không chốt kiến thức trong bài. Tương tự như vậy ở tiết thực hành thứ 2, sau văn bản: Nếu cậu muốn có một người bạn. Sách yêu cầu HS thực hành các bài tập liên quan đến 3 đơn vị kiến thức gồm: 1.Nghĩa của từ 2.Biện pháp tu từ ( So sánh) 3.Từ ghép từ láy. Ở tiết thực hành Tiếng Việt này, lần thứ 2 HS thực hành các bài tập liên quan đến biện pháp tu từ so sánh và nghĩa của từ. Nhưng SGK Ngữ Văn 6 mới không cung cấp kiến thức 7
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 trong phần tri thức ngữ Văn về các đơn vị kiến thức 1,2 ở trên và cũng không chốt kiến thức. Ở các tiết thực hành Tiếng Việt trong các tiết sau đó liên quan đến biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa cũng được thiết kế như vây. Điều này là một điều hết sức gây khó cho người học và một bộ phận không nhỏ giáo viên chưa có kiến thức nền vững chắc về Tiếng Việt khiến một bộ phận giáo viên phải dùng phương pháp kẹp thêm một cuốn SGK Ngữ Văn 6 cũ để cung cấp kiến thức làm phương tiện cho HS nhận biết và giải các bài thực hành Tiếng Việt của SGK mới. 3.3. Đề xuất cấu trúc một bài dạy thực hành Tiếng Việt trên lớp của giáo viên. I. Khởi động. II, Tri thức Ngữ Văn ( liên quan đến phần Tiếng Việt) III.Hình thành kiến thức.( Thông qua các bài tập thực hành trong SGK mới và GV có thể cung cấp thêm hay thay đổi ngữ liệu phù hợp để hình thành kiến thức lý thuyết cho HS) IV. Luyện tập: Làm bài tập thêm (Chủ yếu dạng bài tập nhận biết, thông hiểu) hoặc trong sách bài tập Ngữ Văn 6 V. Vận dụng:Vận dụng kiến thức đã học để đặt câu, dựng đoạn. 3.4. Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới khi dạy phần Thực hành Tiếng Việt trong SGK Ngữ Văn 6. Như trên đã nói, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, “ là chìa khóa mở ra chốn lao tù” (Buổi học cuối cùng, An-phông-xơ Đô- đê). Trong Ngữ Văn, Tiếng Việt là phương tiện để nhà văn nhà thơ gửi gắm các thông điệp của mình tới độc giả qua hệ thống ngôn từ, các phương tiện, biện pháp tu từ đặc sắc. Ngôn ngữ cũng là phương tiện giúp người đọc, người viết thể hiện những hiểu biết và cảm nhận, cách giải mã của mình về những thông điệp mà tác phẩm văn học gửi gắm... Nếu học tốt Tiếng Việt sẽ giúp ta có vốn từ phong phú, sử dụng vốn từ đó một cách linh hoạt uyển chuyển, mềm dẻo và sáng tạo để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp cũng như trong học tập, viết văn,làm thơ. Phạm vi thực hành Tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn 6 rất rộng nên trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ bàn đến một phần rất quan trọng mà phần này liên quan đến các câu hỏi phần Đọc- hiểu trong tất cả các kỳ thi của HS trong toàn cấp . Đồng thời đây cũng là phương tiện cần thiết để các em cảm thụ văn chương. Đó chính là các biện pháp tu từ từ vựng như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ... 3.4.1.Trước khi bàn về : Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới khi dạy phần Thực hành Tiếng Việt trong SGK Ngữ Văn 6.Người viết muốn bàn thêm về các kĩ thuật dạy học để hình thành kiến thức nền thật vững chắc. Việc này hoàn toàn không phải là lối dạy hàn lâm sách vở . Dĩ nhiên không phải hình thành kiến thức lý thuyết rồi bắt các em học thuộc lòng như ngày xưa mà chủ yếu làm phương tiện để các em thực hành hiệu 8
