SKKN Tích hợp kiến thức liên môn vào giảng dạy bài 44 tiết 54 Ancol etylic - Võ Thị Hiền
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Tích hợp kiến thức liên môn vào giảng dạy bài 44 tiết 54 Ancol etylic - Võ Thị Hiền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_tich_hop_kien_thuc_lien_mon_vao_giang_day_bai_44_tiet_5.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Tích hợp kiến thức liên môn vào giảng dạy bài 44 tiết 54 Ancol etylic - Võ Thị Hiền
- A.PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài. a. Lý do chọn đề tài. Trong chương trình Hóa học lớp 9, phần hóa học hữu cơ có đưa vào dạy bài Ancol etylic. Nội dung bài học khá dài với năm nội dung lớn, trong đó nội dung nào cũng quan trọng và có tính ứng dụng thực tiễn cao. Với một hệ thống đơn vị kiến thức nhiều như vậy nếu dạy theo phương pháp thông thường thì tương đối vất vả cho giáo viên khi dạy và học sinh lĩnh hội kiến thức. Vì vậy tôi nghĩ cần đưa ra một phương pháp dạy như thế nào đó để gây hứng thú cho học sinh khi học? Bằng phương pháp tích hợp các kiến thức liên quan của bộ môn vào bài dạy cùng với kiến thức của các bộ môn khác như Toán học, Vật lí, Sinh học, Giáo dục công dân và những kiến thức các em có được trong thực tiễn đời sống hàng ngày học sinh sẽ hứng thú học tập hơn từ đó tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn. Trước thực tế quá trình giảng dạy bài Ancol etylic chủ yếu cung cấp các kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa bằng phương pháp truyền thụ một cách khô khan khiến học sinh tiếp thu kiến thức thụ động, hời hợt, không có lòng yêu thích môn học, thậm chí có nhiều em cảm thấy chán bộ môn Hóa học. Xuất phát từ thực tế đó tôi chọn đề tài:Tích hợp kiến thức liên môn vào giảng dạy bài 44 tiết 54 “Ancol etylic” để nghiên cứu. b. Tính cấp thiết của đề tài. Trong bài Ancol etylic hệ thống kiến thức sau khi học học sinh cần đạt tương đối nhiều, đơn vị kiến thức nặng, trong khi đó một số kiến thức đã được đề cập đến trong cùng bộ môn hoặc trong các bộ môn khác như Toán học, Vật lí, Sinh học, Giáo dục công dân và kiến thức từ thực tiễn cuộc sống. Dạy học tích hợp giúp gắn kết kiến thức, kĩ năng, thái độ các môn học với nhau, với thực tiễn đời sống xã hội, làm cho học sinh yêu thích môn học hơn và yêu cuộc sống, biết cách bảo vệ sức khỏe, sử dụng rượu bia có hiệu quả. Biết vận dụng các kiến thức được học để giải thích các vấn đề xảy ra trong thực tiễn 1
- cuộc sống, từ đó tự xây dựng ý thức và trách nhiệm của bản thân đối với sức khỏe của bản thân và những người xung quanh. Tích hợp trong giảng dạy sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cực tự học, tự suy luận và tư duy sáng tạo. Qua việc dạy học tích hợp sẽ giúp giáo viên bộ môn không chỉ nắm chắc kiến thức bộ môn mình dạy mà còn không ngừng trao dồi kiến thức các môn học khác để tổ chức, hướng dẫn các em giải quyết các tình huống, vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh và hiệu quả. Đối với giáo viên việc vận dụng dạy học tích hợp môn Hóa học khi có kết hợp các kiến thức của các môn học khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những vấn đề đặt ra, nâng cao trình độ, kĩ năng giảng dạy. Từ đó tổ chức hướng dẫn học sinh sẽ linh hoạt hơn, sinh động hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Mặt khác đây là một bài học cụ thể nhưng nó đại diện cho một loại hợp chất hữu cơ nên nếu học sinh nắm kĩ được nội dung bài học thì sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho việc tiếp thu kiến thức sau này và tạo được điểm nhấn về loại hợp chất có tên gọi Ancol cho các em. Khi dạy phần tính chất vật lí giáo viên không tích hợp những hiểu biết thực tế đời sống thì học sinh không biết được ý nghĩa của những con số trên nhãn mác chai rượu, lon bia mà các em vẫn thường thấy trên bàn tiệc. Nghiên cứu ứng dụng của Ancol etylic để biết tác dụng và tác hại của rượu bia đối với đời sống hàng ngày 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tích hợp kiến thức liên môn vào dạy bài: “ Bài 44 tiết 54: Ancol etylic” - Phạm vi nghiên cứu: Tích hợp kiến thức bộ môn và kiến thức các bộ môn khác như: Toán học, Vật lí, Sinh học, Giáo dục công dân và kiến thức thực tế . những đơn vị kiến thức trùng lặp hoặc liên quan. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
- - Mục tiêu: Giáo viên vận dụng kiến thức liên môn để giảng dạy bài Ancol etylic; học sinh vận dụng kiến thức liên môn để tư duy, tiếp thu, lĩnh hội kiến thức bài Ancol etylic. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Tích hợp kiến thức trong bộ môn Hóa học để giảng dạy phần cấu tạo phân tử và tính chất hóa học của Ancol etylic. + Tích hợp kiến thức các bộ môn khác như: Toán học, Vật lí, Sinh học, Giáo dục công dân và kiến thức thực tế vào dạy phần tính chất vật lí, ứng dụng và điều chế ancol etylic. 4. Phương pháp nghiên cứu. Vận dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù phù hợp với bộ môn như: Thí nghiệm, quan sát, phân tích, điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh, tổng hợp. 5. Giả thuyết khoa học Nếu đề tài này của tôi được nghiên cứu kĩ và ứng dụng vào dạy bài ancol etylic sẽ cung cấp cho học sinh cách lĩnh hội kiến thức dễ dàng và giáo viên sẽ có phương pháp dạy chủ động, hiệu quả hơn. 6. Dự báo những đóng góp của đề tài Đề tài: Tích hợp kiến thức liên môn vào giảng dạy bài 44 tiết 54 “Ancol etylic” của tôi nếu được vận dụng có hiệu quả có thể giúp giáo viên dạy bài Ancol etylic được tốt hơn, học sinh hứng thú học tập, yêu thích bộ môn hơn trong quá trình học tập để chiếm lĩnh tri thức hóa học. B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn a. Cơ sở lí luận Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành càng rộng. Chính vì thế việc giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển của khoa học, 3
- không thể giảng dạy các khoa học như là các lĩnh vực tri thức riêng lẻ. Qua thực tế quá trình dạy học tôi thấy rằng việc kết hợp kiến thức các môn học vào để giải quyết một vấn đề nào đó trong một môn học là việc hết sức cần thiết. Mục tiêu của giáo dục ngày nay là trang bị nhiều kĩ năng sống cho học sinh. Trong khi thời gian học sinh ngồi trên ghế nhà trường là có hạn, cho dù những kiến thức trên rất cần thiết thì chúng ta cũng không thể đưa thêm các kiến thức đó thành môn học riêng, môn học mới vì lí do phải đảm bảo không quá tải trong học tập để phù hợp với sự phát triển của học sinh. Dạy học tích hợp sẽ góp phần giải quyết các nội dung, kỹ năng cần thiết đó và đồng thời góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường. Hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng theo yêu cầu bài học, phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh phù hợp với môn học thực hiện. Làm cho học sinh thấu hiểu các ý nghĩa của các kiến thức cần tiếp thu, bằng cách tích hợp một cách hợp lí và có ý nghĩa các nội dung gần với cuộc sống vào môn học, bài học từ đó tạo sự xúc cảm nhận thức cũng sẽ làm cho học sinh nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn nhận thức và việc học tập khi đó mới trở thành niềm vui và hứng thú của học sinh. b. Cơ sở thực tiễn Các kiến thức hóa học đều được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất, vào kĩ thuật và công nghệ phục vụ cuộc sống của con người. Dạy học Hóa học chính là dạy một môn khoa học đã và đang tồn tại và phát triển, một khoa học sống động, phong phú gắn liền với môi trường xung quanh. Do vậy dạy học Hóa học không thể tách rời với thực tiễn cuộc sống mà phải luôn tạo cơ sở với những tình huống xuất phát và giải trình thích hợp, phải dựa trên những đặc điểm nhận thức của học sinh. Hiện nay, con người chúng ta đang đứng trước những hiểm họa của thiên tai, các vấn nạn môi trường, sức khỏe con người bị đe dọa, chất lượng sống bị suy giảm. Đó chính là do quá trình tác động của con người vào môi trường không tuân theo quy luật phát triển của tự nhiên. Hóa học là một trong những môn học có vai trò quan trọng gắn liền với các hiện tượng về khoa học, tự nhiên và môi trường. 4
- Tích hợp trong giảng dạy sẽ giúp học sinh phát huy sự suy nghĩ, tư duy, sáng tạo trong học tập và ứng dụng vào thực tế đời sống. Nó góp phần phát triển năng lực tư duy, năng lực tự học, năng lực tìm tòi sáng tạocủa mỗi học sinh. Trong thời gian có hạn, tôi thực hiện tích hợp kiến thức môn Hóa học, Toán học, Vật lý, Sinh học, Giáo dục công dân vào nội dung dạy học trong môn hóa học 9 với thời gian 1 tiết bài Ancol etylic. Kiến thức bài học là nội dung gần gũi xung quanh cuộc sống của các em, lựa chọn các nội dung cơ bản để giúp các em có cái nhìn thực tế, hiểu sâu hơn về các kiến thức được học qua thực tiễn cuộc sống. Giúp các em có kỹ năng liên hệ, xử lý các tình huống trong thực tế, từ các kiến thức đã được tích hợp trong bài học. 2. Những số liệu điều tra, khảo sát thực tế, thực trạng khi dạy tại đơn vị. Để nắm được mức độ hiểu bài của học sinh khi học bài 44 tiết 54 - Ancol etylic ở đơn vị công tác tôi đã phát phiếu điều tra khảo sát tại 3 lớp 9A, 9B, 9C tại trường trung học cơ sở nơi tôi công tác trong năm học 2016-2017 với 4 câu hỏi có nội dung như sau: Câu 1: Thể tích ancol etylic nguyên chất có trong 200 ml ancol etylic 250 là : A. 25 ml B. 50 ml C. 75 ml D. 100 ml Câu 2.Công thức cấu tạo ngắn gọn của Ancol etylic là: A. CH3-CH2-OH B. CH3-O-CH3 C. CH2-CH2-OH2 D. CH2-CH3-OH Câu 3. Ancol etylic tác dụng được với dãy các chất nào sau đây: A. KOH, Na, CH3COOH, O2 B. Na, CH3COOH, O2, C2H4 C. Na, K, CH3COOH, O2 D. NaOH, K, CH3COOH, O2 Câu 4. Tác hại của rượu bia (Ancol etylic) đối với sức khỏe con người: A. Uống rượu gây độc cho gan, gây suy thận, gây ra các bệnh về tim mạch, gây viêm loét dạ dày 5
