SKKN Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học Hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học Hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_cac_loi_dien_dat_thuong_gap_trong_day_hoc_hoa_hoc_thcs.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học Hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục A)MỞ ĐẦU I) TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việc dạy học hóa học hiện nay cần phải đổi mới một cách toàn diện, kết hợp nhiều phương pháp để giúp học sinh đạt được những kiến thức cơ bản theo chuẩn kiến thức kĩ năng quy định để từ đó học sinh có thể tự mở rộng thêm cho mình. Người học được đặt vào vị trí trung tâm của việc dạy học, giáo viên là người hướng dẫn để học sinh tự tiếp cận kiến thức. Để phù hợp với từng đối tượng học sinh thì giáo viên cần linh hoạt đổi mới phương pháp hướng dẫn để học sinh có thể tự tìm ra kiến thức một cách đơn giản nhất. Nếu trong dạy học cứ cứng nhắc theo một giáo án nhất định thì sẽ đối tượng học sinh yếu kém khó đạt được như ý muốn. Vì vậy trong dạy học, cùng một vấn đề nhưng giáo viên có thể sử dụng cách diễn đạt khác nhau cho phù hợp. Hạn chế sử dụng các ngôn ngữ quá trừu tượng, cách diễn đạt khó hiểu dẫn đến học sinh không nhận thức được hoặc nhận thức sai. Việc sử dụng ngôn ngữ, cách lấy ví dụ minh họa hợp lí sẽ mang lại hiệu quả giảng dạy cao. Nhiều khi giáo viên không đặt mình vào vị trí người học nên cứ nhầm tưởng học sinh đã hiểu vì theo giáo viên vấn đề này rất đơn giản. Nhưng thực tế trong lớp học không phải học sinh nào cũng nhận thức đúng. Có thể số đông đã hiểu nhưng chúng ta cũng phải chú ý tới các đối tượng học sinh yếu kém. Nhiều lỗi diễn đạt của giáo viên rất vô tình, chính giáo viên cũng không nhận thức được nên với đề tài này tôi muốn tìm ra các lỗi vô tình để đồng nghiệp tham khảo và lưu ý. II) MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1) Mục đích nghiên cứu. Khi nghiên cứu đề tài “Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục” với mục đích đầu tiên là tích lũy những kinh nghiệm dần dần hoàn thiện bản thân đồng thời giới thiệu cho đồng nghiệp cùng tham khảo, nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học. Để làm được điều đó cần phải tham khảo ý kiến đồng nghiệp, tự tìm hiểu để có những kinh nghiệm cần thiết. Sau khi nghiên cứu có hệ thống sẽ viết thành những kinh nghiệm mấu chốt nhằm giúp các giờ dạy đảm bảo thành công, an toàn, tiết kiệm và có hiệu quả như mục tiêu đặt ra. Sau đó sẽ phổ biến cho học sinh và giới thiệu cho đồng nghiệp tham khảo, đóng góp ý kiến bổ sung, hoàn thiện đề tài nghiên cứu. Sau khi đã nhận được sự phản hồi, chỉnh sửa hiệu quả có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu cho học sinh yếu kém. Đồng thời thông qua việc nghiên cứu đề tài này cũng góp phần hình thành kĩ năng dạy học cho bản thân. 2) Nhiệm vụ nghiên cứu Với đề tài “Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục” cần thực hiện những nhiệm vụ sau: - Tổng hợp những vấn đề khó trong chương trình THCS và một số vấn đề tham khảo cần thiết phục vụ cho việc ôn thi học sinh giỏi học sinh các cấp; - Tích lũy các kinh nghiệm của bản thân và đồng nghiệp, phỏng vấn, tham khảo về các sai lầm mà đồng nghiệp đã mắc trong quá trình giảng dạy; - Nghiên cứu các vấn đề đã được lựa chọn để dự báo sai lầm có thể mắc phải, phân loại sai lầm của học sinh, giáo viên; 1
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục - Tự tìm ra các phương pháp diễn đạt dễ hiểu, dễ nhớ để học sinh học một lần nhưng có thể vận dụng mãi mãi; - Phổ biến kinh nghiệm tích lũy được cho học sinh, đồng nghiệp. III) KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1) Khách thể - Khách thể của nghiên cứu là học sinh khối 8, 9, giáo viên dạy hóa trường THCS năm học 2012 – 2013, 2013 – 2014: Thông qua các tiết dạy hóa, những lần kiểm tra miệng, mười lăm phút hay kiểm tra viết để tìm ra các sai lầm có thể mắc phải hoặc phỏng vấn đồng nghiệp. 2) Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm. Đồng thời tìm ra các giải pháp khắc phục và quan trọng hơn là để giáo viên đi đầu, đón trước để học sinh không đi theo đường mòn sai lầm. IV) GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu các giờ dạy giáo viên đều thực hiện tốt phương pháp đổi mới dạy học thì chắc chắn hiệu quả của các giờ dạy sẽ cao hơn. Không chỉ giúp học sinh dễ hiểu bài và còn nhớ lâu vì chính tự bản thân các em tự tìm ra kiến thức cho mình. Phương pháp này thực sự mang lại hiệu quả cao đối với những học sinh khá giỏi. Tuy nhiên với học sinh yếu kém thì hiệu quả mang lại không cao. Học sinh yếu kém hầu như chủ yếu ghi nhớ kiến thức trực tiếp giáo viên cho hoặc học sinh khá giỏi phát hiện ra. Khi đó họ tiếp thu một cách thụ động nên họ sẽ nhớ không được lâu và việc vận dụng sẽ hạn chế. Việc tìm ra cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu cho học sinh yếu kém rất quan trọng trong mỗi tiết dạy. Nếu trong