SKKN Một số biện pháp áp nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong môn Tin học Lớp 5 - Phan Thị Hồng Oanh

pdf 25 trang baochau 05/02/2026 2330
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp áp nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong môn Tin học Lớp 5 - Phan Thị Hồng Oanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_ap_nham_phat_huy_nang_luc_tu_duy_sang.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp áp nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong môn Tin học Lớp 5 - Phan Thị Hồng Oanh

  1. PHÒNG GD&ĐT CAM LỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CAM LỘ ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG MÔN TIN HỌC LỚP 5 Lĩnh vực/ Môn: Tự chọn Họ và tên: Phan Thị Hồng Oanh Giáo viên môn: Tin học Đơn vị công tác: Trường tiểu học thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị NĂM HỌC: 2021 – 2022
  2. MỤC LỤC Nội dung Trang Các từ viết tắt I. Mở đầu 1 II. Nội dung 3 1. Thực trạng của vấn đề 3 2. Các giải pháp áp dụng sáng kiến 5 2.1. Xác định điều kiện thực hiện sáng kiến 5 2.2. Lập kế hoạch thực hiện sáng kiến 5 2.3. Xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp với từng tiết học 6 2.4. Điều khiển và tổ chức giờ dạy dựa vào từng đối tượng học 6 sinh 2.5. Phát động phong trào “Đôi bạn cùng tiến” 7 2.6. Sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực 8 a. Học thông qua chơi để tạo hứng thú và tâm lí thoải mái cho học 8 sinh b. Tăng cường các hoạt động nhóm trong giờ học 9 c. Tích hợp trò chơi trong bài học 9 d. Sử dụng sơ đồ tư duy với phần mềm Mind Map 10 e. Sử dụng phần mềmNetsupport School hỗ trợ trong dạy học 11 3. Tính mới của giải pháp 13 4. Tính thực tiễn của sáng kiến 13 5. Tính hiệu quả của sáng kiến 13 II. Kết luận 16 1. Kết luận 16 2. Kiến nghị, đề xuất 16 Tài liệu tham khảo
  3. CÁC TỪ VIẾT TẮT - GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo - TH: Tiểu học - CNTT: Công nghệ thông tin - CNKH: Công nghệ khoa học - HS: Học sinh - GV: Giáo viên - BGDĐT: Bộ Giáo dục Đào tạo - PGDĐT: Phòng Giáo dục Đào tạo - BC Báo cáo - CT: Chỉ thị - GDTH: Giáo dục tiểu học - HD: Hướng dẫn - TT: Thông tư - TB: Trung bình - SL: Số lượng - HHT: Hoàn thành tốt - HT: Hoàn thành - CHT: Chưa hoàn thành - CLB: Câu lạc bộ - PP: Phương pháp - FD: Forward: Lệnh tiến tới - RT: RighT: lệnh quay phải. - LT: LefT: lệnh quay trái - CS: Clear Screen: lệnh xóa màn hình - NXB: Nhà xuất bản - SGK: Sách giáo khoa - ĐH: Đại học
  4. I. MỞ ĐẦU Cùng vớiviệc thực hiện 12 nhiệm vụ và giải pháp chung của toàn ngành; năm học 2018-2019 Sở GD&ĐT Quảng Trị xác định chủ đề năm học là: “Triển khai có hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học”;đối với việc dạy học hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học cấp tiểu học của Sở GD&ĐT chỉ rõ “Tổ chức dạy học môn Tin học theo công văn số 3031/BGDĐT-GDTH ngày 17/7/2017 về việc Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách dạy học tin học cấp tiểu học từ năm học 2017-2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tăng cường điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên,... để từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học; Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục có nội dung Tin học - Công nghệ thông tin dưới hình thức các câu lạc bộ để HS được tiếp cận, hình thành các kĩ năng học tập, sử dụng sáng tạo”. Năm học 2021 - 2022 Sở GD&ĐT Quảng Trị xác định chủ đề năm học:"Nâng cao trách nhiệm, đạo đức nhà giáo; tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh"; đối với việc dạy học hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học cấp tiểu học của Sở GD&ĐT chỉ rõ tổ chức dạy học môn Tin học theo công văn số 3539/BGDĐT-GDTH ngày 19/8/2019 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện dạy học môn Tin học và tổ chức hoạt động giáo dục tin học cấp tiểu học năm học 2019 -2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tiếp tục đẩy mạnh tổ chức dạy học môn Tin học ở các trường tiểu học. Thực hiện có hiệu quả việc xây dựng kế hoạch giáo dục môn học; đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo "Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh" tại công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 của Bộ GD&ĐT,... để từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học,đẩy mạnh các hoạt động giáo dục có nội dung tin học và công nghệ thông tin dưới hình thức các câu lạc bộ để HS được vận dụng, rèn luyện kiến thức, kỹ năng hỗ trợ cho học tập cùng với các môn học khác thực hiện giáo dục STEM. Xuất phát từ yêu cầu của việc đổi mới phương pháp là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Từ việc “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Từ thực tiễn dạy và học Tin học trong nhiều năm qua, tôi nhận thấyviệc phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh trong giờ học là một điều hết sức cần thiết, là một trong những giải pháp quan trọng góp phần phát huy năng lực của học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học. Ngoài ra, sự thành công của một tiết dạy không thể thiếu đồ dùng, phương tiện, phần mềm ứng dụng vào dạy học và đặc biệt là lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng nhằm phát huy tối đa năng lực tư duy tính sáng tạo cho học sinh. Chính vì vậy bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi, trao đổi với đồng nghiệpvà nghiên cứu phương pháp dạy học cũng như ứng dụng các thiết bị và phần mềm dạy học tốt nhất, tối ưu nhất phù hợp với đặc trưng của bộ môn. Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và ứng dụng đó bản thân tôi đã tìm ra “Một số giải pháp nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học
  5. sinh trong môn Tin học lớp 5”. Góp phần phát huy tối đa phẩm chất năng lực tự học của học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học.