- B. Uống rượu tác động lên hệ thần kinh gây ảo giác, không kiểm soát được hành vi. C. Uống rượu bia khi tham gia giao thông sẽ ảnh hưởng tới trật tự an toàn giao thông, gây tai nạn giao thông. D. Cả A, B và C Đáp án: Câu 1 2 3 4 Đáp án B A C D Kết quả thu được Câu Đáp án Lớp 9A ( 37 HS) Lớp 9B ( 31 HS) Lớp 9C ( 31 HS) SL % SL % SL % A 10 27 9 29 4 13 B 16 43 14 45 25 81 Câu 1 C 5 14 4 13 1 3 D 6 16 4 13 1 3 A 16 43 14 45 28 90 B 2 5 1 3 0 0 Câu 2 C 7 19 6 20 1 3 D 12 33 10 32 2 7 A 9 24 8 26 4 13 B 5 14 3 9 1 3 Câu 3 C 15 40 12 39 22 71 D 8 22 8 26 4 13 A 8 22 5 16 3 9,5 B 7 19 5 16 3 9,5 Câu 4 C 9 24 7 23 4 13 D 13 35 14 34 21 68 3. Phân tích, đánh giá những vấn đề thực tiễn. Tôi thực hiện khảo sát mức độ nhận thức của học sinh qua 4 câu hỏi trên với nội dung hướng đến là: Tích hợp kiến thức môn toán học để trả lời câu hỏi 1 6
- có được 55/99 bài có câu trả lời đúng. Đây là kết quả tương đối khả quan nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu đặt ra. Câu hỏi 2 tích hợp kiến thức cùng bộ môn để đánh giá và kết quả đạt được 58/99 bài có câu trả lời đúng. Câu hỏi 3 là những kiến thức các em nắm được trong tiết học và vận dụng kiến thức bộ môn Hóa học có 49/99 bài có câu trả lời đúng. Câu hỏi 4 là vận dụng kiến thức môn giáo dục công dân, sinh học và có 48/99 bài có câu trả lời đúng. Với bốn câu hỏi đó, trong quá trình giảng dạy không vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết thì kết quả đạt được như vậy là chưa cao. Vậy nguyên nhân là do đâu? Qua thực tế giảng dạy tôi rút ra được một số nguyên nhân như sau: Một là, do giáo viên chưa chú ý đến tích hợp kiến thức cùng bộ môn Hóa học để nắm được đặc điểm cấu tạo của hợp chất hữu cơ nói chung và của ancol etylic nói riêng, trong hợp chất hữu cơ nguyên tố C luôn có hóa trị IV, nguyên tố H có hóa trị I, nguyên tố O có hóa trị II nên có một số học sinh nhận biết công thức cấu tạo của ancol etylic còn sai; câu hỏi 3 là phần tổng hợp kiến thức về tính chất hóa học của Ancol etylic, phần này các em cần có kĩ năng tóm tắt các tính chất để ghi nhớ và phân biệt với các loại hợp chất hữu cơ khác. Hai là, do giáo viên chưa chú trọng đến tích hợp môn Hóa học với các môn học khác như: Toán học, Vật lí, Sinh học, Giáo dục công dân Tích hợp kiến thức môn Toán học để tính nhanh và chính xác câu hỏi 1, Thể tích ancol etylic nguyên chất có trong 200 ml ancol etylic; Vận dụng kiến thức môn Hoá học đã học để nhận biết công thức cấu tạo thu gọn đúng trong câu hỏi 3; Tích hợp kiến thức môn giáo dục công dân vào để trả lời câu hỏi 4. Ba là, giáo viên chưa tạo được tương tác tốt giữa người dạy và người học nên các em còn tiếp thu thụ động, máy móc, chưa thực sự hứng thú, tích cực trong quá trình học. 4. Các giải pháp thực hiện Để thực hiện bài dạy có hiệu quả thì sau khi nghiên cứu kĩ nội dung bài học này tôi giành thời gian để soạn bài, để có một tiết dạy thành công thì nội dung bài soạn đóng vai trò không nhỏ. Vì vậy tôi tìm hiểu các tài liệu sách giáo khoa, sách giáo viên các bộ môn Toán học, Vật lí, Hóa học, Giáo dục công dân với những đơn vị kiến thức liên quan để vận dụng vào bài soạn, sau quá trình nghiên cứu tôi soạn bài với nội dung như sau: 7