giờ dạy giáo viên chỉ chú ý đến những học sinh khá giỏi thì càng ngày càng làm cho những học sinh yếu kém không còn yêu thích bộ môn, mất đi kiến thức căn bản, học sinh cảm thấy sợ khi đến giờ học hóa thậm chí ghét và sợ hãi luôn cả thầy cô dạy hóa. Nếu giáo viên dùng những câu từ trừu tượng mang tính khái quát hóa cao thì chắc chắn sẽ làm cho học sinh khó hiểu và sẽ hiểu nhầm, khi đó mục tiêu giờ dạy sẽ không đạt được. Để tiếp cận kiến thức mà học sinh phải tư duy lời giảng quá nhiều chắc chắn sẽ tạo ra cảm giác chán cho học sinh. Vì vậy mỗi người giáo viên phải không ngừng sáng tạo để tìm ra cách diễn đạt cho phù hợp với mọi đối tượng học sinh. Bên cạnh đó phải đặt mình vào vị trí các em để dự đoán các em hiểu vấn đề đến mức nào, dự báo những chỗ các em có thể hiểu sai. Sưu tầm kinh nghiệm qua các bài kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, bài 1 tiết và kinh nghiệm của các đồng nghiệp khi họ phát hiện các cách hiểu sai của học sinh. Nếu làm được như vậy thì chắc chắn mỗi giờ dạy giáo viên sẽ đạt được mục tiêu giờ học, làm cho học sinh hiểu bài nên có tinh thần say mê học tập, yêu thích bộ môn. V) PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để nghiên cứu tốt đề tài “Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục” tôi đã thực hiện các phương pháp nghiên cứu như sau: 2
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục 1) Thống kê các lỗi hiểu nhầm của học sinh do quá trình giảng dạy bản thân phát hiện ra; 2) Thống kê các lỗi hiểu nhầm của học sinh do các đồng nghiệp khác phát hiện được; 3) Dự báo những chỗ học sinh có thể hiểu nhầm và làm phép thử kiểm chứng; 4) Tìm hiểu thêm qua các tài liệu, qua mạng internet; 5) Dựa trên những sai lầm trên tìm ra nguyên nhân để từ đó đề ra biện pháp khắc phục và thử nghiệm để kiểm nghiệm phương pháp có mang lại hiệu quả không; 6) Tham khảo ý kiến đồng nghiệp và qua thử nghiệm thực tiễn để đi đến kết luận cuối cùng. So sánh kết quả cùng một vấn đề trước và sau khi thực hiện đề tài; 7) Phổ biến cho học sinh và đồng nghiệp cùng tham khảo. VI) Dàn ý công trình nghiên cứu 1) Tổng hợp các sai lầm thông qua các kinh nghiệm của đồng nghiệp khi kể về các sai lầm đã diễn ra của giáo viên cũng như của học sinh mà họ đã từng trực tiếp gặp hoặc đã trực tiếp chứng kiến hay nghe kể lại; 2) Nghiên cứu các vấn đề hơi khó trong chương trình để dự báo các sai lầm có thể mắc phải, phân loại sai lầm của giáo viên cũng như của học sinh; 3) Kết hợp giữa kinh nghiệm bản thân và tham khảo các ý kiến các đồng nghiệp để tìm ra các giải pháp khắc phục; 4) Thử nghiệm trên đối tợng học sinh trờng khối 8, 9 THCS và đối với bản thân về các giải pháp đã đề ra để tiếp tục bổ sung và khắc phục những hạn chế. 5) Mỗi lỗi sai lầm có dàn ý như sau: a) Mục tiêu; b) Sai lầm; c) Ví dụ sai lầm; d) Lỗi diễn đạt của giáo viên; e) Khắc phục. Trong sai lầm nêu rõ cụ thể từng ý một và trong phần nguyên nhân sẽ giải thích cụ thể, tỉ mỉ lí do mắc sai lầm và cách khắc phục có hiệu quả. VI) DỰ KIẾN KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU Năm học 2012 - 2013, 2013 - 2014 tiến hành thu thập, tích lũy các lỗi diễn đạt của giáo viên dẫn đến học sinh hiểu nhầm. Từ đó thử nêu phương án giải quyết dựa trên cơ sở nguyên nhân của sự hiểu nhầm, tranh thủ sự đóng góp của đồng nghiệp và học sinh. Năm học 2014 - 2015 sẽ tiến hành dạy thử nghiệm và đi đến kết luận cuối cùng. B) CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI I) Cơ sở lí luận 3
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục Với dạy học ngày nay, người học được đặt vào vị trí trung tâm nên giáo viên phải thường xuyên tự học để không ngừng đổi mới phương pháp để đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay. Giáo viên không phải thụ động truyền thụ kiến thức cho học sinh mà hướng dẫn để học sinh tự tìm ra và lĩnh hội kiến thức. Giáo viên không dạy kiến thức mà dạy cách học để học sinh ngoài việc học trên lớp còn phải tự học ở nhà qua nhiều kênh thông tin. Tuy nhiên có rất nhiều vấn đề khó giáo viên phải diễn giải cho học sinh hiểu. Với những vấn đề khó yêu cầu giáo viên có tính sư phạm cao. Thực tế có rất nhiều giáo viên giỏi kiến thức nhưng chưa chắc đã dạy giỏi, chất lượng học của học sinh không cao. Cùng một vấn đề có giáo viên dạy rất nhẹ nhàng, học sinh dễ hiểu và thích học nhưng lại có những giáo viên dạy rất trừu tượng, khó hiểu. Thậm chí có rất nhiều vấn đề khi ta hướng dẫn học sinh lại hiểu hoàn toàn sai ý của giáo viên. Nếu không phát hiện kịp thời sửa chữa sẽ tạo ra một hệ thống sai lầm cho học sinh. Vì vậy việc tìm ra phương pháp hướng dẫn thiết thực dễ hiểu là một yêu cầu quan trọng mà mỗi giáo viên cần thực hiện được, phải luôn đặt mình vào vị trí người học để hiểu được mức độ nhận thức của học sinh. Luôn thu nhận thông tin phản hồi việc dạy của mình qua nhiều kênh như kiểm tra, nói chuyện tâm sự cùng các em hay thông qua giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh hay cả chọn lọc cả dư luận xã hội. II) Cơ sở thực tiễn Trong thực tế dạy học của bản thân cũng như những kinh nghiệm mà các đồng nghiệp kể lại cho biết có rất nhiều vấn đề khi dạy học hóa học giáo viên diễn đạt học sinh đã hiểu nhầm. Sự hiểu nhầm làm cho học sinh hiểu sai bản chất của hóa học, sai lầm này kéo theo sai lầm kia để lâu ngày tạo thành một sai lầm có hệ thống. Sự sai lầm làm cho học sinh mất kiến thức cơ bản nên các bài kiểm tra chắc chắn bị điểm kém . Khi đó học sinh sẽ rất khó tiếp cận với những kiến thức mới khó hơn đồng thời giảm sút nghiêm trọng lòng yêu thích bộ môn, yêu thích khoa học. Vì vậy việc phát hiện những lỗi diễn đạt vô ý dẫn đến hiểu nhầm của học sinh và sửa chữa là một vấn đề cấp thiết góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả giảng dạy, học tập. C) NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU C1) Nội dung I) Nhầm lẫn giữa các khái niệm nguyên tử, nguyên tố hóa học, phân tử. Khi học về nguyên tử, nguyên tố hóa học và phân tử học sinh rất hay nhầm lẫn giữa các khái niệm này. Nhiều khi phân tử thì học sinh lại nói nguyên tử hoặc ngược lại, nhiều khi nguyên tố hóa học thì học sinh lại nói thành nguyên tử. Nên khi có các bài tập liên quan học sinh rất lưỡng lự mất thời gian, không tự khẳng đinh kết quả của mình. Thậm chí có nhiều giáo viên đôi lúc do thiếu chú ý hoặc nói nhanh quá cũng dẫn đến nhầm lẫn các khái niệm 1) Mục tiêu Khi dạy về vấn đề nguyên tử, nguyên tố hóa học, phân tử học sinh phải phân biệt được các khái niệm và vận dụng chúng, ở mức cao hơn làm cơ sở để tính toán xác định công thức, áp dụng cân bằng phương trình, tính theo bảo toàn khối lượng và bảo toàn nguyên tố. 2) Sai lầm 4
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục - Không phân biệt được 3 khái niệm trên nên nhầm lẫn, nguyên tố lại nói thành nguyên tử hoặc nguyên tố lại nói thành phân tử. Không vận dụng được hoặc vận dụng không chắc chắn. 3) Ví dụ sai lầm. Ví dụ trong công thức H 2O học sinh nói trong phân tử nước ( H 2O) có một phân tử Hidro ( H2) do học sinh nhầm công thức phân tử của Hidro H 2. Hoặc ví dụ viết 5 Cu học sinh nói có 5 nguyên tố đồng. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên - Giáo viên chỉ cho học sinh biết khái niệm và lấy ví dụ để biết đó là nguyên tử, phân tử hay nguyên tố hóa học chứ chưa tìm ra cách ghi nhớ đơn giản, dấu hiệu đặc trưng nhất để ghi nhớ. Chưa so sánh để học sinh thấy được sự khác biệt giữa các khái niệm này, chưa dự báo những vấn đề vướng mắc để lưu ý trước cho học sinh; - Chưa ra được các bài tập để học sinh vận dụng để từ đó có thể phát hiện những học sinh còn hiểu nhầm. 5) Khắc phục - Khi dạy xong cả 3 vấn đề trên cần nêu được kết luận ghi nhớ đơn giản, dấu hiệu đặc trưng nhất để học sinh ghi nhớ: Nguyên tố hóa học gồm tập hợp những nguyên tử cùng loại ( có cùng số proton trong hạt nhân); một nguyên tố hóa học có nhiều nguyên tử. Phân tử của đơn chất ( chỉ gồm một nguyên tố hóa học) kim loại và phi kim rắn ( trừ Iốt) thì công thức hóa học chính là kí hiệu hóa học. Còn công thức hóa học hay phân tử của đơn chất phi kim khí và lỏng có dạng X 2 – tức là phân tử gồm hai nguyên tử tạo nên. Với học sinh lớp 8 cho học sinh đánh dấu những phi kim mà đơn chất có dạng công thức hóa học là một phân tử ( X 2) vào trong bảng 1 trang 42 sách giáo khoa luôn; - Chú ý ta không thể nói có nhiều một nguyên tố nào đó, ví dụ có hai nguyên tố đồng chắc chắn sai, chỉ nói có một nguyên tố đồng, còn nói có nhiều nguyên tử đồng lại đúng; - Khi nào thấy công thức một chất nào đó có nhiều nguyên tố tạo nên hoặc chỉ có một nguyên tố nhưng chỉ số lớn hơn 1 thì chắc chắc ta phải gọi phân tử. Số nguyên tử mỗi loại chính là chỉ số tương ứng với nguyên tố; - Sau khi dạy xong 3 vấn đề cần lấy ví dụ phân tích để học sinh phân biệt được 3 khái niệm trên. Ví dụ giáo viên nên lấy đa dạng cả đơn chất kim loại, phi kim, hợp chất, có thể lấy thêm dạng tổng quát. Sau đó cho học sinh tự lấy ví dụ để phân biệt, nếu học sinh lấy được và phân biệt được các khái niệm qua các ví dụ đó chắc chắn học sinh hiểu bài. II) Nhầm lẫn khi viết công thức hóa học của hợp chất khi biết hóa trị 1) Mục tiêu Học sinh phải viết đúng công thức hóa học khi biết hóa trị của nguyên tố trong hợp chất. Học sinh phải nhẩm thật nhanh công thức khi biết hóa trị cụ thể và viết được công thức khi cho hóa trị dạng tham số, đồng thời học sinh cũng nhẩm nhanh để phát hiện ra công thức hóa học sai. 2) Sai lầm 5