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 quả. Sau đó làm làm tốt phần thi đọc- hiểu trong đề thi và cảm nhận thơ văn Trước hết là biện pháp tu từ so sánh. Theo cuốn sách 99 phương tiện và biện pháp tu từ của Đinh Trọng Lạc và SGK Ngữ Văn cũ có nêu rõ: - So sánh là đối chiếu giữa sự vật này với sự vật khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt - Có các 2 loại so sánh sau: So sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng - Lưu ý: Một phép so sánh có cấu tạo đầy đủ là: Vế A ( Sự vật được so sánh), Từ ngữ so sánh( Như , là, hơn, chẳng bằng...) Phương diện so sánh , vế B( Sự vật dùng để so sánh). VD: Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận( Phép so sánh có cấu tạo đầy đủ. Tuy nhiên trong thực tế các tác phẩm Văn, thơ cũng như ngữ liệu thi cử thì một phép so sánh không phải khi nào cũng đầy đủ các phần và theo cấu tạo như trên, có thể lược bớt hoặc thay đổi vị trí... VD: Trường Sơn chí lớn ông cha Cửu Long lòng mẹ bao la sóng trào. Trong trường hợp này, vế B đảo lên trước vế A và không có từ so sánh.Nếu khi dạy GV bỏ qua không nói cho HS biết những điều trên thì khi cảm nhận thơ văn hoặc gặp ngữ liệu trong bài thi HS sẽ không nhận diện ra đồng nghĩa với việc các em sẽ không làm được bài. Mặt khác các ngữ liệu đưa ra trong bài thực hành Tiếng Việt cũng đơn điệu không đủ các kiểu loại so sánh như trong thực tế. VD : Bài tập 6 trong tiết thực hành Tiếng Việt trang 20 yêu cầu học sinh tìm biện pháp tu từ so sánh có trong văn bản: Bài học đường đời đầu tiên. Tuy trong văn bản này nhà văn Tô Hoài có sử dụng nhiều phép so sánh để miêu tả Dế Mèn và dế Choắt nhưng các phép so sánh này đều là so sánh ngang bằng và theo cấu trúc bình thường A như B chứ không có cấu trúc đặc biệt hoặc phép so sánh không ngang bằng. Nêu giáo viên không lưu ý thêm cho các em thì khi gặp đề thi các dạng trên các em sẽ không nhận diện và phân tích được. Tương tự như vậy ở tiết thực hành Tiếng Việt thứ 2 trang 26 thuộc bài 1: Chủ đề:Tôi và các bạn SGK Ngữ Văn 6 tập 1 có bài tập 3, SGK đưa ra VD có hình ảnh so sánh là: Còn bước chân của bạn sẽ gọi mình ra khỏi hang như là tiếng nhạc. Đây cũng là một phép so sánh ngang bằng có cấu tạo bình thường. Đến trang 44 có bài tập thực hành so sánh tiếp nhưng các ngữ liệu trong bài tập vẫn nằm trong tình trạng trên. Điều này dẫn đến một hệ quả là: Khi gặp để có thi có ngữ liệu so sánh có cấu trúc khác hay phép so sánh không ngang bằng học sinh sẽ không nhận diện ra, không làm được. Vì vậy giải pháp đặt ra là: GV cần bổ sung ngữ liệu về các phép so sánh không ngang bằng và phép so sánh có cấu tạo đặc biệt vào cho HS thực hành và chốt lưu ý cho học sinh. 9
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 Tương tự như vậy, đến biện pháp tu từ ẩn dụ cũng thế. Phần tri thức Ngữ Văn SGK có cung cấp tri thức về Ẩn dụ trang 39 ở bài 2: chủ đề: Gõ cữa trái tim.Trong phần thực hành Tiếng Việt sách có đưa ra 2 bài tập liên quan đến phép tu từ ẩn dụ phẩm chất và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Trong câu: “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi, mặt trời của mẹ em nằm trên lưng” và câu: “Cha lại dắt con đi trên cát, ánh nắng chảy đầy vai”. Thực tế phép tu từ ẩn dụ còn có 2 loại nữa là ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức. Ví dụ: Về thăm quê Bác làng Sen, thấy hàng râm bụt thắp lên lửa hồng. Mặc dù trong SGK Ngữ Văn 6 cũ phần các loại ẩn dụ giảm tải. Nghĩa là GV không đi sâu vào nội dung này những trong văn thơ cũng như trong các ngữ liệu đề thi vẫn có xuất hiện những laoij ẩn dụ này. Vì vậy khi dạy GV cũng cần nói sơ qua để các em nhận biết khi gặp trong đề thi hay cảm nhận thơ văn. Với cấu trúc bài dạy trên lớp như đã nêu ở trên sẽ bảo đảm yêu cầu của môn học là tăng thực hành và học sinh được thực hành Tiếng việt ở cả 3 mức độ: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Mặt