- Hoạt động 1: Tính chất vật lí Để hiểu rõ thông tin mục này giáo viên cho học sinh quan sát ancol etylic, làm thí nghiệm hòa tan ancoletylic vào nước, hoà tan benzen vào ancol etylic từ đó nhận xét và rút ra kết luận: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh - Yêu cầu học sinh quan sát ancol - Quan sát etylic và cho biết trạng thái, màu, - Chất lỏng, không màu, mùi thơm . mùi? - Cho vài giọt ancol etylic vào nước và lắc nhẹ, nhận xét - Ancol etylic tan được trong nước. - Cho vài giọt benzen vào ancol etylic và lắc nhẹ, nhận xét - Ancol etylic hòa tan được benzen. 0 0 - Ancol etylic có t s = 78,3 C, nước sôi ở 100 0C nên người ta lợi dụng tính chất này để chưng cất rượu. → ancol etylic nhẹ hơn nước nguyên - Khối lượng riêng của ancol etylic chất. 3 là 0,8 gam/cm . Vậy ancol etylic có tính chất vật lí - Nêu tính chất vật lí của rượu etylic : gì? Là chất lỏng không màu, mùi thơm,vị cay, tan vô hạn trong nước , sôi ở 78,3 0C (Dựa vào những hiểu biết thực tế , nhẹ hơn nứơc , hoà tan được nhiều chất để trả câu hỏi) như iot, benzen.... - Trên nhãn chai bia, rượu có những con số, ý nghĩa của những → Cho ta biết độ rượu con số ấy là gì? - Vậy độ rượu là gì? - Giới thiệu cách pha, công thức → Độ rượu là số ml rượu etylic nguyên tính độ rượu. chất có trong 100ml hỗn hợp rượu và Tích hợp môn toán học nước. 8
- Drựou=V(ml ancol etylic)/ 100(ml ancol etylic+nước) - Dựa vào kiến thức môn toán học → 100ml ancol etyic 450 thì có 45ml hãy tính số ml ancol etylic có trong ancol etyic 500 ml ancol etylic 450 → 500ml ancol etyic 450 thì có x ml ancol etyic Vậy x= (500.45) : 100 = 225 (ml) Kết luận: - Tính chất vật lí . + Là chất lỏng không màu, mùi thơm , vị cay, tan vô hạn trong nước , sôi ở 78,30C , nhẹ hơn nứơc , hoà tan được nhiều chất như iot , benzen.... + Độ rượu là số ml rượu nguyên chất có trong 100 ml hỗn hợp rượu và nước. Hoạt động 2 : Cấu tạo phân tử Ancol etylic . Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh - Yêu cầu học sinh viết CTCT của - viết được 2 CTCT C2H6O H H । । H– C – C – O – H , CH3- CH2- OH. । । H H H H । । H – C– O – C – H । । Cho học sinh quan sát mô hình H H Công thức cấu tạo của ancol etylic: dạng rỗng của phân tử ancol etylic. H H Từ đó suy ra công thức viết đúng. । । Y/c HS lên bảng viết lại CTCT. H –C – C – O – H ? Phân tử ancol có gì đặc biệt( lưu । । ý liên kết của H) ? H H + Trong phân tử ancol etylic có 1 nguyên - KL: Trong phân tử ancol có 9
- nhóm (-OH) → gây ra tính chất tử H không liên kết với nguyên tử C mà đặc trưng của ancol. liên kết với O tạo thành nhóm –OH , chính nhóm này tạo ra tính chất đặc trưng của rượu etylic . Kết luận: - Cấu tạo phân tử hợp chất Ancol etylic . H H । । H– C –C – O – H , dạng rút gọn CH3- CH2- OH . । । H H + Trong phân tử rượu etylic có 1 nguyên tử H không liên kết với nguyên tử C mà liên kết với O tạo thành nhóm –OH , chính nhóm này tạo ra tính chất đặc trưng của Ancol etylic . Hoạt động 3 : Tính chất hoá học. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Các hợp chất hửu cơ đã học có →Tác dụng với oxi( phản ứng cháy) tính chất hóa học nào chung ? 1) Phản ứng cháy của rượu etylic. - Quan sát thí nghiệm, nhận xét hiện tượng - Gọi 1 học sinh lên làm thí và viết phương trình hoá học . nghiệm: Nhỏ vài giọt ancol + Hiện tượng: Nhỏ vài giọt Ancol etylic vào etylic vào chén sứ, yêu cầu học chén sứ , đốt ta thấy rượu etylic cháy với sinh nhận xét ngọn lửa màu xanh nhạt, toả nhiều nhiệt . + Dựa vào các hiện tượng trên - CO2 và H2O em hãy dự đoán sản phẩm tạo thành trong thí nghiệm ? - Nhận xét , gọi HS viết PTHH . t 0 PTHH : C2H6O + 3O2 2CO2 + 3H2O KL: Ancol etylic có phản ứng cháy. 2) Ancol etylic có phản ứng với kim loại Na. 10