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục - Viết sai công thức khi biết hóa trị, không phát hiện ra công thức sai. Không biết tính nhẩm nên rất mất thời gian. Hoặc không biết lập công thức khi biết hóa trị dạng tổng quát, nhất là công thức có chứa nhóm nguyên tử. Có công thức tổng quát không tự tìm ra được biểu thức liên hệ hóa trị các nguyên tố trong hợp chất. 3) Ví dụ sai lầm. - Học sinh không viết đúng công thức của oxit, muối, bazơ .Ví dụ học sinh viết Ca2O2; C4O2 .. - Đề bài yêu cầu lập công thức hidroxit của sắt học sinh không biết lập ỏ dạng tổng quát là Fe(OH)x với x là hóa trị của Fe; - Từ công thức Fe 3O4 học sinh rất lúng túng khi xác định hóa trị của sắt trong hợp chất này nên khi viết phương trình Fe3O4 + HCl học sinh không biết viết như thế nào 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên - Khi dạy giáo viên chỉ lấy ví dụ hóa trị của 2 nguyên tố trong hợp chất là dạng các cặp số nguyên tố nên học sinh nhầm lẫn khi quy nạp hóa trị của nguyên tố này là chỉ số của nguyên tố kia. Nên khi viết công thức chỉ cần đảo hóa trị và viết thành chỉ số là được. Ví dụ khi dạy giáo viên lấy ví dụ Al 2O3, AlCl3, Cu(OH)2 nên sau khi học xong học sinh viết luôn Ca2O2. Lỗi này hay nhầm với những học sinh trung bình, yếu hoặc kém. - Chưa hướng dẫn kĩ học sinh cách tìm bội chung nhỏ nhất hoặc cách rút gọn đưa về phân số tối giản bằng cách tính nhẩm. Ví dụ công thức hợp chất tạo nên từ hai nguyên tố oxi (II) và lưu huỳnh (VI) mà do không biết cách rút gọn nên viết thành S2O6 vì không biết tìm BCNN của 2 và 6. - Khi dạy giáo viên đưa ra quá nhiều cách hướng dẫn nên học sinh nhớ lộn, chắp nối, không chắc chắn dẫn đến khi vận dụng bị nhầm lẫn. 5) Khắc phục - Khi dạy giáo viên nên lấy ví dụ đa dạng đầy đủ các trường hợp để học sinh không quy nạp nhầm. Ngoài ví dụ trường hợp hóa trị là các số nguyên tố cùng nhau thì nên lấy trường hợp cùng hóa trị hoặc hóa trị có thể rút gọn cho nhau. - Hướng dẫn cho học sinh yếu cách tìm BCNN ( bội cung nhỏ nhất ) và cách rút gọn đưa về phân số tối giản. Khi dạy nên hướng dẫn học sinh cách tìm BCNN rồi lấy BCNN chia chó hóa trị tìm được chỉ số tương ứng là hay nhất. Nhiều giáo viên phân ra nhiều trường hợp rườm rà gây nhiễu cho học sinh. Thực tế tôi đã gặp giáo viên khi dạy đã phân thành 3 trường hợp HS rất khó nhớ. Trường hợp 1 là nếu hóa trị là các số nguyên tố cùng nhau thì hóa trị nguyên tố này là chỉ số của nguyên tố kia. Trường hợp 2 nếu hóa trị bằng nhau thì chỉ số 1:1. Trường hợp 3 nếu hóa trị rút gọn được thì đưa về phân số tối giản sẽ tìm được chỉ số. Chỉ cần dùng cách tìm BCNN là áp dụng được cho mọi trường hợp và có thể nhẩm rất nhanh, chính xác; - Hướng dẫn học sinh thống nhất ghi nhớ một bài ca hóa trị duy nhất, chung cho cả lớp để khi học sinh quên giáo viên dễ nhắc lại. Thực tế tôi thấy có giáo viên tải trên mạng internet một loạt bài ca hóa trị đưa cho học sinh nên không mang lại hiệu quả. Bài nào học sinh cũng chỉ ghi nhớ được một đoạn, nếu học sinh quên cũng không biết dùng bài nào để gợi lại cho học sinh. 6
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục III) Cân bằng phương trình mà học sinh lại thêm chỉ số 1) Mục tiêu - Học sinh nhẩm và cân bằng phương trình một cách chính xác, với mức cao hơn học sinh cân bằng phương trình chứa ẩn số, cân bằng phản ứng oxi hóa khử. 2) Sai lầm - Khi cân bằng phương trình học sinh thêm chỉ số nhưng không thêm hệ số. Hoặc thêm tùy tiện cả chỉ số và hệ số, thêm vào chỗ nào tùy thích miễn sao số nguyên tử mỗi nguyên tố ở hai về bằng nhau là được. Sai lầm này rất hay gặp học sinh lớp 8 và thậm chí ở lớp 9 cũng rất nhiều. 3) Ví dụ sai lầm - Khi cân bằng phương trình: Al 2O3 +HCl ----> AlCl3 + H2O. Học sinh đã làm như sau: Al2O3 +H2Cl3 ----> Al2Cl3 + H2O3. Ta thấy học sinh thêm toàn chỉ số, dẫn đến sai quy tắc hóa trị, sai quy tắc cân bằng phương trình. - Với phương trình FexOy + CO ----> Fe + CO2 học sinh thêm như sau: Fe xOy + CyO ----> xFe + CyO2. Và rất nhiều trường hợp khác nữa. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên - Hướng dẫn học sinh cách cân bằng nhưng chưa phân biệt được cho học sinh hiểu thế nào là chỉ số, thế nào là hệ số nên học sinh hiểu nhầm muốn thêm số vào đâu cũng được miễn là thấy số nguyên tử mỗi nguyên tố ở hai về bằng nhau. - Chưa lấy ví dụ sai lầm để chỉ cho học sinh, để các em không mắc lỗi đó nữa 5) Khắc phục. - Số nguyên tử mỗi nguyên tố ở hai vế của phương trình luôn bằng nhau nên cần nói thêm một phương trình đầy đủ gồm hai vế: Nơi mũi tên xuất phát là các chất tham gia, nơi mũi tên chỉ đến là sản phẩm. Có thể nhắc lại các khái niệm nguyên tử, nguyên tố hóa học. Nhắc thêm quy tắc hóa trị khi lập công thức hóa học. - Nhắc nhở học sinh khi cần bằng: Chỉ được thêm hệ số, là những số ở trước công thức hóa học, viết ngang hàng với công thức hóa học chứ không được thêm chỉ số. Hệ số phải nằm trược công thức hóa học chứ không phải nằm giữa công thức hóa học. - Trong quá trình hướng dẫn cân bằng nên lấy một vài ví dụ về cách cân bằng sai để học sinh tránh được các lỗi đó. Nhắc nhở học sinh sau khi cân bằng cần kiểm tra lại. - Hướng dẫn học sinh các cách cân bằng phương trình cơ bản. IV) Sai lầm khi tính toán theo phương trình mà khối lượng chất đề bài cho không phải là gam 1) Mục tiêu - Học sinh vận dụng được quy tắc tam suất để lập luận theo khối lượng chứ không nhất thiết phải đổi ra số mol để tính theo phương trình. 2) Sai lầm Học sinh đổi ra số mol sai do không biết đổi các đơn vị ra khối lượng khác ra gam để tính số mol. Một số học sinh đổi được nhưng số mol quá lớn ( liên quan đến số mũ) nên khi tính toán sai, tính toán dài dòng gây phức tạp vấn đề. Học sinh chưa nắm 7
