SKKN Một số phương pháp tổ chức hoạt động dạy học phần Đọc trong chương trình Ngữ văn lớp 6 - Bùi Hà Phương

doc 31 trang baochau 27/10/2025 1710
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số phương pháp tổ chức hoạt động dạy học phần Đọc trong chương trình Ngữ văn lớp 6 - Bùi Hà Phương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_phuong_phap_to_chuc_hoat_dong_day_hoc_phan_doc_t.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số phương pháp tổ chức hoạt động dạy học phần Đọc trong chương trình Ngữ văn lớp 6 - Bùi Hà Phương

  1. MỤC LỤC. I. MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài................................................................................................. 2.Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 3. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................ 4. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................... 5. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................... 6. Giả thiết nghiên cứu.......................................................................................... 7. Dự kiến đóng góp của đề tài............................................................................. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Cơ sở lí luận và thực tiễn 1.1Cơ sở lí luận...................................................................................................... 1.1.1...................................................... 1.1.2................................................................................... 1.1.3............................................................................ 1.2Cơ sở thực tiễn.................................................................................................. 2.Thực trạng........................................................................................................... 3.Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực trong dạy học phần Đọc (Bộ sách Kết nối tri thức và cuộc sống)......................................................................................................................... 3.1 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực ở hoạt động Mở đầu trong dạy học phần Đọc 3.2 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực ở hoạt động Hình thành kiến thức trong dạy học phần Đọc 3.3 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực ở hoạt động Luyện tập trong dạy học phần Đọc 3.4 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực ở hoạt động Vận dụng, mở rộng trong dạy học phần Đọc
  2. 4. Hiệu quả của đề tài III.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1.Kết luận............................................................................................................... 2.Kiến nghị.............................................................................................................
  3. I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Năm học 2021 - 2022 là năm triển khai dạy chương trình GDPT mới ở lớp 6 bậc THCS. Sau một khoảng thời gian thực hiện, thực tiễn hoạt động dạy học trong nhà trường đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, nhất là chuyển từ các phương pháp dạy học truyền thống sang các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cả về lượng và chất. Tuy vậy, việc sử dụng các phương pháp kĩ thuật dạy học phù hợp với từng hoạt động để đạt được mục tiêu, yêu cầu cần đạt của hoạt động đó nói riêng và bài học nói chung khiến nhiều GV lúng túng. Một số giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực chỉ mang tính hình thức, đối phó mà không hiểu rõ bản chất phương pháp, mục đích hướng tới của hoạt động dạy học. Một số giờ dạy Ngữ văn trở nên khô cứng, cơ học, thiếu hấp dẫn. Cấu trúc bài học môn Ngữ văn trong chương trình lớp 6 (Chương trình GDPT 2018) bao gồm các phần: Đọc, Viết, Nói và nghe. Trong đó phần Đọc chiếm thời lượng chương trình lớn nhất với tỉ lệ trên 60% so với các phần khác. Phần Đọc trong sách giáo khoa bộ Kết nối tri thức và cuộc sống môn Ngữ văn 6 bao gồm 3 văn bản đọc (có thời lượng 5 đến 6 tiết học), ngoài ra học sinh còn phải đọc hiểu thêm các văn bản ở các phần khác của bộ sách. Phần đọc mở rộng đảm bảo số lượng các tác phẩm tương ứng với thể loại văn bản đã được học Nói như vậy để thấy rằng phần đọc chiếm vị thế rất quan trọng trong cấu trúc chương trình môn học. Bên cạnh đó, phần đọc cũng là phần đầu tiên, khâu khởi đầu của các hoạt động khác. HS có năng lực đọc hiểu thì mới có thể phát triển các năng lực khác giống như cấu trúc của bậc thang, không thể ai bước hộ các em mà các em phải bước lần lượt các bậc. Như đã nói ở trên, với cấu trúc bài học, thời lượng nhiều, áp dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học phần đọc hiểu như thế nào để đạt được mục tiêu bài học là điều băn khoăn, trăn trở của nhiều giáo viên. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Một số phương pháp tổ chức hoạt động dạy học phần Đọc trong chương trình Ngữ văn lớp 6( Bộ sách Kết nối tri thức và cuộc sống) nhằm đưa ra một số định hướng giảng dạy khoa học, dễ hiểu, phù hợp với thực tiễn dạy học nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động dạy học. 2. Phương pháp nghiên cứu