  6. II. NỘI DUNG 1. Thực trạng của vấn đề: - Trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ đã đưa môn Tin học vào dạy học từ năm học 2007 - 2008 theo hình thức tự chọn cho HS các lớp 3, 4, 5; bản thân tôi là GV Tin học đã trực tiếp giảng dạy từ năm học 2011 - 2012 đến nay, tôi nhận thấy HS học tập môn Tin học rất hứng thú, nhưng so với một số địa phương khác cũng có thể nói là đang còn chậm. - Máy chiếu của phòng Tin học (Điểm trường 2) đã cũ, hình ảnh hiển thị không được rõ nét. Điểm trường 1 máy chiếu không đặt cố định vì phải phục vụ cho toàn trường nên HS gặp khó khăn trong quá trình quan sát. Đây là bộ môn đặc trưng muốn đạt chất lượng cao đòi hỏi các em phải tiếp xúc với máy tính nhiều nhưng thời lượng mỗi tuần chỉ có 2 tiết trên lớp thì các em chưa thể thực hành hết các kiến thức đã học mà nếu có thực hành hết thì sẽ chóng quên. - Năm học 2020 - 2021; năm học 2021 - 2022 tôi được nhà trường phân công dạy môn Tin học khối 3, 4, 5 và chủ nhiệm câu lạc bộ Tin học. Qua thời gian giảng dạy tôi thấy có một số vấn đề sau: a. Thuận lợi: * Về phía giáo viên: - Được sự quan tâm chỉ đạo của BGH nhà trường đã trang bị 02 phòng máy với 36 máy dành cho HS chia đều cho cả 2 điểm trường. Các máy được kết nối mạng LAN và Internet với nhau. Ngoài ra cung cấp cho GV đầy đủ SGK và các phần mềm kèm theo. - Là giáo viên dạy tin học nhiều năm (15 năm), tôi luôn tìm tòi học hỏi để trao đổi kinh nghiệm, tự rèn luyện mình, từng bước nâng cao nghiệp vụ để vững vàng về chuyên môn cũng như công việc phụ trách toàn diện trước học sinh. Tôi luôn gương mẫu trước đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh; luôn nhiệt tình và có tâm huyết đối với việc dạy học của mình. * Về phía học sinh: - Các em phần đông được gia đình quan tâm, trang bị khá đầy đủ về đồ dùng học tập, sách giáo khoa. - Nội dung sách nhẹ nhàng, trình bày đẹp, sách chú trọng nhiều về phần thực hành rất phù hợp với lứa tuổi HS Tiểu học. - HS từ khối 3 đến khối 5 được học môn Tin học. Mỗi lớp được học với thời lượng 2 tiết/tuần. - HS đã nắm được các kiến thức cơ bản của bài học. Từ đó HS biết sử dụng và ứng dụng phần mềm vào việc học tập. b. Khó khăn: * Về phía giáo viên: - Do mới là môn tự chọn nên GV dạy Tin học TH ở địa phương còn rất ít, chương trình và phân phối chương trình bước đầu chưa có sự thống nhất đang còn hoàn thiện dần. - GV đã được đào tạo kiến thức về Tin học, tuy nhiên khi máy tính bị lỗi kĩ thuật, GV xử lý chưa kịp thời dẫn đến HS thiếu máy tính, không thực hành được. * Về phía học sinh:
  7. - Một số em điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn không có máy tính ở nhà để luyện tập nên các thao tác của HS chưa được thành thạo. - Xuất phát từ tâm lý xem môn Tin học là môn tự chọn nên đa số các em chưa chú ý nhiều đến môn học này. - Học sinh không thể trình bày được các thao tác của mình, một số HS chưa tập trung vào bài giảng mà chỉ chú ý thao tác trên máy tính cá nhân của mình. - Do kiến thức cơ bản của môn Tin học có liên quan nhiều đến môn Toán và Tiếng Anh mà một số học sinh học chưa tốt hai môn đó thì cũng đồng nghĩa với việc tư duy sử dụng câu lệnh trong môn Tin học cũng chưa tốt. Vì vậy việc áp dụng kiến thức Tin học để làm bài tập thực hành gặp rất nhiều khó khăn, chỉ trông chờ vào giáo viên giải bài trên lớp và chép vào vở. - Nhiều HS trong giờ học thường thiếu sự tập trung, có thái độ rất thụ động và thờ ơ trong việc học. Trên lớp không chú ý về nhà lại ít học bài cũ nên kiến thức nắm rất hời hợt càng khó vận dụng lí thuyết để viết câu lệnh. Qua điều tra khảo sát học sinh khối 5 đầu năm kết quả như sau: * Năm học 2020 - 2021: Thực hành Tổng Lớp Tự thao tác Thao tác cần có hướng dẫn Chưa biết thao tác số SL % SL % SL % 5A1 35 13 37.15 17 48.57 5 14.28 5A2 34 12 35.30 19 55.88 3 8.82 5A3 23 8 33.33 13 58.33 2 8.34 5A4 24 10 41.67 11 45.83 3 12.50 * Năm học 2021 - 2021: Thực hành Tổng Lớp Tự thao tác Thao tác cần có hướng dẫn Chưa biết thao tác số SL % SL % SL % 5A1 32 10 31.25 15 46.88 7 21.87 5A2 33 12 36.36 15 45.45 6 18,19 5A3 35 13 37.14 18 51.43 4 11.43 5A4 31 9 29.03 17 54.84 5 16.13 5A5 32 9 28.13 16 50.0 7 21.87 Từ kết quả khảo sát cho thấy đa số các em nắm kiến thức lí thuyết còn chậm, các em hay quên và chưa vận dụng vào thực hành được nếu không có sự hướng dẫn của GV. Sau một thời gian suy nghĩ tiến hành thực nghiệm tôi đã đưa ra được các nguyên nhân chủ yếu đó là: *Nguyên nhân: - Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với Internet, các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn lôi cuốn các em hơn là nhiệm vụ học tập nhất là các môn học có tính tư duy cao như môn Tin học. - Tin học lớp 5 đòi hỏi học sinh phải có tính tư duy cao đột phá hơn so với kiến thức lớp 3, 4 chỉ soạn thảo văn bản hay vẽ hình trên phần mềm vẽ Paint, ở lớp 4, 5 muốn vẽ hình thì em không chỉ dùng phần mềm vẽ Paint đơn thuần nữa