khác Ở mục III Hình thành kiến thức, giáo viên nhất thiết phải chốt kiến thức lý thuyết cho học sinh để các em có căn cứ làm thực hành tốt hơn. Vì nếu không chốt thì học sinh học xong vẫn mơ hồ. Tuy sách ngữ Văn 6 phần Tiếng Việt Không chú trọng lý thuyết. Thực tế dù giáo viên không yêu cầu học thuộc lý thuyết nhưng các em phải biết, phải được nhắc lại để định hướng thực hành. Tuy nhiên để là được điều trên, giáo viên cần có sự đầu tư hơn trong việc soạn bài, chọn lọc ngữ liệu thực hành toàn diện và phù hợp hơn để hình thành lý thuyết cho học sinh. Bởi theo quan niệm mới SGK không phải là pháp lệnh mà là một tài liệu tham khảo. Cho nên những ngữ liệu SGK đưa ra chưa toàn diện, giáo viên có thể mạnh dạn bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. 3.4.2.Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới trong dạy học phần Thực hành Tiếng Việt trong SGK Ngữ Văn 6. 3.4.2.1. Vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi. So với tiết dạy đọc- hiểu văn bản thì tiết thực hành Tiếng Việt thường khô khan dễ gây nhàm chán cho học sinh. Vậy nên việc lựa chọn sử dụng tổ chức trò chơi làm phương pháp dạy học thực hành Tiếng Việt là một việc nên làm. Phương pháp tổ chức trò chơi là phương pháp dạy học mà giáo viên sẽ tổ chức cho các em học sinh tìm hiểu về một vấn đề nào đó thông qua chơi trò chơi giúp tăng sự kích thích, hứng thú tìm hiểu vấn đề của học sinh. . Dạy học dựa trên trò chơi là một phương pháp gây nhiều hứng thú cho người học nhưng đòi hỏi tính sáng tạo cao của người dạy. Để có thể vận dụng tối ưu phương pháp này cần phân biệt các mức độ sử dụng trò chơi trong dạy học và đáp ứng các yêu cầu của việc tổ chức thực hiện phương pháp. 10
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 Các mức độ sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học • Mức độ 1 - sử dụng trò chơi trước khi học: Giáo viên tổ chức cho người học chơi để kích hoạt không khí lớp học, tạo sự hưng phấn cho học sinh trước khi học tập. Mức độ 2 - sử dụng trò chơi như một hình thức học tập: Giáo viên tổ chức trò chơi để người học tiếp nhận nội dung một cách sinh động, hào hứng. Ví dụ: Khi dạy bài Cụm danh từ, cụm động từ, giáo viên chia lớp thành 2 dãy tham gia trò chơi “đố vui để học” bằng cách yêu cầu HS một dãy lần lượt nêu danh từ để HS dãy còn lại biến đổi sang cụm danh từ... • Mức độ 3 – sử dụng trò chơi như một nội dung học tập: Giáo viên tổ chức chơi để người học trải nghiệm tình huống trong lúc chơi, từ đó người học tự khám phá nội dung học tập Với học sinh THCS có thể vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi ở mức độ 1 là sử dụng trò chơi trước khi học:để kích hoạt không khí lớp học, tạo sự hưng phấn cho học sinh trước khi học tập. Và mức độ 2 - sử dụng trò chơi như một hình thức học tập: Giáo viên tổ chức trò chơi để người học tiếp nhận nội dung một cách sinh động, hào hứng. Kết luận “Học mà chơi – Chơi mà học” là một phương châm được đề cao trong hoạt động dạy học do có tác dụng khơi dậy nhiều hứng thú cho người dạy lẫn người học đồng thời tạo ấn tượng sâu sắc về bài học, giúp việc học nhẹ nhàng mà hiệu quả. Trò chơi trong dạy học có nhiều cấp độ từ việc chơi cho vui trước khi học, đến việc học dưới hình thức trò chơi và đến mức độ cao hơn là học tập từ trò chơi.Những nỗ lực sử dụng trò chơi trong dạy học không chỉ khẳng định tính khoa học và nghệ thuật của hoạt động dạy học mà còn chứng tỏ tinh thần đam mê nghề nghiệp của giáo viên. Từ đó làm tăng hứng thú, động cơ học tập của học sinh và góp phần nâng chất lượng giờ dạy. . Tuy vậy cách tổ chức trò chơi phải bảo đảm tính văn hóa, không nên có những thao tác chơi gây phản cảm, thiếu văn hóa trong lớp học, ở nhà trường; Không lạm dụng phương pháp: Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu nhược điểm, không có tính vạn năng. Việc sử dụng phương pháp phải phù hợp với nội dung học tập, đặc điểm đối tượng, mục đích dạy học Sự lạm dụng phương pháp tổ chức trò chơi sẽ gây nhàm chán, thậm chí phản tác dụng. 3.4.2.2.Vận dụng phương pháp thảo luận cặp đôi cho phần hình thành kiến thức với những đơn vị kiến thức nhẹ nhàng Thảo luận cặp đôi là là một kỹ thuật Frank Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981. Kỹ thuật này giới thiệu làm việc nhóm đôi, phát huy năng lực cá nhân trong giải quyết vấn đề Uu điểm của hoạt động cặp - nhóm là tăng tối đa thời lượng hoạt động của HS trên lớp. 11
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 Khi làm việc cặp nhóm HS được trao đổi với nhau.Chiến thuật này cho phép những học sinh rụt rè, nhút nhát có cơ hội tham gia và đưa ra câu trả lời.Xây dựng kỹ năng giao tiếp và diễn đạt nói.Cải thiện kĩ năng đọc hiểu tài liệu.Giúp giáo viên thực hiện được các chiến lược dạy học phân hóa. Kỹ thuật nhóm cặp đôi tạo ra bầu không khí học thoải mái nhưng hiệu quả bởi thay thay bằng một mình phải trình bày trước lớp, học sinh cảm thấy bớt lo lắng, hồi hộp, và tham gia hoạt động cặp nhóm tích cực, hiệu quả hơn. Hơn nữa hoạt động cặp nhóm giúp HS hay xấu hổ, kém tự tin những người mà hầu như chưa bao giờ nói trước tập thể trao đổi kiến thức cho nhau, chữa lỗi cho nhau. Trong lớp có 30-40 HS hoạt động riêng rẽ trên lớp sẽ tạo bức bình phong cho các em học yếu ẩn mình. Còn hoạt động cặp nhóm HS không thể trốn tránh được nhiệm vụ.Chiến thuật này cũng giúp những học sinh kém hơn có thể học hỏi từ chính các bạn của mình thông qua việc trao đổi và lắng nghe tích cực. Khi tổ chức cho HS học tập cặp đôi, GV cần chú ý sắp xếp chỗ ngồi của các cặp đôi xen kẽ những HS có các khả năng khác nhau để chính họ có thể giúp đỡ lẫn nhau trong việc luyện tập. Mặt khác hoạt động cặp đôi còn là bước đệm để GV hướng dẫn HS tự học. 3.4.2.3.Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm kết hợp với kĩ thuật khăn trải bàn cho phần hình thành kiến thức với những nhiệm vụ phức tạp hơn Thảo luận nhóm là hình thức tổ chức cho người học trao đổi, tranh luận các vấn đề học tập, để tự rút ra được các kết luận theo yêu cầu bài học. Thảo luận nhóm nhằm mục đích mở rộng và nâng cao nhận thức vấn đề. Hình thành quá trình trao đổi kiến thức và tư tưởng chủ động giữa GV và HS.Hình thành thái độ phê phán trong học tập.Hình thành và phát triển năng lực giải thích, bảo vệ ý kiến, lập trường, quan điểm của HS.Học cách thức làm việc chung, chấp nhận ý kiến của nhau và đi đến thống nhất.Kích thích phát triển tư duy sáng tạo. Một số lưu ý để thảo luận nhóm có hiệu quả. Tạo bầu không khí thuận lợi Theo nhiều nghiên cứu khoa học nhận định môi trường học tập có thể ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, thái độ và hành vi, động cơ học tập của HS. Vì vậy, khi tiến hành thảo luận giáo viên cần chủ động tạo bầu không khí thoải mái như : Đảm bảo công bằng và dân chủ giữa các nhóm viên, chấp nhận ý kiến lẫn nhau giữa các nhóm viên.Nhóm viên có hứng thú, thu nhận nhiều thông tin.Tuân thủ thời gian thảo luận theo quy định.Kết hợp với một số nguyên tắc vui (bài hát khởi đầu, điểm cộng và quà tặng cho nhóm được đánh giá tốt nhất, ).Tạo không khí chia sẻ thông tin và cạnh tranh lành mạnh. 12