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục chắc phần số mũ nên bấm máy cho kết quả nhưng học sinh không thể tự kiểm chứng đúng hay sai. 3) Ví dụ sai lầm Với bài toán tính khối lượng vôi sống ( CaO) tạo ra khi nhiệt phân hoàn toàn 100 tấn đã vôi ( CaCO 3) học sinh tính số mol CaCO 3 = 100:100 = 1mol mà không biết đây là 100 tấn chứ không phải 100 gam. Một số học sinh đổi tấn ra gam sai do không nhớ quy tắc đổi. Một số em đổi ra nhưng khi chia tính số mol máy hiện số mũ dưới dạng 1.106 nên hơi lúng túng. Khi tính số mol sai thì chắc chắn tính theo phương trình sẽ sai. Các bài toán liên quan đến thực tế sản xuất như sản xuất gang, thép, nhôm, ancol etylic học sinh cũng rất hay sai do đề bài cho khối lượng lớn, đôi khi lại kèm thêm cả hiệu suất phản ứng nên học sinh rất lúng túng. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên - Khi vận dụng công thức số mol không nhắc lại cho học sinh cách quy đổi các đơn vị khối lượng khác ra gam. - Không hướng dẫn kĩ hơn quy tắc tam suất, học sinh chỉ nhất nhất áp dụng cách lập luận theo số mol. 5) Khắc phục. - Nhắc lại kiến thức toán học liên quan; - Khi dạy nên lấy ví dụ để chỉ ra chỗ các em có thể sai; - Hướng dẫn cách lập luận theo khối lượng: Ta lập luận thành 2 dòng, dòng 1 là hệ số nhân với khối lượng mol tương ứng, dòng 2 là khối lượng đề bài cho nếu chưa cho ta đặt ẩn và tính theo quy tắc đường chéo. Sau khi học sinh áp dụng nhuần nhuyễn ta tiếp tục học sinh cách tính nhẩm giống như cách tính theo số mol. Thực tế giảng dạy tôi chỉ cho học sinh ghi phương trình một lần và kí hiệu phương trình rồi vận dụng phương trình đó tính toán cho nhiều ý trong bài chứ không để học sinh viết đi viết lại phương trình nhiều lần. V) Sai lầm khi tính toán theo phương trình mà đề bài cho thể tích các chất khí đo cùng điều kiện nhưng không cho điều kiện nào. 1) Mục tiêu - Học sinh vận dụng quy tắc tam suất thể tích để tính chứ không nhất thiết đưa về số mol để tính. 2) Sai lầm Mặc dầu đề bài không cho điều kiện nào nhưng khi tính học sinh vẫn đưa về cách tính số mol ở điều kiện tiêu chuẩn (hoặc điều kiện thường) để tính. Với những bài mà thể tích chia hết cho 22,4 ( hoặc 24) thì kết quả đúng còn những bài chia không hết thì kết quả cho sai số lớn và mất đi tính tổng quát của bài toán. 3) Ví dụ sai lầm Với bài toán: Để đốt cháy hết 15 lít H 2 thì cần mấy lít O2 đo cùng điều kiện nhiệt độ áp suất. Học sinh tính số mol H 2, viết phương trình rồi tính theo số mol để suy ra thể tích oxi cần dùng. Vì 15 chia không hết cho 22,4 nên sai số rất lớn. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên. - Khi dạy chưa lưu ý cách tính theo thể tích hoặc lưu ý dạng bài chất khí khi cho các chất khí đo cùng điều kiện nhiệt độ áp suất; 8
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục - Một số bài mặc dầu cho rõ điều kiện nào để có thể chuyển về số mol nhưng nếu lập luận theo thể tích nhanh hơn ta cũng áp dụng ngay được. 5) Khắc phục. - Khi dạy cần lưu ý cho học sinh nếu họ cho chất khí đo cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất thì ta không nên đưa về điều kiện tiêu chuẩn hay điều kiện thường để tính mà ta lập luận theo thể tích mới đúng tính tính tổng quát - Cách lập luận theo thể tích như sau: Dòng 1 hệ số các chất khí, dòng hai là thể tích, nếu chưa biết ta đặt ẩn và tính. Thường dạng này thường đi kèm tính hiệu suất phản ứng, phần trăm thể tích chất khí sau phản ứng nên giáo viên có thể mở rộng cho học sinh ở phần ôn thi học sinh giỏi. VI) Sai lầm khi biện luận công thức. 1) Mục tiêu - Học sinh biết làm các bài biện luận để tìm được cặp giá trị phù hợp của hai ẩn số thường là giữa hóa trị nguyên tố với khối lượng mol nguyên tố. 2) Sai lầm - Học sinh đã biết cách biện luận nhưng khi chọn thì chọn cả những giá trị không thỏa mãn 3) Ví dụ sai lầm Ví dụ bài biện luận lập công thức oxit học sinh tìm được biểu thức liên hệ giữa hóa trị n với khối lượng mol là M: M= 9n. Khi học sinh biện luận thấy với n = 1 thì M =9 lấy giá trị Be phù hợp và lấy cả cặp (3, 27)- Nhôm. Nhưng thực ra bài này chỉ có Al là phù hợp bởi vì trường hợp Be thỏa mãn giá trị khối lượng mol nhưng không thỏa mãn giá trị hóa trị nguyên tố. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên Giáo viên hướng dẫn học sinh biện luận nhưng chưa nêu rõ điều kiện cần và đủ để chọn nghiệm phù hợp, chưa hướng dẫn học sinh đối chiếu giữa hóa trị và khối lượng mol có phù hợp hay không 5) Khắc phục - Khi dạy giáo viên cần lưu ý để chọn được cặp giá trị (n, M) ta phải kiểm tra đồng thời cả hóa trị n và khối lượng mol M có phù hợp không. Ví dụ bài trên mặc dầu khối lượng mol Be là nhưng hóa trị của Be phải là 2 chứ không phải 1. VII) Sai lầm liên quan đến phản ứng thế. 1) Mục tiêu - Học sinh hiểu được bản chất phản ứng thế và viết được các phương trình minh họa cho phản ứng thế 2) Sai lầm - Khi lấy ví dụ thì học sinh lấy luôn cả ví dụ phản ứng không xảy ra ví dụ Cu + HCl, Ag + HCl hoặc lấy ví dụ mà bản chất phản ứng không phải bản chất phản ứng thế 3) Ví dụ sai lầm - Khi lấy ví dụ phản ứng thế học sinh lấy: Cu + 2HCl -> CuCl2 + H2. Fe + 2HNO3 -> Fe(NO3)2 + H2 9