  8. mà phải phải sử dụng các câu lệnh trong Logo để vẽ hình nên cần có tính kiên trì nhẫn nại, tích cực sáng tạo. - Xuất phát từ tâm lý xem môn Tin học là môn tự chọn nên học sinh không chú ý đến việc học. Vì thế việc tạo hứng thú học tập cho các em có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học. Để cung cấp kiến thức khoa học, giáo dục tư tưởng và rèn luyện kỹ năng cho học sinh, giáo viên phải làm cho học sinh ham mê hứng thú học tập, làm cho quá trình học tập của các em trở nên tự giác, tạo nên niềm vui trong sáng và bổ ích, bồi dưỡng cho các em tinh thần học tập, mạnh dạn trước tập thể, tạo được hưng phấn đồng đều giữa các em để các em có được sự hòa đồng trong nhận thức và học tập. Việc tạo hứng thú học tập môn tin học cho các em cần phải căn cứ vào các tiêu chí sau: + Học sinh đi học đầy đủ + Học sinh nắmbài khi kiểm tra bài cũ. + Học sinh hào hứng phát biểu xây dựng bài. + Học sinh tập trung chú ý cao, học bài và làm bài đạt kết quả tốt. Từ đây ta hoàn toàn có thể xây dựng các biện pháp để giải quyết vấn đề đặt ra. - Từ thực tế hiện nay về đổi mới phương pháp dạy học là học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người hướng dẫn điều khiển. Để phát huy năng lực tự học, tính sáng tạo thì GV phải có phương pháp quản lý giờ học, giờ thực hành phù hợp tránh để HS làm việc riêng và có thể giúp đỡ kịp thời khi HS gặp khó khăn một cách tối đa và hiệu quả nhất. 2. Các giải pháp áp dụng sáng kiến: 2.1. Xác định điều kiện thực hiện sáng kiến: - Để thực hiện thành công sáng kiến thì cần phải có những điều kiện sau: - Phòng tin học cần được chuẩn bị: 01 máy chủ và các máy con, máy chiếu (hoặc Tivi màn hình lớn). - Máy chủ và các máy con đã được cài đặt hệ điều hành và một số phần mềm học tập cần thiết. - Các máy phải được kết nối với nhau tạo thành mạng LAN. - GV tạo ra các bài tập trên phần mềm Quizzi, Azota,... triển khai trong dạy học “Học thông qua chơi”. 2.2. Lập kế hoạch thực hiện sáng kiến:Từ tháng 9/2020 đến nay, cụ thể: Tháng - năm Nội dung thực hiện - Nghiên cứu và lựa chọn sáng kiến - Xây dựng đề cương - Khảo sát học sinh đầu năm Tháng 9/2020 - Lên kế hoạch và thực hiện nghiên cứu - Thu thập tài liệu qua sách báo, mạng Internet - Điều tra thực trạng, nghiên cứu công tác giảng dạy bộ môn Từ tháng 10/2020 - Áp dụng các giải pháp vào công tác giảng dạy, đánh giá đến tháng 4/2021 - Phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, thu thập kết quả và Tháng 5/2021 rút kinh nghiệm
  9. Từ tháng 9/2021đến - Tiếp tục nghiên cứu, áp dụng sáng kiến thực nghiệm ở các tháng 4/2022 tiết dạy và kiển tra trên lớp từ đó rút ra bài học - Thu thập, thống kê kết quả của năm học; phân tích, tổng Tháng 5/2022 hợp bài học kinh nghiệm; hoàn thành sáng kiến. 2.3. Xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp với từng tiết học Đây là công việc bắt buộc của tất cả các tiết học, môn học. Tuy nhiên với tiết thực hành Tin học, ngoài việc soạn giảng bình thường theo quy định giáo viên cần phải nêu rõ các yêu cầu cho từng bài thực hành, trong đó nêu rõ các yêu cầu từ thấp đến cao và yêu cầu cho từng đối tượng.Thiết kế bài dạy thực hành phù hợp với nhiều đối tượng học sinh là nội dung quan trọng cần lưu ý. Bởi việc này sẽ giúp giáo viên chuẩn bị chu đáo hơn về kiến thức, kỹ năng, phương pháp, tiến trình của một tiết dạy thực hành. Xác định được mục tiêu trọng tâm của bài học về kiến thức, kỹ năng. Tìm ra được những kỹ năng cơ bản dành cho học sinh còn yếu và những kiến thức kỹ năng dành cho học sinh khá hơn, tham khảo thêm tài liệu để mở rộng, đi sâu hơn vào bài giảng, giúp giáo viên nắm tổng thể, giải thích cho học sinh khi cần thiết. Giáo viên cũng cần nắm được mục đích yêu cầu, chuẩn kiến thức của chương, của bài để thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với trình độ học sinh và điều kiện dạy và học; đồng thời, oành chỉnh tiến trình của một giờ dạy học với đầy đủ các hoạt động cụ thể. Trước mỗi giờ thực hành, giáo viên cần đến trước để kiểm tra phòng máy, các thiết bị điện, màn hình, cây máy tính, sự hoạt động của máy tính, máy chiếu, các bàn ghế ngồi học đảm bảo cho một tiết dạy thực hành được ổn định, an toàn với tất cả học sinh.Tuy nhiên, để thực hành theo nhóm hiệu quả, buộc giáo viên phải lựa chọn nội dung đưa vào thực hành phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.Vì vậy, giáo viên cần xác định đúng mức nội dung thực hành, phải vừa sức với học sinh, thuộc nội dung học sinh đã được nghiên cứu, dễ tổ chức thực hiện trong điều kiện trang bị máy tính hiện có của nhà trường. 2.4. Điều khiển và tổ chức giờ dạy dựa vào từng đối tượng học sinh Điều quan trọng là giáo viên phải tổ chức và điều khiển các đối tượng học sinh trên lớp. Trong điều kiện hiện nay cơ sở vật chất nhà trường không đảm bảo 1 máy/1 học sinh, giáo viên nên chia lớp thành hai nhóm thực hành. Bước này vô cùng quan trọng, bởi vì học sinh thường hay mất trật tự trong các giờ thực hành. Với việc chia nhóm, học sinh nhóm sau có thể quan sát các bạn nhóm trước thực hành và rút ra kinh nghiệm cho bản thân mà không cần đến sự giúp đỡ của giáo viên. Lựa chọn học sinh để tạo nhóm phù hợp chẳng hạn như ghép em học tốt với em học chậm để em học tốt giúp đỡ em học chậm. Một số bài thực hành gồm nhiều yêu cầu khác nhau, giáo viên có thể chia nhỏ ra thành nhiều yêu cầu với mức độ từ dễ đến khó, cho học sinh thực hành theo những yêu cầu đã nêu. Giáo viên phải đặt ra mỗi yêu cầu hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định nào đó với mỗi nhóm đối tượng. Điều đó có thể thúc đẩy sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của học sinh; học sinh khá có thể thực hiện theo nhiều cách để có thể hoàn thành nhiệm vụ trong khoảng thời gian nhanh nhất nhằm kích thích và phát huy tính tư duy sáng tạo cho HS trong quá trình học.