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 Kỹ năng đặt câu hỏi.Những cuộc thảo luận đạt được hiệu quả cao là dựa vào các câu hỏi có tư duy. Giáo viên cần đặt câu hỏi để gợi ý và kiểm tra nhận thức, bổ sung kiến thức của HS.Các câu hỏi thường được thiết kế theo trình tự hợp lý từ thấp đến cao, từ cơ bản đến gợi mở kích thích sự sáng tạo và nghiên cứu của HS. Các câu hỏi thường đi từ mức độ: Nhận biết - thông hiểu - vận dụng. Kĩ năng đánh giá: Đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với HS và GV. Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên trong thảo luận giúp cung cấp kịp thời những thông tin "liên hệ ngược" giúp người học và người dạy điều chỉnh hoạt động nhận thức và giảng dạy. Đồng thời, cũng giúp học sinh năng cao năng lực nhận thức vấn đề, phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt, có tinh thần trách nhiệm trong hoạt động học tập, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính tự mãn. Để hoạt động đánh giá tích cực và khách quan trong khi sử dụng phương pháp này giáo viên thường sử dụng phiếu bình luận hoặc ô đánh giá lẫn nhau sau khi kết thúc thảo luận nhằm khuyến khích mỗi học sinh tham gia trực tiếp vào buổi thảo luận và hạn chế việc kém tập trung khi các nhóm trình bày ý tưởng. 3.4.2.4. Kĩ thuật "Các mảnh ghép" Kĩ thuật "Các mảnh ghép"Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm: Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề).Kích thích sự tham gia tích cực của HS. Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2). Cách tiến hành kĩ thuật "Các mảnh ghép" VÒNG 1: Nhóm chuyên gia.Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người [số nhóm được chia = số chủ đề x n (n = 1,2, )]. Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ [Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, (có thể có nhóm cùng nhiệm vụ)].Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2. 13
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 • Kỹ thuật "Các mảnh ghép" VÒNG 2: Nhóm các mảnh ghép.Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 – 2 người từ nhóm 3 ). Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết.Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả Cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ có nhiều chủ đề.Khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh.Nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác (Mỗi cá nhân không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2) . Dụng cụ: Chuẩn bị giấy bút cho các thành viên. Thực hiện:Phân học sinh thành từng nhóm có nhóm trưởng. Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm.Các nhóm cùng thảo luận và rút ra kết quả, yêu cầu từng thành viên trong nhóm đều có khả năng trình bày kết quả. Mỗi nhóm sẽ tách ra và hình thành nhóm mới theo sơ đồ.Lần lượt từng thành viên trình bày kết quả thảo luận. Lưu ý:Các chủ đề đưa ra thảo luận cần chọn lọc đảm bảo có tính độc lập với nhau.Trước khi tách nhóm phải đảm bảo các thành viên đều có khả năng trình bày kết quả thảo luận ở bước thảo luận đầu tiên. Ưu điểm:Phát triển tinh thần làm việc theo nhóm.Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân. Giúp học sinh phát huy hiểu biết và giải quyết những hiểu biết lệch lạc.Giúp đào sâu kiến thức trong các lĩnh vực.Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinhTăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinhPhát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh 14