- - Cho học sinh nghiên sgk nêu - Nghiên cứu thí nghiệm biểu diễn của giáo mục tiêu , các bước tiến thí viên , nhận xét hiện tượng xảy ra . nghiệm, yêu cầu học sinh quan Hiện tượng : Có bọt khí thoát ra , mẫu kim sát, nhận xét hiện tượng, và viết loại Na tan dần. PTHH của phản ứng quan sát được . - Làm thí nghiệm biểu diễn. - Gọi học sinh viết PTHH PTHH : KL: Ancol etylic phản ứng với 2C2H5OH+2Na 2C2H5ONa + H2 Natri etylat kim loại Na giải phóng khí H2 - Mở rộng: Tương tự thì Ancol etylic phản ứng với: K, Ca, Ba... cũng giải phóng H2. - Giới thiệu thí nghiệm 3) Phản ứng với Axit axetic - Làm thí nghiệm biểu diễn - Quan sát thí nghiệm biểu diễn của giáo viên , nhận xét hiện tượng và viết phương trình hoá học . + Hiện tượng: có chất lỏng, mùi thơm, không tan trong nước, nhẹ hơn nước. -Nhận xét, kết luận PTHH: CH3COOH + HO-CH2CH3 t 0 CH3COOC2H5 + H2O Kết luận: Tính chất hoá học. + Phản ứng cháy của ancol etylic : t 0 C2H6O + 3O2 2CO2 + 3H2O + Ancol etylic có phản ứng với kim loại Na : 2C2H5OH+2Na 2C2H5ONa + H2 + Ancol etylic có phản ứng với axit axetic: t 0 CH3COOH + HO-CH2CH3 CH3COOC2H5 + H2O Hoạt động 4: Nghiên cứu ứng dụng của ancol etylic. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh 11
- - Tích hợp kiến thức môn sinh học, vật lí. → cồn có tác dụng thẩm thấu cao làm Dựa vào hiểu biết của em về môn đông tụ protein giúp tiêu diệt vi khuẩn. sinh học, vật lí hãy cho biết tác Dùng cồn 700 để sát trùng vết thương. dụng của cồn trong sát trùng vết thương? Trong y tế người ta sử dụng cồn bao nhiêu độ để sát trùng vết thương? - Cho học sinh nghiên cứu sgk , nghiên cứu tranh hình ứng dụng của rượu trong sgk + Nêu ứng dụng của rượu etylic . + Nêu ứng dụng của rượu etylic . Tích hợp kiến thức môn giáo dục Dùng làm dược phẩm , đồ uống , sản xuất công dân( Tiết 1: Chăm sóc rèn cao su, sản xuất axit axetic, pha vecni , luyện thân thể-Giáo dục công pha nước hoa.... dân 6 phần bài tập) Dựa vào kiến thức môn giáo dục Nghiện rượu bia sẽ ảnh hưởng đến sức công dân lớp 6 em hãy cho biết tác khỏe, khi điều khiển phương tiện giao hại của bia rượu ? thông sẽ không làm chủ được tốc độ và - Cho học sinh nhận xét, bổ sung dễ gây tai nạn giao thông. cho đúng Kết luận: Ứng dụng của rượu etylic. + Dùng làm dược phẩm, sản xuất đồ uống , sản xuất cao su , sản xuất axit axetic, pha vecni , pha nước hoa.... + Lạm dụng rượu bia có ảnh hưởng tới sức khỏe, không nên tham gia giao thông, lứa tuổi các em không nên sử dụng rượu bia. Hoạt động 5 : Nghiên cứu phương pháp điều chế ancol etylic. Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh ? Ở địa phương em rượu được → nấu cơm, ủ lên men sau đó nấu. 12
- sản xuất bằng phương pháp nào? Nghiên cứu sgk nêu phương pháp điều chế ( Đó là phương pháp sản xuất rượu rượu etylic. thủ công) Cho học sinh nghiên sgk , nêu Lên men Tinh bột hoặc đường rượu etylic . phương pháp điều chế rượu etylic . Axit Hoặc : C2H4 + H2O C2H5OH Cho học sinh nhận xét , bổ sung cho đúng . Kết luận: - Điều chế rượu etylic . Lên men Tinh bột hoặc đường rượu etylic . Axit Hoặc: C2H4 + H2O C2H5OH Sau khi đã có bài soạn theo đúng ý tưởng đặt ra và đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng tôi tiến hành áp dụng vào bài dạy trên cả ba lớp 