  10. Ví dụ 1: Khi dạy bài “Mở rộng hiệu ứng chuyển động” Hướng dẫn học Tin học lớp 5 với nội dung bài thực hành dưới đây: Giáo viên có thể chia nhỏ nội dung như sau: - Dùng thẻ Animations để chọn hiệu ứng cơ bản - Chọn Custom Animations chọn hiệu ứng mở rộng. Ví dụ 2: Khi dạy bài : “Thực hành tổng hợp” Giáo viên có thể chia nhỏ thành các yêu cầu sau: - Soạn thảo văn bản với nội dung hoàn chỉnh. - Dùng bảng chọn Insert chèn hình ảnh có sẵn (hoặc có thể kết hợp kiến thức trong môn Mỹ thuật và phần mềm vẽ Paint để vẽ hình tùy thích) vàchỉnh sửa hình ảnh hợp lý. - Dùng thẻ Animations để tạo hiệu ứng hay Custom Animations để chọn hiệu ứng mở rộng. - Dùng bảng chọn Design để thay đổi bố cục màu,... Các bài tập không quá dài mà được nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp, ngoài ra giáo viên có thể kết hợp với kiến thức của bài học trước hoặc liên hệ với môn học khác. 2.5. Phát động phong trào “Đôi bạn cùng tiến” Phương pháp này không chỉ dùng trong môn Tin học, ở cấp Tiểu học. Mà ở các môn học khác, cấp học khác vẫn có hiệu quả cao. Trong phương pháp này, giáo viên chia lớp thành hai nhóm lớn, trong mỗi nhóm lại chia thành các cặp mỗi cặp ngồi một máy tính, ngồi cố định với nhau trong suốt học kì, các em sẽ cùng học, cùng thực hành ngay từ đầu năm học cho đến hết năm học. Giáo viên sẽ theo dõi quá trình học, tiến bộ của các nhóm qua các tuần, tháng và có đánh giá sau mỗi tháng, học kì. Xem hai bạn nào tiến bộ nhất trong nhóm đó thì cuối học kì cô sẽ có phần thưởng. Học sinh hỗ trợ lẫn nhau là phương pháp thu hút sự tham gia của học sinh, phù hợp với đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay là “dạy ít, học nhiều”. Với phương pháp này thì giáo viên chia mỗi máy tính một học sinh khá, giỏi kèm một học sinh yếu để các học sinh giỏi này hỗ trợ giáo viên kèm cặp, giúp đỡ bạn thực hành. Giáo viên hướng dẫn cho nhóm học sinh có khả năng học tập tốt thật kỹ trước khi tiến hành để nhóm đối tượng hỗ trợ này nắm chắc kiến thức; Nhắc nhở học sinh thực hiện tốt vai trò của người hỗ trợ và người nhận hỗ trợ. Giáo viên cũng nên chỉ ra các điều kiện cần để đảm bảo có được hoạt động học sinh hỗ trợ lẫn nhau hiệu quả. Trong quá trình giảng dạy Giáo viên có thể sử dụng các phần mềm, các trò chơi để treo thưởng, khuyến khích cho học sinh có động lực học tập. Ví dụ nhóm nào hoàn thành bài trước thời gian quy định thì sẽ được chơi các phần mềm trong máy tính hoặc vào xem mạng internet Làm như vậy sẽ khuyến khích học sinh tập trung vào làm bài và hoàn thành sớm yêu cầu của giáo viên. 2.6. Sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực: a. “Học thông qua chơi” để tạo hứng thú và tâm lí thoải mái cho học sinh: - Trước mỗi tiết học giáo viên tổ chức trò chơi củng cố kiến thức bằng phần mềm Quizizz. GV chuyển giao bài tập từ máy chủ (GV) về cho máy con (HS) để
  11. đảm bảo bạn nào cũng được chơi được ôn tập. Sau khi chơi trò chơi thì tâm lí các em rất phấn khởi, bài cũ được nhắc lại và các em nắm kiến thức khá tốt để bắt đầu vào bài học mới một cách hứng thú và đầy năng lượng. - Việc tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học không chỉ một lần mà phải rèn luyện thường xuyên từ phút đầu đến phút cuối giờ học. Hơn nữa phải làm cho mức độ hứng thú ngày càng tăng đến nỗi các em không để ý thời gian trôi đi nhanh chóng và khi giờ học kết thúc học sinh vẫn còn cảm thấy luyến tiếc. * Ví dụ 1: Khi bắt đầu vào dạy bài "Sử dụng câu lệnh lặp", giáo viên có thể đưa ra một số câu hỏi gợi mở “Để vẽ hình vuông các em cần phải có mấy đường thẳng?”. Qua câu trả lời của học sinh để dẫn dắt đến bản chất của lệnh lặp, lặp với số lần biết trước. Việc gây hứng thú ngay từ phần mở đầu bài học còn có thể thực hiện dưới dạng cho học sinh học thông qua chơi: “Trò chơi giải ô chữ” với các từ chìa khóa có liên quan tới bài học mới, đây cũng là một hình thức mà các em rất hào hứng tham gia phát huy được năng lực tư duy. - Bên cạnh đó việc đánh giá công bằng, khuyến khích trong việc kiểm tra nội dung bài cũ là những yếu tố góp phần tạo nên không khí hào hứng chung của cả lớp để chuẩn bị bước vào bài học mới. - Thực chất của việc học tập là chuỗi vấn đề được đặt ra, được nhìn nhận, rồi được nhận thức ở mức độ cao hơn. Khi giáo viên giúp các em nắm được cái cốt lõi của một nội dung sẽ kích thích các em suy luận và tìm tòi, phát triển một số nội dung khác. Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. * Ví dụ 2: Trong tiết học “Các lệnh trong Logo” - Tiết 55, sau khi học sinh đã làm quen với phần mềm Logo và 4 lệnh cơ bản thì giáo viên yêu cầu các em làm bài tập tương tự trên máy tính. Chẳng hạn như sử dụng các lệnh để vẽ hình vuông có độ dài cạnh là 50 thì HS có thể áp dụng các lệnh để vẽ hình tam giác hay hình đa giác 5 cạnh,... Có rất nhiều HS không hiểu về lệnh của góc quay. GV chú ý phải đưa ra hướng dẫn cụ thể như: Góc quay thì sử dụng công thức ta lấy 360/số cạnh của hình đó hoặc360/số góc của hình đó. - Với yêu cầu đơn giản như vậy các em sẽ cảm thấy việc giải các bài toán tương tự các bài toán đã có là vừa sức, kích thích sự ham muốn giải các bài tập mà lâu nay các em cho là tự mình rất khó có thể giải quyết. Điều này sẽ làm các em có được niềm vui trước sản phẩm tinh thần của chính mình, tạo được tâm lý thoải mái, vui vẻ trong các em. Giúp các em chủ động giải bài tập, có thể giải theo cách tương tự bài giáo viên ra hoặc giải theo cách của các em nghĩ ra, phát huy tính sáng tạo cho học sinh. * Hiệu quả: Sau khi áp dụng một số ví dụ vào đề tài, số HS biết phân biệt các lệnh và sử dụng các lệnh đó tăng lên rõ rệt. Nhưng một số HS vẫn chưa xác định đúng các lệnh quay cho hình,... Tuy vậy bước đầu việc vận dụng kiến thức, kĩ năng của các em vào làm bài tập thực hành đã có hiệu quả. b. Tăng cường các hoạt động nhóm trong giờ học: - Phương pháp dạy học theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học mới, có nhiều ưu điểm: Phương pháp này thích hợp cho việc thảo luận nhóm, đưa ra những cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích sự hợp tác của các thành viên trong nhóm cùng tham gia vào việc giải quyết vấn đề. Làm