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 với nhau Ví dụ: Bài học thực hành tiếng Việt Lớp có 38 học sinh, có 19 bàn học. Giáo viên có thể chia thành 6 nhóm: mỗi nhóm gồm học sinh 2 bàn ghép lại (mỗi nhóm có 6 hoặc 7 học sinh). Giao nhiệm vụ: nhóm 1,2 nhận chủ đề A, nhóm 3,4 nhận chủ đề B, nhóm 5,6 nhận chủ đề C. Phát phiếu học tập cho học sinh. Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến 3. Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm - Vòng 1.Chủ đề A: Bài tập 1. Tìm từ đơn. Rút ra kết luận thế nào là từ đơn. Chủ đề B: Tìm từ phức, từ ghép. Rút ra kết luận thế nào là từ phức, từ ghép. Chủ đề C: Tìm từ láy. Rút ra kết luận thế nào là từ láy. - Vòng 2: Giáo viên thông báo chia thành 9 nhóm mới : mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm có từ 4 đến 5 học sinh): nhóm 1,2,3 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1 nhóm 4,5,6 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 2; nhóm 7,8,9 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3. Sau khi Hs ghép xong nhóm vòng 2. Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới với nhiệm vụ: - Phân biệt từ đơn khác từ phức chỗ nào - Từ láy và từ ghép có gì giống và khác nhau Các chuyên gia sẽ trình bày ý kiến của của nhóm mình ở vòng 1. Sau đó nhóm mới sẽ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2 GV gọi một số nhóm trình bày kết quả thảo luận, các nhóm nhận xét, giáo viên chốt kiến thức 2. Kĩ thuật "Khăn trải bàn" Kĩ thuật "Khăn trải bàn"Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực. Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS. Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS Cách tiến hành kĩ thuật "Khăn trải bàn" 15
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 Dụng cụ: Bút và giấy khổ lớn cho mỗi nhóm. Thực hiện: Giáo viên chia nhóm, phân công nhóm trưởng, thư ký và giao dụng cụ. Giáo viên đưa ra vấn đề cho các nhòm, từng thành viên viết ý kiến của mình vào góc của tờ giấy.Nhóm trưởng và thư ký sẽ tổng hợp các ý kiến và lựa chọn những ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy. Lưu ý: Mỗi thành viên làm việc tại góc riêng của mình. Ưu điểm: Tăng cường tính độc lập và trách nhiệm của người học. 3.4.2.3.Vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới trong dạy học tiết 4 Thực hành Tiếng Việt - SGK Ngữ Văn 6. 16
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 Tiết 4. THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT I. MỤC TIÊU: (Dùng cho đối tượng học sinh khá, giỏi) 1. Năng lực a. Năng lực chung - Năng lực nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác... b. Năng lực riêng biệt - Nhận biết các kiểu cấu tạo từ của Tiếng Việt: Từ đơn, từ phức - Phân biệt được các loại từ láy. Chỉ ra được tác dụng của từ ghép, từ láy trong câu, đoạn văn. - Nhận biết được nghĩa của từ ngữ, hiểu được nghĩa của một số thành ngữ thông dụng, nhận biết và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong văn bản. 2. Phẩm chất - Có ý thức vận dụng kiến thức vào giao tiếp và tạo lập văn bản. - Có tình yêu và niềm tự hào về ngôn ngữ mẹ đẻ. II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1. Chuẩn bị của GV - Giáo án (W, PW). - Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi; - Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp; - Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà 2. Chuẩn bị của HS: SGK, SBT Ngữ văn 6 tập một, soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, vở ghi, v.v III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 17