  4. Tiến hành đề tài, chúng tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp so sánh; - Phương pháp phân tích- tổng hợp; - Phương pháp điều tra, thống kê 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống lại một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn - Đề xuất một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực có thể vận dụng phù hợp, hiệu quả trong dạy học phần Đọc - Khảo sát tính khả thi của việc áp dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực có thể vận dụng phù hợp, hiệu quả trong dạy học phần Đọc của môn Ngữ văn 6 4. Đối tượng nghiên cứu Chúng tôi nghiên cứu một số phương pháp tổ chức hoạt động dạy học phần Đọc trong chương trình Ngữ văn lớp 6 (Chương trình GDPT 2018, Bộ sách Kết nối tri thức và cuộc sống) 5. Phạm vi nghiên cứu Với khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung đưa ra một số cách vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh ở phần đọc hiểu 6. Giả thiết nghiên cứu Nếu áp dụng một số phương pháp dạy học phù hợp với hoạt động Đọc của học sinh sẽ đạt được mục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học và đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. 7. Dự kiến đóng góp của đề tài Đề tài: Một số phương pháp tổ chức hoạt động dạy học phần Đọc trong chương trình Ngữ văn lớp 6 góp phần hệ thống lại một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn. Đề xuất một số phương pháp, kĩ
  5. thuật dạy học phát triển năng lực có thể vận dụng phù hợp, hiệu quả trong dạy học phần Đọc. Khảo sát tính khả thi của việc áp dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực có thể vận dụng phù hợp, hiệu quả trong dạy học phần Đọc của môn Ngữ văn 6. Đề tài hi vọng có thể tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giảng dạy, mang lại màu sắc mới, hứng khởi mới cho học sinh khi tiếp cận văn học. Từ những cách thức, biện pháp tổ chức thực hiện, chúng tôi mong muốn có thể áp dụng rộng rãi ở thực tiễn dạy học. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn 1.1 Cơ sở lí luận Đề tài chúng tôi nghiên cứu dựa trên những vấn đề lý luận cơ bản của bộ môn Ngữ văn nói chung và đặc trưng phương pháp, kĩ thuật dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực nói riêng. Ở góc độ lý luận, chúng tôi xuất phát từ những khái niệm sau: 1.1.1Khái niệm đọc Đọc hay đọc hiểu là một quá trình "nhận thức" phức tạp của việc giải mã các biểu tượng để tạo ra ý nghĩa. Đọc sách là cách tiếp thu ngôn ngữ, giao tiếp và chia sẻ thông tin cùng ý tưởng. Giống như ngôn ngữ, nó chính là một sự tương tác phức tạp giữa các văn bản và người đọc được định hình bởi kiến thức của người đọc, kinh nghiệm, thái độ, và cộng đồng ngôn ngữ, vốn phụ thuộc vào văn hóa và xã hội cụ thể. Quá trình đọc đòi hỏi phải liên tục thực hành, phát triển, và tinh chỉnh. Ngoài ra, đọc đòi hỏi sự sáng tạo và phân tích bình luận (Wikipedia) 1.1.2 Đặc điểm của hoạt động dạy đọc ở nhà trường Theo tài liệu Chương trình môn Ngữ văn (Bộ GD&ĐT) đã có những gợi ý cơ bản về việc dạy đọc VB ở nhà trường phổ thông với những định hướng cụ thể như sau: "Yêu cầu HS đọc trực tiếp toàn bộ VB, chú ý quan sát các yếu tố hình thức của VB, từ đó có ấn tượng chung và tóm tắt được nội dung chính của VB; tổ chức cho
  6. HS tìm kiếm, phát hiện, phân tích, suy luận ý nghĩa các thông tin, thông điệp, quan điểm, thái độ, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,... được gửi gắm trong VB; hướng dẫn HS liên hệ, so sánh giữa các VB, kết nối VB với bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội, kết nối VB với trải nghiệm cá nhân HS,... để hiểu sâu hơn giá trị của VB, biết vận dụng, chuyển hoá những giá trị ấy thành niềm tin và hành vi ứng xử của cá nhân trong cuộc sống hằng ngày."