9A, 9B, 9C. Trong quá trình dạy, tôi đặt ra những tình huống liên quan đến thực tế cuộc sống: ví dụ như trên nhãn chai bia, rượu có những con số, vậy ý nghĩa của những con số đó? Với câu hỏi như thế này sẽ gợi tạo tính tò mò và muốn tìm hiểu của học sinh, tuy các em đã được nhìn thấy những con số này rồi nhưng để biết về nó thì các em đa phần là không biết. Để minh chứng cho con số đó giáo viên chuẩn bị một chai rượu vodca (sử dụng rượu vodca vì vodca có chai thủy tinh trong suốt, rượu không có màu) và yêu cầu học sinh quan sát và cho biết ý nghĩa của con số trên nhãn chai. Từ đó dẫn dắt để giới thiệu cách pha và tích hợp kiến thức môn toán học để tìm ra công thức tìm ra độ rượu, làm được các ví dụ liên quan đến độ rượu. Tích hợp kiến thức môn vật lí và sinh học để trả lời câu hỏi; Dựa vào những hiểu biết của em về môn vật lí và sinh học hãy cho biết tác dụng của cồn trong sát trùng vết thương ? ( Cồn có tính thấm thấu cao làm đông tụ protein giúp tiêu giệt vi khuẩn, dùng cồn 70 0 để sát trùng vết thương); Tích hợp kiến thức môn giáo dục công dân để trả lời câu hỏi: Dựa vào kiến thức môn giáo dục công dân lớp 6 em hãy cho biết tác hại của bia rượu. Trong quá trình dạy với những câu hỏi liên quan đến các môn học khác đã được học như 13
- vậy sẽ yêu cầu được học sinh phải biết tư duy, vận dụng kiến thức các bộ môn khác từ đó có lòng tin vào khoa học và có thể phát triển toàn diện. 5. Kết quả thực hiện đề tài Sau quá trình nghiên cứu và vận dụng đề tài nghiên cứu vào bài dạy, tôi thấy rằng học sinh học bớt khô khan hơn, học sinh làm việc tích cực và có hứng thú hơn, số lượng học sinh nắm được bài tăng lên. Sau khi áp dụng cách dạy tích hợp tôi sử dụng lại hệ thống câu hỏi đã khảo sát trước đó: Câu 1: Thể tích ancol etylic nguyên chất có trong 200 ml ancol etylic 250 là : A. 25 ml B. 50 ml C. 75 ml D. 100 ml Câu 2.Công thức cấu tạo ngắn gọn của Ancol etylic là: A. CH3-CH2-OH B. CH3-O-CH3 C. CH2-CH2-OH2 D. CH2-CH3-OH Câu 3. Ancol etylic tác dụng được với dãy các chất nào sau đây: A. KOH, Na, CH3COOH, O2 B. Na, CH3COOH, O2, C2H4 C. Na, K, CH3COOH, O2 D. NaOH, K, CH3COOH, O2 Câu 4. Tác hại của rượu bia (Ancol etylic) đối với sức khỏe con người: A. Uống rượu gây độc cho gan, gây suy thận, gây ra các bệnh về tim mạch, gây viêm loét dạ dày B. Uống rượu tác động lên hệ thần kinh gây ảo giác, không kiểm soát được hành vi. C. Uống rượu bia khi tham gia giao thông sẽ ảnh hưởng tới trật tự an toàn giao thông, gây tai nạn giao thông. D. Cả A, B và C Đáp án: 14
- Câu 1 2 3 4 Đáp án B A C D Sau khi áp dụng dạy học tích hợp liên môn kết quả thu được như bảng số liệu sau: Câu Đáp án Lớp 9A ( 32 HS) Lớp 9B ( 36 HS) Lớp 9C ( 33 HS) SL % SL % SL % A 6 19 8 22 3 9 B 21 66 22 61 30 91 1 C 2 6 3 8,5 0 0 D 3 9 3 8,5 0 0 A 24 75 27 75 33 100 B 1 3 2 6 0 0 2 C 2 6 2 6 0 0 D 5 16 5 13 0 0 A 4 12 5 13,5 3 9 B 3 9 2 6 0 0 3 C 20 62 24 67 28 85 D 5 17 5 13,5 2 6 A 3 9 2 6 1 3 B 2 6 2 6 1 3 4 C 5 16 5 13 1 3 D 22 69 27 75 30 91 Sau khi thử nghiệm áp dụng phương pháp giảng dạy tích hợp kiến thức môn Toán học,Vật lý, Sinh học, Giáo dục công dân vào dạy bài “Ancol etylic” hóa học 9, học sinh đã chủ động hơn trong quá trình tiếp thu nội dung kiến thức, nắm kiến thức sâu hơn đồng thời tư duy liên hệ thực tiễn được nâng lên. Các em đã giải quyết được các câu hỏi mang tính thực tiễn cao. Tiết dạy thu được kết quả khả quan: Số học sinh có bài kiểm tra đạt điểm khá giỏi được nâng lên nhiều, số học sinh có bài kiểm tra đạt điểm trung bình giảm và không có học 15