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên - Khi dạy giáo viên chỉ lấy ví dụ thuần túy, chưa có sự mở rộng nên nhiều học sinh tự mở rộng lại trở thành sai. Thực tế nhiều học sinh rất ít khi lấy lại ví dụ trong sách giáo khoa mà tự tìm tòi để thể hiện mình. - Với phản ứng thế giữa kim loại với axit chưa lưu ý được cho học sinh không nên lấy ví dụ phản ứng giữa kim loại với H 2SO4 đặc, HNO 3 đặc mà chỉ lấy thông dụng với HCl và H2SO4 loãng. 5) Khắc phục Khi dạy giáo viên nên lấy ví dụ đa dạng hơn và lưu ý với trường hợp kim loại nào, axit nào ta không nên dùng minh họa cho phản ứng thế để tránh sai lầm. Tránh dùng H2SO4 đặc và HNO3 để minh họa cho phản ứng thế. Cũng nên lấy trường hợp Cu, Ag tác dụng với HCl để nhắc nhở học sinh. VIII) Sai lầm khi lấy ví dụ phản ứng hóa hợp oxit tác dụng với nước. 1) Mục tiêu Học sinh hiểu bản chất của phản ứng hóa hợp để lấy phương trình minh họa đúng; không lấy phải ví dụ các phản ứng không xảy ra. 2) Sai lầm - Lấy ví dụ phương trình mà phản ứng không xảy ra. Nhìn qua thì đúng là phản ứng hóa hợp nhưng thực chất là phản ứng không xảy ra được 3) Ví dụ sai lầm Học sinh lấy ví dụ: CuO + H2O -> Cu(OH)2; Al2O3 +3H2O-> 2Al(OH)3. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên - Giáo viên lấy ví dụ phản ứng luôn xảy ra mà không lưu ý một trường hợp không xảy ra phản ứng để học sinh hiểu rằng không phải phản ứng nào cũng dễ xảy ra. Để kích thích học sinh yếu kém tăng cường tìm tòi và suy nghĩ. - Chưa tìm được cách ghi nhớ đơn giản, nhớ lâu 5) Khắc phục - Khi dạy nên lấy cả ví dụ xảy ra và cả ví dụ không xảy ra để học sinh có ý thức đề phòng rằng không phải oxit nào cũng phản ứng với nước. - Với các oxit bazơ phản ứng với nước: Li2O; Na2O; K2O; BaO, CaO tôi cho học sinh ghi nhớ câu: Li Na Không Báo Cáo. Thực tế mang lại hiệu quả cao, cách ghi nhớ này tôi áp dụng cho cả việc dạy phần tính chất hóa học của oxit bazơ IX) Sai lầm liên quan đến kim loại phản ứng với dung dịch muối 1) Mục tiêu HS biết được tính chất của kim loại tác dụng với dung dịch muối tạo ra muối mới và kim loại mới. Tuy nhiên một số trường hợp kim loại tác dụng với muối lại xảy ra phức tạp hơn. 2) Sai lầm. - Học sinh luôn hiểu chỉ có kim loại mạnh hơn tác dụng với dung dịch muối tạo ra muối mới với kim loại mới, học sinh chỉ cần thấy kim loại phản ứng đứng trước kim loại trong muối là được. - Nhiều học sinh khi viết không hiểu điều kiện muối phản ứng phải tan nên không đối chiếu điều kiện này cứ viết cả những phản ứng không xảy ra. 10
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục 3) Ví dụ sai lầm - Học sinh viết các phương trình sai như sau: +) 2Na + CuSO4 -> Na2SO4 + Cu.(1) +) Cu + 2AgCl-> CuCl2 + 2Ag.(2) - Hoặc có những phản ứng xảy ra nhưng học sinh lại cho rằng không xảy ra: Cu + 2FeCl3 -> CuCl2 + 2FeCl2.(3) Phản ứng (1) nó diễn ra nhưng không phải như ở trên, ta có thể phân chia phản ứng (1) thành hai phản ứng như sau: +) 2Na + 2H2O -> 2NaOH + H2. +) 2NaOH + CuSO4 -> Cu(OH)2 + Na2SO4 Phản ứng (2) không xảy ra do AgCl không tan, phản ứng (3) học sinh nghĩ không xảy ra do Cu yếu hơn Fe nhưng trường hợp này Fe trong hợp chất có hóa trị III nên vẫn xảy ra. Khi dạy ta chưa nên nói số oxi hóa mà học sinh cảm thấy phức tạp, chỉ lưu ý cho học sinh Fe trong hợp chất có hóa trị III thì yếu hơn Cu. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên. - Khi dạy giáo viên chỉ nói lướt qua chứ không nhấn mạnh những từ như “dung dịch”, kim loại phản ứng phải đứng trước và từ Mg trở đi. - Giáo viên chưa lấy ví dụ sai để học sinh lưu ý. - Chưa nói được phản ứng giữa kim loại với dung dịch muối còn có một số trường hợp khác để kích thích sự tìm tòi của học sinh. 5) Khắc phục - Với loại phản ứng này giáo viên nên lưu ý cho học sinh điều kiện xảy phản ứng là kim loại phản ứng phải mạnh hơn, muối phải là dung dịch. Nếu từ Mg trở đi thì kim loại đứng trước đẩy được kim loại đứng sau ra khỏi dung dịch muối của chúng. Nếu kim loại trước Mg thì phức tạp hơn, với học sinh khá giỏi ta có thể lưu ý cụ thể trường hợp này: Đầu tiên kim loại sẽ phản ứng với nước trong dung dịch sau đó mới xảy ra phản ứng giữa dung dịch bazơ với dung dịch muối. Nếu có thời gian học phụ đạo thì có thể dạy một chuyên đề về vấn đề này. - Lấy một vài ví dụ mà học sinh thường sai để học sinh làm quen dần, để đề phòng các em sai lầm. - Gợi ý cho học sinh tự tìm tòi, đọc thêm tài liệu X) Sai lầm khi viết phản ứng trao đổi. 1) Mục tiêu - Học sinh viết được phản ứng trao đổi trong dung dịch, lưu ý được điều kiện để phản ứng trao đổi trong dung dịch: Các chất phản ứng phải tan và sản phẩm tạo ra có chất ít tan hoặc dễ bay hơi. 2) Sai lầm - Thường khi viết phương trình học sinh không biết đối chiếu điều kiện phản ứng. Nên nhiều phản ứng trao đổi không xảy ra nhưng học sinh vẫn viết và tính toán nên cho kết quả hoàn toàn sai; - Nhiều học sinh đã biết đối chiếu nhưng không chắc chắn, không tự tin vào bài làm của mình. 3) Ví dụ sai lầm 11