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 A. HOẠT ĐỘNG MỞ ĐẦU a. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của mình. HS khắc sâu kiến thức nội dung bài học. HS giải quyết được những yêu cầu cơ bản mà giáo viên đề ra. b. Phương pháp/ kĩ thuật DH : trò chơi c. Hình thức tổ chức dạy học: Cả lớp d. Tổ chức thực hiện: - GV đặt câu hỏi: Câu 1: yêu cầu HS lần lượt lên bảng liệt kê những đồ dùng trong lớp học có đánh theo số các từ theo thứ tự 1,2,3... Câu 2: Cho biết xét về cấu tạo đó là những từ gì? - HS tiếp nhận nhiệm vụ, nghe và trả lời, nhận xét - GV dẫn dắt vào bài học mới B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC Hoạt động 1: Tìm hiểu lý thuyết Từ đơn và từ phức a) Mục tiêu: Giúp HS - Trình bày được thế nào là từ đơn, từ phức. - Phân biệt được từ đơn, từ phức, từ ghép và từ láy. - Phân biệt được các loại từ láy và tác dụng của từ láy b) Phương pháp kĩ thuật dạy học: Vấn đáp, thảo luận nhóm, kĩ thuật mãnh ghép, thảo luận cặp đôi. 18
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 c) Hình thức tổ chức DH: Nhóm, cặp đôi d) Tổ chức thực hiện HĐ của thầy và trò Sản phẩm dự kiến B1: Chuyển giao nhiệm vụ (GV) Bài tập 1: - Chia lớp thành 3 nhóm Dự kiến sản phẩm của HS trong vòng 1 - GV giao nhiệm vụ: Từ phức Vòng 1.Chủ đề A (nhóm 1): Bài Từ đơn Từ ghép Từ láy tập 1 ngữ liệu SGK trang. Tìm từ đơn. Rút ra kết luận thế nào là từ đơn. - Tôi, - Bóng - Hủn hoẳn, phành Phiếu học tập của HS mỡ, ưa phạch, Nghe, ( nhóm 1) Từ phức nhìn giòn giã, Tìm Từ người đơn rung rinh (Nhóm 2) (Nhóm 3) Khái niệm từ đơn và từ phức: Tìm từ Tìm từ ghép láy - Từ đơn do một tiếng tạo thành. - Từ phức do hai hay nhiều tiếng tạo thành. Từ phức được phân làm hai loại (từ ghép và từ láy). Thế nào Thế nào Thế nào là từ đơn là từ ghép là từ láy + Từ ghép là những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có nghĩa với nhau. Chủ đề B (nhóm 2): Bài tập 1 ngữ + Từ láy là những từ phức được tạo ra nhờ phép liệu SGK: Tìm từ phức, từ ghép. Rút ra kết luận thế nào là từ phức, 19
- VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ Kĩ THUẬT DẠY HỌC MỚI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT- NGỮ VĂN 6 từ ghép. láy âm Chủ đề C (nhóm 3): Bài tập 1Ngữ Bài tập 2 liệu SGK: Tìm từ láy. Rút ra kết luận thế nào là từ láy. Dự kiến sản phẩm vòng 2: Thời gian thảo luận 3 phút, trong Phân biệt sự khác nhau giữa từ đơn với từ quá trình học sinh thảo luận, GV đến các nhóm hướng dẫn, hỗ trợ phức: HS Từ đơn có 1 tiếng - Vòng 2: Sau khi các nhóm thảo luận có kết quả ở vòng 1,giáo viên Từ phức có từ 2 tiếng trở lên. thông báo thực hiện sang vòng 2,chia thành 9 nhóm mới : mỗi Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa từ nhóm 2 bàn (mỗi nhóm có từ 4 đến ghép với từ láy: 5 học sinh): nhóm 1,2,3 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số Giống: Đều là từ phức có 2 tiếng trở lên 1 nhóm 4,5,6 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 2; nhóm Khác: Từ ghép là những từ phức được tạo ra bằng 7,8,9 gồm các học sinh có phiếu cách ghép các tiếng có nghĩa với nhau. học tập mang số 3. Sau khi Hs ghép xong nhóm vòng 2. Giáo viên + Từ láy là những từ phức được tạo ra nhờ phép thông báo thời gian làm việc nhóm láy âm. mới với nhiệm vụ là 3 phút : Vòng 2: Phân biệt từ đơn khác từ Có 2 loại từ láy : phức chỗ nào? + Láy mô phỏng âm thanh: phành phạch Từ láy và từ ghép có gì giống và khác nhau. Các từ tìm thêm trong văn bản: phanh phách, Trong số các từ láy vừa tìm được ở ngoàm ngoạp, văng vẳng vòng 1, em thấy từ láy có mấy loại? Láy gợi tả hình ảnh:- Hủn hoẳn, rung rinh Đó là những loại nào? Tìm thêm một số từ láy thuộc mỗi loại trong Các từ tìm thêm trong văn bản: Lấm láp, dại dột, văn bản Bài học đường đời đầu 20