  12. việc theo nhóm thoả mãn nhu cầu học tập của cá nhân, người học có thể đưa ra những giải pháp, cách biểu đạt riêng cho vấn đề nào đó. Nếu trong phương pháp thuyết trình người học chỉ có thể trao đổi với nhau rất ít thì làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có cơ hội đưa ra quan điểm của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác ở đó cũng đòi hỏi tăng cường tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm cũng như trao đổi giữa các nhóm với nhau. - Đặc biệt đối với môn Tin học việc chia nhóm để thực hiện khá dễ dàng. Vì mỗi nhóm có thể viết các lệnh đơn giản sau đó các nhóm tự thảo luận và bổ sung cho nhau để hoàn thiện bài tập. Hoặc chúng ta có thể để cho mỗi nhóm tiến hành một công đoạn trên máy tính như: ý tưởng, viết các lệnh, hiệu chỉnh, thực hiện các lệnh. * Ví dụ 1: Vẽ hình vuông bằng các câu lệnh không sử dụng phần mềm vẽ Paint. Ban đầu học sinh có thể chưa hiểu rõ công việc trên là như thế nào. Nhưng nếu như giáo viên đưa ra ý tưởng: Hãy hình dung hình vuông gồm có bốn cạnh và mỗi lần vẽ xong một cạnh thì sẽ có một lệnh quay phải (theo chiều kim đồng hồ) để vẽ cạnh tiếp theo tiếp tục như vậy cho đến khi có hình vuông. Học sinh sẽ nghĩ ngay ra muốn làm được công việc trên chúng ta chỉ có thể sử dụng đầu tiên là lệnh tiến tới FD và lệnh quay RT các em có thể viết như sau: FD 100 RT 360/4 FD 100 RT 360/4 FD 100 RT 360/4 FD 100 RT 360/4 * Ví dụ 2: Sử dụng câu lệnh lặp để viết lệnh vẽ tam giác. Học sinh sẽ rất khó khăn trong việc đưa ra ý tưởng đúng cho câu lệnh. Bây giờ hãy đặt ra vấn đề này cho học sinh: Chúng ta quan sát lệnh tiến tới FD và lệnh RT được viết mấy lần hãy tìm cách viết các lệnh trên cho ngắn gọn. Có thể học sinh sẽ đưa ra nhiều cách trong đó có một cách là viết lệnh tiến tới (FD) và lệnh (RT) viết lại ba lần 3 (FD 100 RT 360/3) đó chính là ý tưởng của bài tập trên từ đó học sinh sẽ nhanh chóng hiểu ra vấn đề và nhớ kĩ. FD 100 RT 360/3 FD 100 RT 360/3 REPEAT 3 [FD 100 RT 360/3 FD 100 RT 360/3 - Việc giáo viên sử dụng những liên hệ gần gũi từ thực tế này giúp cho quá trình dạy và học diễn ra một cách sôi nổi và hấp dẫn giúp học sinh chủ động nắm vững kiến thức. c. Tích hợp trò chơi trong bài học: - Học sinh bao giờ cũng thích vừa học vừa chơi, chơi để lĩnh hội tri thức mới từ trò chơi, chơi để làm cho không khí lớp học trở nên vui vẻ, tạo ra sự đoàn kết giữa các em, giảm căng thẳng trong các giờ học. Nếu chúng ta chịu khó nghĩ ra các trò chơi có hàm ý nội dung cần truyền đạt trong trò chơi ấy chắc chắn các em sẽ tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả và không thấy chán mỗi khi đến giờ tin học, nếu giáo viên biết cách sắp xếp thời gian hợp lý tổ chức trò chơi cho học sinh thì học sinh rất hào hứng học.
  13. * Ví dụ 1: Trong tiết 53 – Bài 2: Các lệnh của Logo, giáo viên có thể cho học sinh chơi trò chơi tiếp sức: Chọn hai đội lên bảng (khoảng 3 học sinh/ đội) để viết tất cả các lệnh đã học. Học sinh còn lại dưới lớp gấp sách vở và lấy vở nháp viết. Như vậy sau trò chơi các em vừa nhớ hết các lệnh trong Logo lại vừa bổ sung thêm vốn từ mới trong Tiếng Anh. * Ví dụ 2: Để bước vào tìm hiểu câu lệnh lặp (Bài 5: Sử dụng câu lệnh lặp), để các em hiểu ý tưởng của lệnh lặp giáo viên có thể chuẩn bị một hộp đựng các hình cơ bản và có cả quà trong đó. Chọn 5 học sinh lần lượt lên bảng bốc thăm và viết các lệnh để vẽ hình mình bốc được, người viết được các lệnh sẽ được phần thưởng chính là gói quà trong hộp của hình tương ứng. Sau đó giáo viên có thể yêu cầu học sinh thắng cuộc nêu ý tưởng để viết được câu lệnh đó. - Như vậy sẽ giảm bớt sự trừu tượng của các lệnh, các em bị cuốn vào hoạt động và lời giảng của giáo viên, từ đó giúp các em hiểu nguyên lý của câu lệnh và không còn tâm lý sợ tìm hiểu bài tập chỉ toàn các câu lệnh mà các em cho là khô khan, khó hiểu. d. Sử dụng sơ đồ tư duy với phần mềm Mind Map: - Theo Tony Buzan - là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map(bản đồ tư duy): “Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, bản đồ tư duy sẽ giúp học sinh sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian, ghi nhớ tốt hơn, nhìn thấy bức tranh tổng thể, ngoài ra còn có thể tổ chức và phân oạil suy nghĩ của học sinh”. *Ví dụ : Khi dạy bài “Bài 5: Sử dụng câu lệnh lặp" (Tiết 62), tôi chốt kiến thức bằng cách trình bày một bản đồ tư duy lên bảng: Nội dung chính của bài được đặt tại vị trí trung tâm của sơ đồ, các đơn vị kiến thức được trình bày theo các nhánh, các nhánh này lại được chia thành nhiều nhánh con, chúng được thể hiện với các màu phấn khác nhau, từ đó có thể bổ sung, chỉnh sửa sao cho hoàn thiện, với cách trình bày như thế giúp học sinh sáng tạo hơn, ghi nhớ tốt hơn, khi kiểm tra bài cũ, các em thuộc và nhớ lâu hơn. Tăng khả năng hiểu và đọc hiểu của học sinh, giúp các em thấy thú vị khi học tập. Nếu ta sử dụng phần mềm vẽ bản đồ tư duy để thiết kế và sử dụng nó để trình chiếu lại càng làm cho học sinh hứng thú hơn. Dưới đây là một thiết kế bằng bản đồ tư duy Xmindmap 7.5(Phần mềm trong sách hướng dẫn Tin học lớp 5). - Khi học thì học sinh không cần vẽ giống giáo viên mà có thể vẽ theo ý mình, miễn là các