- sinh bài kiểm đạt điểm yếu so với tiết dạy trước khi áp dụng đề tài ở 3 lớp tôi phụ trách giảng dạy, cụ thể mức độ bài kiểm tra có câu trả lời đúng ở từng câu hỏi như sau: câu hỏi 1 có 73/101 bài có đáp án đúng chiếm 72,3%; câu hỏi 2 có 84/101 bài có đáp án đúng chiếm 83,2%; câu hỏi 3 có 72/101 bài có đáp án đúng chiếm 71,3%; câu hỏi 4 có 79/101 bài có đáp án đúng chiếm 78,2% . Đây là những con số thể hiện được mức độ nắm được kiến thức của học sinh sau khi áp dụng phương pháp tích hợp liên môn vào bài dạy. C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Tài liệu tham khảo. Để hoàn thành được đề tài này, trong quá trình nghiên cứu tôi đã tìm tòi nghiên cứu những tài liệu liên quan đến môn học và bài học này, qua tham gia dự giờ đồng nghiệp và xin ý kiến góp ý từ đồng nghiệp để hoàn thiện đề tài. Một số tài liệu tôi đã sử dụng là sách giáo khoa và sách giáo viên môn hóa học lớp 9, sách giáo khoa và sách giáo viên sinh học 8,9;Sách giáo khoa và sách giáo viên môn sinh học lớp 9. Sách giáo khoa ,sách giáo viên và sách bài tập môn giáo dục công dân lớp 6. Sách giáo khoa môn toán 6. Sách giáo khoa môn vật lí 8. 2. Ý nghĩa của đề tài. Đối với bản thân tôi, sau khi nghiên cứu và ứng dụng đề tài: Tích hợp kiến thức liên môn vào dạy bài: “ Bài 44 tiết 54: Ancol etylic” tôi nhận thấy bản thân có thêm hiểu biết về kiến thức các bộ môn khác, đồng thời qua quá trình tìm tòi nghiên cứu thấy được ý ngĩa và tầm quan trọng của việc tích hợp liên môn vào giảng dạy. Nó không chỉ làm cho bài dạy sinh động hơn, mà còn có những câu hỏi với yêu cầu gợi mở để học sinh tìm tòi, tư duy kiến thức từ đó học sinh học tích cực tìm hiểu hơn, mức độ nắm và hiểu kiến thức tốt hơn và đặc biệt là yêu thích bộ môn và tăng khả năng tìm tòi kiến thức của các em. Tôi đã sử dụng vào giảng dạy trong năm học 2017-2018 và được kết quả khả quan như bảng số liệu trên. Đối với đồng nghiệp, đây có thể là một nguồn tài liệu để đồng nghiệp có thể tham khảo trong quá trình giảng dạy. 3. Kiến nghị , đề xuất. 16
- Qua quá trình nghiên cứu đề tài tôi rút ra một số kiến nghị sau: - Từ mục tiêu bài học đưa ra giáo viên cần xác định được những kiến thức liên quan đến các bộ môn khác để tích hợp kiến thức cho phù hợp. - Trong quá trình dạy học phải tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm, là chủ thể của hoạt động dạy học. Phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh để hoạt động dạy học đạt kết quả cao. - Chuẩn bị chu đáo cho bài dạy trước khi đến lớp. Đúc rút kinh nghiệm từ các tiết dạy của bản thân và đồng nghiệp để có kĩ năng và phương pháp dạy ngày càng tốt hơn. - Hướng dẫn học sinh cách học hiệu quả đối với bộ môn hóa học và biết cách vận dụng các kiến thức liên quan với các bộ môn khác. Tạo được mối quan hệ tốt giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. - Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và đây là những suy nghĩ chủ quan của bản thân tôi nên không tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và hội đồng khoa học để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! 17