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục - Học sinh vẫn viết một số phương trình sau: +) BaSO4 + 2HCl -> BaCl2+ H2SO4. (1) +) Fe(OH)2 + CuSO4-> FeSO4 + Cu(OH)2 (2) +) CaCO3 + Na2SO3 -> Na2CO3 + CaSO4 (3) +) Na2SO4 + 2HCl-> 2NaCl + H2SO4. (4) Ta thấy các phản ứng trên không xảy ra do không thỏa mãn điều kiện phản ứng. Ở phản ứng (1) không xảy ra do BaSO4 không tan trong HCl; ở phản ứng (2) thì Fe(OH)2 không tan trong dung dịch CuSO4; ở phản ứng (3) thì CaCO 3 không tan trong dung dịch Na2SO3; ở phản ứng (4) thì sản phẩm không có chất rắn hoặc chất khí tạo thành. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên. - Chưa hướng dẫn học sinh sử dụng có hiệu quả bảng tính tan; - Khi dạy vẫn đề này còn nói chung chung mà chưa nêu được kết luận dễ nhớ cho học sinh; - Khi ra bài chỉ ra các phản ứng trao đổi thỏa mãn điều kiện mà chưa làm một số phản ứng không thỏa mãn điều kiện để học sinh rút kinh nghiệm; - Dạy quá nhanh, chưa bao quát hết đối tượng học sinh trong lớp. 5) Khắc phục - Nhắc nhở mỗi học sinh nên mua một bảng hệ thống tuần hoàn để sử dụng. - Hướng dẫn tỉ mỉ cách sử dụng và ghi nhớ dần bảng tính tan. - Chốt lại điều kiện của phản ứng trao đổi trong dung dịch cần thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: +) Các chất tham gia phản ứng phải tan ( dung dịch) +) Sản phẩm tạo thành phải có chất kết tủa hoặc bay hơi hoặc cả kết tủa và bay hơi. +) Lưu ý phản ứng trung hòa cũng là phản ứng trao đổi, một phản ứng trao đổi đặc biệt luôn xảy ra. XI) Sai lầm khi làm các bài tập hiệu suất phản ứng 1) Mục tiêu Thực tế các phản ứng luôn có hiệu suất nhỏ hơn 100% nên có rất nhiều bài toán liên quan hiệu suất. Với những bài toán hiệu suất học sinh gặp rất nhiều khó khăn, đây là một dạng bài khá khó của lớp 8, 9. Khi học vấn đề này yêu cầu học sinh phải tính được đại lượng lí thuyết, đại lượng thực tế và hiệu suất của phản ứng hoặc hiệu suất của cả quá trình. Với học sinh khá trở xuống phải làm được các bài hiệu suất liên quan phản ứng điều chế O2, H2, sản xuất gang thép, sản xuất ancol etylic, saccarozơ 2) Sai lầm. - Học sinh lúng túng trong việc vận dụng công thức: Không biết nên áp dụng công thức nào hay chưa biết vận dụng toán học để biến đổi công thức, rút ra đại lượng cần tính. - Học sinh chưa phân biệt được đại lượng lí thuyết, đại lượng thực tế. Chưa biết lấy đại lượng lí thuyết chia cho đại lượng thực tế hay ngược lại nên không biết tính toán hoặc tính toán sai. 12
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục 3) Ví dụ sai lầm - Khi tính hiệu suất học sinh tính được hiệu suất phản ứng lớn hơn 100%. - Nhầm lẫn giữa đại lượng lí thuyết và đại lượng thực tế. - Vận dụng công thức sai. - Làm quá dài dòng, mất thời gian. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên. - Khi dạy giáo viên chưa lưu ý được cho học sinh biết hiệu suất phản ứng nhỏ hơn hoặc bằng 100%. - Chưa lưu ý được cho học sinh ở chất tham gia thì đại lượng lí thuyết luôn lớn hơn hoặc bằng đại lượng thực tế, còn ở sản phẩm thì đại lượng thực tế luôn nhỏ hơn hoặc bằng đại lượng lí thuyết. - Chưa nhắc lại cách vận dụng toán học để biến đổi công thức. 5) Khắc phục - Ghi hai công thức tính hiệu suất theo chất tham gia và theo sản phẩm để học sinh vận dụng, hướng dẫn cách ghi nhớ hai công thức này ngược nhau. Nếu tính theo chất tham gia thì H = (Đại lượng lí thuyết/ đại lượng thực tế).100% còn nếu tính theo chất sản phẩm thì H = (Đại lượng thực tế/đại lượng lí thuyết).100%. - Lưu ý cho học sinh H luôn nhỏ hơn hoặc bằng 100% - Đại lượng lí thuyết bên chất tham gia luôn nhỏ hơn hoặc bằng đại lượng thực tế, đại lượng thực tế bên chất sản phẩm nhỏ hơn hoặc bằng đại lượng lí thuyết. Nắm vững những vấn đề đó chắc chắn học sinh sẽ dễ kiểm tra kết quả bài làm đúng hay sai. - Hướng dẫn thêm công thức tính hiệu suất chung của cả quá trình khi biết H 1, n-1 H2, Khi đó H = (H1.H2 .Hn):( 100 ) XII) Sai lầm khi làm các bài tập nồng độ dung dịch 1) Mục tiêu - Học sinh vận dụng được công thức tính nồng độ phần trăm từ đơn giản đến phức tạp. 2) Sai lầm - Học sinh xác định không đúng chất tan - Tính khối lượng dung dịch sai do vận dụng định luật bảo toàn khối lượng không đúng. - Không biết vận dụng công thức mdd = D.V 3) Ví dụ sai lầm - Khi cho một chất tan vào nước đã xảy ra phản ứng, học sinh không biết hoặc quên phản ứng đã xảy ra nên xác định không đúng chất tan. Ví dụ khi cho Na 2O vào nước thì: Na2O + H2O -> 2NaOH mà học sinh lại xác đinh chất tan là Na 2O, thực ra chất tan phải là NaOH. - Vận dụng định luật bảo toàn khối lượng sai, học sinh đã không trừ đi chất khí, chất rắn vì chúng không thuộc dung dịch sau phản ứng. Ví dụ khi cho BaCl 2 phản ứng với H2SO4 tạo BaSO4 không tan nhưng khi tính mdd học sinh không trừ khối lượng của BaSO4. 4) Lỗi diễn đạt của giáo viên 13