em biết dùng các đường nét, màu sắc khác nhau để thể hiện các nội dung khác nhau. Trong sách hướng dẫn Tin học lớp 5 có phần mềm Xmind Map 7.5 và đã có bản cài đặt trên máy tính HS. Chính vì vậy khi học các em càng thấy hào hứng có nhiều HS phát huy tính tư duy sáng tạo rõ rệt hơn mỗi khi sử dụng bản đồ tư duy củng cố kiến thức, thậm chí thiết nghĩ nếu em nào vận dụng tốt phương pháp này cho các môn học mang nặng tính lý thuyết thì sẽ giúp các em rất nhiều trong quá trình ghi nhớ và phân loại kiến thức. - Nhờ các công cụ đa phương tiện của máy tính như: văn bản (text), đồ họa (graphic), hình ảnh (image), âm thanh (sound), hoạt cảnh (video), giáo viên sẽ xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung người học, dễ dàng thể hiện được các phương pháp sư phạm, tăng khả năng tích cực chủ động tham gia học tập của người học. Bên cạnh việc sử dụng phương tiện hỗ trợ như giáo án điện tử, giáo viên có thể kết hợp với nhiều phần mềm khác như: bản đồ tư duy,
  14. phần mềm Violet chơi các trò chơi vượt chướng ngại vật, Thi ai nhanh hơn, trò chơi ô chữ, giúp bài giảng sinh động hơn, học sinh hứng thú học tập và dễ dàng tiếp thu bài. * Ví dụ: Đối với Tiết 61 - Bài 5: Sử dụng câu lệnh lặp giáo viên dạy theo phương pháp thông thường thì học sinh sẽ không nhớ và không hiểu việc sử dụng câu lệnh lặp như thế nào. Nhưng nếu giáo viên dùng giáo án điện tử trình chiếu một đoạn lệnh đơn giản (VD: Vẽ hình vuông) và minh họa cho học sinh thì học sinh sẽ hiểu và nhớ lâu hơn. Tiếp theo giáo viên kết hợp máy tính và máy chiếu để hướng dẫn học sinh các bước để thực hiện câu lệnh lặp thông qua các lệnh đơn mà các em đã viết trước đó số lệnh đơn viết để vẽ hình vuông được viết lại mấy lần thì sau khi sử dụng lệnh Repeat thì chỉ cần viết một câu lệnh gắn gọn và chú ý chỉnh chạy chương trình sẽ giúp học sinh nắm vững hơn. * Ví dụ: Để học sinh hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của câu lệnh lặp, chẳng hạn qua bài viết các lệnh vẽ hình tam giác, chúng ra có thể sử dụng bản đồ tư duy để mô phỏng cho các em. * Hiệu quả: Sau khi áp dụng bản đồ tư duy phân tích câu lệnh và cách sử dụng câu lệnh bằng máy chiếu trực quan HS nhận biết câu lệnh nhanh hơn, phân biệt và ghi nhớ câu lệnh đơn thông thường và câu lệnh lặp được khắc sâu hơn có khả năng sử dụng câu lệnh lặp để vẽ các hình nhiều cạnh. Sử dụng phần mềm quản lý phòng thực hành Netsupport Schoolhạn chế HS mở các cửa sổ khác ngoài yêu cầu bài tập của GV. e. Sử dụng phần mềmNetsupport School hỗ trợ trong dạy học: - Đối với bộ môn Tin học giờ thực hành rất quan trọng. Nếu giáo viên chỉ dạy lí thuyết mà không chú trọng đến thực hành thì sẽ không khắc sâu được kiến thức cho học sinh đồng thời học sinh không biết được những lỗi mà mình mắc trong quá trình viết câu lệnh. Đối với học sinh vì hầu hết đều ít tiếp xúc với máy tính nên các em rất háo hức mong chờ tiết thực hành nên nếu như giáo viên thường xuyên cho các em thực hành trong giờ dạy cũng như giờ thực hành thì học sinh sẽ rất hào hứng. - Để buổi thực hành có hiệu quả, giáo viên nên hướng dẫn trước một số công việc trên máy chiếu trong phòng thực hành để học sinh quan sát sau đó để các em tự thực hành, đồng thời GV theo dõi, quan sát quá trình thực hành của
  15. HS bằng phần mềm quản lý phòng thực hành Netsupport Schoolđể can thiệp kịp thời khi HS gặp khó khăn. * Giáo viên có thể quan sát hoạt động của máy con và hướng dẫn học sinh thông qua phần mềm Giáo viên có thể hướng dẫn hoặc trình chiếu bài dạy ở máy giáo viên cho HS quan sát trên màn hình máy HS thay cho máy chiếu như sau: Nháy chuột phải lên biểu tượng của máy con Show Xuất hiện hộp thoại Nháy nút lệnh Show, chọn These Clients rồn chọn Show để trình chiếu cho cả lớp quan sát. * Cho phép máy con trình chiếu cho cả lớp xem và Khóa máy con khi cần thiết: GV có thể cho phép HS trình diễn thao tác trên máy của mình để cho các HS còn lại quan sát trên màn hình máy con thay cho máy chiếu như sau: Nháy chuột phải lên biểu tượng của máy con sẽ trình diễn cho cả lớp xem Show Xuất hiện hộp thoại chọn Exhibit this Student, xuất hiện hộp thoại, chọn Exhibit. Bây giờ GV yêu cầu HS đó trình diễn. Để ổn định lớp GV có thể khóa một số hoặc tất cả các máy con bằng cách Chọn máy con cần khóa, nếu khóa tất cả thì không cần chọn máy con nào nháy vào nút lệnh Lock để khóa. Để mở khóa ta làm tương tự chọn máy con cần mở còn mở tất cả thì không cần chọn máy con nào rồi nháy vào UnLock để mở khóa. * Copy dữ liệu lên máy conđể giao bài tập và nhiệm vụ cho học sinh: Trong quá trình giảng dạy GV cần đưa dữ liệu đến máy HS đểgiao nhiệm vụ và bài tập cho HS thông qua các tập tin. Nháy chuột vào nút lệnh Send/Collect và chọn dòng lệnh Send Word khi đó xuất hiện hộp thoại Quick Send Nháy vào nút lệnh File Tranfer và chọn File Distribution Chọn thưmục chứa dữ liệu cần chép trên cây thư mục bên trái cửa sổ, chọn dữ liệu cần sao chép đến máy con trong cửa sổ bên phải, chọn nơi copy đến và máy sẽ được copy đến trong cửa sổ phía dưới Nháy vào nút Copy File để copy dữ liệu. Sau đó nháy chuột vào nút lệnh Send/Collect và chọn dòng lệnh Send Word khi đó xuất hiện hộp thoại Quick Send. Nháy nút Browse để chọn tập tin cần giao.Chỉ định thư mục tại máy con học sinh để sao chép các tập tin vào. Có thể chọn Desktop hoặc Documents. Sau đó nháy nút Send để gửi tập tin đến máy con. * Hiệu quả: Sau khi sử dụng một số chức năng của phần mềm và ứng dụng phần mềm trongcông tác giảng dạy và quản lí phòng Tin học. Mỗi chức năng đều được áp dụng thì học sinh trong quá trình học chủ động hơn, hứng thú hơn, tập trung tối đa xây dựng bài trong quá trình học. Do đó sẽ góp phần không nhỏ trong quá trình đổi mới phương pháp, cách thức dạy học phù hợp với xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại. Không những ứng dụng cho môn Tin học mà còn có thể ứng dụng cho tất cả các môn học khác nữa. 3. Tính mới của giải pháp:
  16. - Tạo không khí học tập tích cực, mỗi giờ học là một niềm vui niềm say mê trong học tập của HS. GV luôn đưa ra những thách thức vừa sức, tổ chức những hoạt động tự lực của HS trong từng tiết học. -Kết hợp nhiều phương pháp với phần mềm dạy học khác nhau nhằm gây hứng thú với HS và giúp HS chủ động nắm bắt kiến thức. - Khai thác triệt để tác dụng của các thiết bị dạy học, đặc biệt là dụng cụ trực quan và các phần mềm hỗ trợ Violet, Netsupport School, Mind map,... có như vậy mới gây được hứng thú học tập của các em. Vận dụng các kiến thức trong bài dạy vào các hoạt động thực tế có liên quan và giải thích cụ thể từ đó các em có nhu cầu tìm hiểu về môn học. - Đưa ra những giải pháp giúp cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn Tin học, cải tiến giải pháp quản lí các máy tính của HS trong phòng thực hành và áp dụng để thay thế máy chiếu trong một số trường hợp. Vì vậy, giáo viên cần xác định đúng mức nội dung thực hành, phải vừa sức với học sinh, thuộc nội dung học sinh đã được nghiên cứu, dễ tổ chức thực hiện trong điều kiện trang bị máy tính hiện có của nhà trường. - Giúp GV quản lý hoạt động giờ học nhẹ nhàng vui tươi, kích thích tư duy cho học sinh thoải đam mê sáng tạo để tạo ra sản phẩm bằng lập luận của bản thân nhằm nâng cao chất lượng trong dạy học. - Giúp HS tận dụng tối đa thời gian thực hành, thuận tiện hơn trong việc nộp bài kiểm tra. Nhằm nâng cao ý thức tự giác và tinh thần hăng say học tập của HS. - Nghiên cứu về thực trạng học tập, một số giải pháp nhằm nâng cao tính chủ động, tính tự giác trong giờ học Tin học của HS Trường TH thị trấn Cam Lộ năm học 2020 - 2021 và 2021 - 2022 từ đó tìm ra các giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Tin học cũng như quản lý phòng thực hành tối ưu hơn và đặc biệt là đổi mới trong kiểm tra, đánh giá đáp ứng chương trình GDPT 2018 trong thời gian tới. 4. Tính thực tiễn của sáng kiến: - Với những kết quả đã đạt được trên thực tế, cùng với các giải pháp cụ thể các phần mềm được áp dụng phổ biến có tính năng là dễ sử dụng, thân thiện và phương tiện phòng máy đáp ứng tốt như hiện nay thì việc áp dụng đề tài vào thực tiễn là điều hết sức dễ dàng và mang tính khả thi cao. - Hoạt động dạy của GV và việc học của HS có sự chuyển biến rất mạnh mẽ. HS tích cực hơn, chủ động hơn, tính tư duy sáng tạo nhạy bén hơn thể hiện rõ hơn nữa qua chất lượng mũi nhọn trong nhà trường. Cụ thể có 01 học sinh ưu tú đại diện cho HS toàn trườngtham gia dự thi vàđạt giải khuyến khích Tin học trẻ toàn quốc năm học 2020-2021 đó là: Em Phạm Phú Bình học sinh lớp 5A3. 5. Hiệu quả của sáng kiến: Qua thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài tôi nhận thấy: - Với mục đích khắc phục tình trạng học sinh thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, chưa có mục đích và phương pháp học tập đúng đắn, để tạo hứng thú cho học sinh tôi đã áp dụng các giải pháp nêu trên đã đạt được kết quả đó là: - Về mặt nhận thức: Các em cần nhận thức được là học tập để làm gì và phải học tập như thế nào để nắm được kiến thức cơ bản.
  17. - Về mặt hành động: Các em chú ý đến bài giảng, tham gia hăng say vào các hoạt động dạy và học do giáo viên yêu cầu. - Trong giờ học HS đã chú ý hơn, tích cực hơn, đã kích thích được khả năng tư duy sáng tạo, tự tin của học sinh, các em nắm bài một cách chủ động không máy móc. Sau một thời gian áp dụng các giải pháp nói trên ở những lớp trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy đa số học sinh đều rất hứng thú học tập, không khí giờ học vui vẻ, sôi nổi hơn, các em tích cực xây dựng bài, số lượng học sinh làm việc riêng trong giờ gần như không còn. Các em đã tự tin làm bài, mạnh dạn phát biểu ý kiến và quan trọng nhất là thái độ của các em.Tôi thấy trong ánh mắt của các em hiện lên niềm vui, phấn khởi vì đã chủ động tiếp thu bài giảng một cách say mê. Kết quả số HS xếp loại HTT, HT tăng lên, không còn HS xếp loại CHT môn học.Đó cũng là niềm hạnh phúc không nhỏ của người GV đứng lớp. - Việc áp dụng SKKN này vào thực tiễn giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn Tin học của HS, giúp các em vừa ôn luyện được kiến thức cũ, phát hiện nội dung kiến thức mới. HS học tập tích cực, hào hứng, chú ý và tham gia xây dựng bài sôi nổi hơn. Đặc biệt các em ghi nhớ kiến thức lâu và chất lượng đi lên rõ rệt. * Khi chưa áp dụng sáng kiến: * Năm học 2020 - 2021: Thực hành Tổng Lớp Tự thao tác Thao tác cần có hướng dẫn Chưa biết thao tác số SL % SL % SL % 5A1 35 13 37.15 17 48.57 5 14.28 5A2 34 12 35.30 19 55.88 3 8.82 5A3 23 8 33.33 13 58.33 2 8.34 5A4 24 10 41.67 11 45.83 3 12.50 * Năm học 2021 - 2022: Thực hành Tổng Lớp Tự thao tác Thao tác cần có hướng dẫn Chưa biết thao tác số SL % SL % SL % 5A1 32 10 31.25 15 46.88 7 21.87 5A2 33 12 36.36 15 45.45 6 18,19 5A3 35 13 37.14 18 51.43 4 11.43 5A4 31 9 29.03 17 54.84 5 16.13 5A5 32 9 28.13 16 50.0 7 21.87 * Sau khi áp dụng sang kiến: * Cuối năm học 2020 - 2021: HTT HT CHT Lớp Tổng số SL % SL % SL %
  18. 5A1 35 27 77.14 8 22.86 5A2 34 26 76.47 8 23.53 5A3 23 19 82.61 4 17.39 5A4 24 20 83.33 4 16.67 * Năm học 2021 - 2022: HTT HT CHT Lớp Tổng số SL % SL % SL % 5A1 32 22 68.75 10 31.25 5A2 33 25 75.76 8 24.24 5A3 35 27 77.14 8 22.84 5A4 31 25 80.65 6 19.35 5A5 32 25 78.13 7 21.87 Cụ thể qua bảng số liệu trên đây có thể nhận thấy tỉ lệ HS HTT và HT đã tăng lên rõ rệt đồng thời tỉ lệ HS CHTkhông còn.