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục - Khi dạy giáo viên chỉ làm các ví dụ mà chưa khái quát được vấn đề. Chưa hướng dẫn cho học sinh lưu ý khi tính C% cần phải xác định đúng thành phần chất tan trong dung dịch, chưa hướng dẫn được học sinh có thói quen sử dụng bảng tính tan. - Chưa hướng dẫn học sinh công thức tổng quát để áp dụng tính m dd theo định luật bảo toàn khối lượng: mdd sau phản ứng = Tổng khối lượng các chất phản ứng – m chất rắn không tan ( nếu có) - mchất khí tạo thành ( nếu có). 5) Khắc phục - Cần có kết luận chung cho học sinh dễ ghi nhớ: Một dung dịch có thể có nồng độ nhiều chất khác nhau, nói đến nồng độ phần trăn dung dịch ta chỉ tính các chất tan trong dung dịch, phải lưu ý xác định đúng, đủ chất tan. Lưu ý học sinh khi làm các bài chất dư rất hay bỏ sót nồng độ phần trăm chất dư trong dung dịch sau phản ứng; - Lưu ý các công thức tính toán liên quan đến C%, lấy ví dụ minh họa cụ thể; chỉ ra chỗ học sinh thường hay vận dụng sai, sót; - Cho học sinh ghi nhớ công thức có hình thức kiểm tra phù hợp. C2) Kết luận chung Thực tế còn rất nhiều chỗ học sinh có thể hiểu nhầm do lỗi vô tình của giáo viên trong khi diễn đạt và kết hợp với nhiều nguyên nhân khác nữa để học sinh nhận thức sai. Với kinh nghiệm của bản thân tôi đã tìm ra một số lỗi. Và từ những lỗi hiểu nhầm dẫn đến những sai lầm cụ thể trên, tôi đúc rút ra những kết luận chung như sau: * Sai lầm có thể bởi +) Nguyên nhân do giáo viên - Do giáo viên khi giảng dạy hướng dẫn chưa cụ thể, dùng ngôn ngữ quá trừu tượng. - Giáo viên chưa có kinh nghiệm nên khi giảng dạy chưa dự báo được những vấn đề học sinh có thể hiểu nhầm hoặc chưa hiểu đến tường tận. - Giáo viên chưa chốt được kiến thức trọng tâm của vấn đề, chưa tìm ra được cách ghi nhớ hiệu quả, chỉ hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ chung chung. - Giáo viên chưa truyền được cảm hứng yêu thích bộ môn, chưa tạo ra được sự cạnh tranh tích cực trong học tập. +) Nguyên nhân do học sinh - Học sinh chưa chú ý trong học tập nên không hiểu được ý đồ của giáo viên nên chỉ hiểu sơ sài, chưa sâu, chưa biết cách ghi nhớ, chưa luyện giải bài tập nhiều nên rất dễ quên. C3. Kết quả nghiên cứu Khi vận dụng các kinh nghiệm tích lũy được để lgiảng dạy, về phía bản than tôi đã tiến hành dạy theo kinh nghiệm tích lũy được đối với những vẫn đề trước đây hay mắc sai lầm thì bây giờ mức độ hiểu nhầm giảm xuống rõ rệt, nếu có xảy ra thì chỉ xảy ra với những học sinh yếu kém hay những học sinh không chú ý học. Học sinh đã đam mê môn học hơn và kết quả học tập được nâng cao, có nhiều học sinh đăng kí tham gia thi học sinh giỏi môn hóa cấp huyện và có 4 em được tham gia thi 14
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục cấp tỉnh. Phỏng vấn nhiều học sinh cho hay các em thấy tự tin hơn nhiều khi học các tiết hóa học. Tôi đã thăm dò ý kiến của các giáo viên dạy cấp 3 về tình hình học tập của các học sinh cũ của mình cho thấy kết quả khả quan, đây cũng là một động lực quan trọng cho bản thân tôi cố gắng, tìm tòi, sáng tạo. D) KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT a) Với tổ chuyên môn Tổ chức các chuyên đề về đổi mới phương pháp để giáo viên cùng chuyên môn có thể góp ý với nhau, cùng tìm ra những cách tổ chức dạy học có hiệu quả cho mỗi vấn đề. Tạo điều kiện cho giáo viên được thể hiện bản thân, được nói ra chính kiến của mình trong vấn đề chuyên môn. Động viên khích lệ kịp thời những giáo viên có những sáng tạo trong dạy học. Đánh giá đúng năng lực giáo viên để có những hình thức động viên kịp thời. b) Với nhà trường. - Tạo điều kiện cho giáo viên được giao lưu, học hỏi với các đồng chí cùng chuyên môn trong huyện hoặc các huyện khác trong tỉnh. - Đảm bảo mạng internet để giáo viên tìm hiểu thêm qua internet. - Phát động các phong trào sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm trong giáo viên, có thi đua đi kèm với khen thưởng để động viên khuyến khích giáo viên. c) Với phòng giáo dục. - Tổ chức hướng dẫn giáo viên cách viết sáng kiến kinh nghiệm; động viên giáo viên tìm tòi, sáng tạo. - Nghiêm túc loại bỏ những SKKN copy, không đánh đồng cùng với những sáng kiến có sự tích lũy, viết ra từ thực tế, có tính ứng dụng cao. - Công khai các SKKN đạt bậc 4 trên trang web của ngành để giáo viên tham khảo và cũng kiểm chứng tính minh bạch của SKKN 15
- Các lỗi diễn đạt thường gặp trong dạy học hóa học THCS dẫn đến học sinh dễ hiểu nhầm và cách khắc phục TÀI LIỆU THAM KHẢO - Sách giáo khoa hóa học 8 của NXB giáo dục. - Sách giáo khoa hóa học 9 của NXB giáo dục. - Sách giáo viên của NXB giáo dục hóa 8, 9 - Mạng internet. 16