  19. III. KẾT LUẬN 1. Kết luận: Với đối tượng học sinh và cách nhìn nhận của các em về môn học nên sự chuyển tải kiến thức không phải là vấn đề đơn giản. Do vậy cần phải có thời gian và phải vận dụng linh hoạt, thường xuyên, kiên trì và cần phải có nhiều tài liệu tham khảo. Tạo hứng thú cho học sinh là vấn đề quan trọng vì nó ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu và vận dụng kiến thức. Nên giáo viên cần phải thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp để có thể tham khảo thêm các phương pháp mới. Giáo viên cần có sự chủ động, có kế hoạch trong từng ngày, từng giờ lên lớp. Kinh nghiệm thực tiễn dạy học và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy để nâng cao chất lượng dạy học cần có các điều kiện sau: - Tạo không khí học tập tích cực, GV phải tạo ra mỗi giờ học là một niềm vui niềm say mê trong học tập của HS. GV luôn tạo ra những thách thức vừa sức, tổ chức những hoạt động tự lực của HS trong từng tiết học. - Kết hợp nhiều phương pháp với phần mềm dạy học khác nhau nhằm gây hứng thú với HS và giúp HS chủ động nắm bắt kiến thức. - Khai thác triệt để tác dụng của các thiết bị dạy học, đặc biệt là dụng cụ trực quan và các phần mềm hỗ trợ Violet, Netsupport School, Mind map,... có như vậy mới gây được hứng thú học tập của các em. - Bên cạnh đó GV phải biết vận dụng các kiến thức trong bài dạy vào các hoạt động thực tế có liên quan và giải thích cụ thể từ đó các em có nhu cầu tìm hiểu về môn học. Từ khi triển khai SKKN đã thu được những kết quả nhất định như: Chất lượng học sinh học môn Tin học được nâng lên. Các em hăng say, tự giác trong giờ học và kiểm tra. - Tạo không khí học tập tích cực, GV phải tạo ra mỗi giờ học là một niềm vui niềm say mê trong học tập của HS. GV luôn tạo ra những thách thức vừa sức, tổ chức những hoạt động tự lực của HS trong từng tiết học. 2. Đề xuất, kiến nghị: -Đối với nhà trường: Tiếp tục duy trì các hoạt động ngoài giờ lên lớp tổ chức:"Đố vui để học", "Em yêu Tin học",... Với cơ sở vật chất, phòng tin học hiện tại đã đáp ứng được nhu cầu dạy và học trong nhà trường. Nhưng với số lượng máy tínhthường hư hỏng nhiều cần phải thay thế một số linh kiện nên có nhiều lúc số máy không đáp ứng đủ so với tỷ lệ học sinh dẫn đến trong mỗi tiết học thường từ 3 – 4 học sinh thực hành chung một máy. Đề nghị trong những năm học tới nhà trường sửa chữa và bổ sung thêm máy tính cho phòng thực hành tin học để đảm bảo tỷ lệ 2 học sinh/máy trong những giờ thực hành. - Đối với giáo viên:Thường xuyên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác dạy học đáp ứng với chương trình GDPT 2018 trong thời gian tới, biết khai thác và sử dụng triệt để các phần mềm ứng dụng và thông tin trên mạng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường. + GV cần kết hợp nhiều phương pháp với phần mềm dạy học khác nhau nhằm gây hứng thú với HS và giúp HS chủ động nắm bắt kiến thức.
  20. + Khai thác triệt để tác dụng của các thiết bị dạy học, đặc biệt là dụng cụ trực quan và các phần mềm hỗ trợ Violet, Netsupport School, Mind map,... có như vậy mới gây được hứng thú học tập của các em. + Bên cạnh đó GV phải biết vận dụng các kiến thức lồng ghép học thông qua chơi trong bài dạy vào các hoạt động thực tế có liên quan và giải thích cụ thể từ đó các em có nhu cầu tìm hiểu về môn học. - Đối với phụ huynh: Thông tin hai chiều cụ thể, thường xuyên phối hợp với nhà trường hiểu được mục đích, ý nghĩa chương trình sách giáo khoa, hiểu được chủ chương giáo dục theo quan điểm cải cách đổi mới. Khi sinh hoạt ngoại khóa mời phụ huynh cùng tham gia trải nghiệm, giúp phụ huynh nhận thức được sâu sắc hơn về công tác giáo dục. Đồng thời phụ huynh cũng cố gắng trang bị cho mình những thiết bị cần thiết như: điện thoại có kết nối mạng (nếu có máy tính kết nối mạng thì càng tốt), để tiện trao đổi với GV để nắm bắt tình hình học tập của con em mình một cách kịp thời. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn 3,4,5 Âm nhạc _ Tin học, các bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này. Trên đây là một số ý kiến của tôi rút ra sau khi thực hiện đề tài, chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý của các đồng chí, đồng nghiệp trong hội đồng bộ môn Huyện để đề tài được hoàn thiện và áp dụng có hiệu quả hơn. Cam Lộ, ngày 13 tháng 5 năm 2021 XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Tôi xin cam đoan đây là SKKN của ĐƠN VỊ mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người thực hiện Phan Thị Hồng Oanh