( Chương trình Ngữ văn 2018) GV hướng dẫn HS các hoạt động đọc hiểu theo 3 giai đoạn bao gồm: trước khi đọc – trong khi đọc – sau khi đọc. Giai đoạn trước khi đọc, HS sẽ được GV tổ chức, hướng dẫn thực hiện các hoạt động chủ yếu sau: xác định mục đích đọc; huy động, bổ sung tri thức nền cho HS, trải nghiệm những tình huống có liên quan đến nội dung văn bản; quan sát tổng thể văn bản (chủ yếu là các yếu tố hình thức); dự đoán về nội dung đọc; Một số hoạt động của giai đoạn trước khi đọc có thể được chuyển thành nhiệm vụ học tập cho HS tại nhà, trước giờ học đầu tiên trên lớp. Tiếp đến là giai đoạn trong khi đọc, HS được tổ chức đọc trực tiếp văn bản. Việc này có thể được thực hiện linh hoạt tùy theo độ dài ngắn của văn bản và thời gian dạy đọc trên lớp nhằm đảm bảo HS càng có nhiều cơ hội được tiếp xúc trực tiếp với văn bản càng tốt. Việc đọc văn bản thường đi kèm với việc tìm hiểu các chú thích, nhận diện bố cục/ âm hưởng/ giọng điệu chung của văn bản để từ đó có những ấn tượng đầu tiên (trực cảm) về văn bản. Ngoài ra, đây còn là giai đoạn GV hướng dẫn HS sử dụng các kĩ thuật đọc như liên hệ, hình dung/ tưởng tượng, dự đoán, suy luận ý nghĩa của các thông tin, chi tiết "bộ phận" trong mà chưa tiến đến cái nhìn “chỉnh thể” về toàn văn bản. Đồng thời ở giai đoạn này, người đọc cũng thực hiện các thao tác như giám sát, kiểm tra quá trình hiểu của bản thân và điều chỉnh kết quả hiểu ấy sau từng chặng đọc. Để giảm bớt áp lực về mặt thời gian cho việc tổ chức đọc văn bản tại lớp, GV có thể thiết kế và chuyển giao một số nhiệm vụ đọc cho HS tại nhà và phải đảm bảo việc kiểm tra kết quả đọc của những nhiệm vụ ấy khi HS đến lớp và sử dụng những kết quả ấy để tiếp tục tổ chức những hoạt động đọc trực tiếpvăn bản khác tại lớp. Giai đoạn này chỉ thật sự có hiệu quả khi
  7. người đọc đọc trực tiếp toàn bộ tác phẩm và biết sử dụng các kĩ thuật, thao tác đọc hợp lí. Đến giai đoạn sau khi đọc, người đọc chuyển từ tri giác từng phần sang tri giác tổng thể về văn bản. Vì vậy, GV có thể tổ chức cho HS thực hiện những hoạt động đọc như: + Xâu chuỗi, kết nối thông tin ở từng phần VB để định hình cái nhìn tổng thể về VB, tái hiện nội dung khách quan, nội dung miêu tả của VB; trên cơ sở đó có ấn tượng, cảm nhận chung về VB, đánh giá, điều chỉnh lại cách hiểu ban đầu về VB nếu có; + Phân tích, giải thích sâu hơn vào các thành tố bộ phận của VB dựa trên cái nhìn tổng thể về VB để phát hiện nội dung chủ quan, ý nghĩa của VB; + Phản hồi, bình luận, đánh giá về các giá trị nội dung và hình thức của VB; + Liên hệ, so sánh giữa các văn bản, kết nối văn bản với bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội, với trải nghiệm cá nhân HS,... để hiểu sâu hơn giá trị củavăn bản, vận dụng, chuyển hoá những giá trị ấy thành niềm tin và hành vi ứng xử của cá nhân trong cuộc sống hằng ngày; + Tìm tòi, mở rộng theo yêu cầu đọc của chương trình hoặc nhu cầu, thị hiếu của cá nhân. 1.1.3 Phương pháp, kĩ thuật dạy học Phương pháp dạy học (PPDH nghĩa hẹp) là cách thức hoạt động của GV và HS, trong điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt được mục tiêu dạy học (Chương trình PT tổng thể) Kĩ thuật dạy học là những cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều chỉnh quá trình dạy học (Chương trình PT tổng thể) 1.2Cơ sở thực tiễn Trong quá trình triển khai Chương trình phổ thông 2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành hệ thống các văn bản: Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, SGK Giáo dục phổ thông
  8. Công văn số 791 BGDĐT- GDTrH ngày 25 tháng 6 năm 2013 về HD thực hiện thí điểm Chương trình GD Nhà trường Phổ thông Công văn số 5555 BGDĐT - GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 Công văn số 3535 BGDĐT - GDTrH ngày 27 tháng 5 năm 2013 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện phương pháp Bàn tay nặn bột và các phương pháp dạy học tích cực khác Công văn số 4612 BGDĐT - GDTrH ngày 03 tháng 10 năm 2017 về việc Hướng dẫn thực hiện chương trình GDPT hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm 2017 - 2018 Thông tư 32/2018/TT - BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 Về việc ban hành chương trình GDPT Công văn 5512 BGDĐT - GDTrH ngày18 tháng 12 năm 2020 Về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường Chương trình PT 2018 được triển khai ở bậc Tiểu học 2 năm và là năm đầu tiên ở lớp 6, bậc THCS, năm học 2021- 2022 và thực hiện tuần tự những năm tiếp theo. 2. Thực trạng Qua thực tế dạy học và dự giờ đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy, việc sử dụng các phương pháp dạy đọc trong giờ Ngữ văn ở nhà trường có những ưu điểm và hạn chế như sau: Về ưu điểm: Một số GV đã ý thức được tầm quan trọng của hoạt động đọc trong giờ Ngữ văn. Đã chuyển mình nỗ lực tìm tòi các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu các văn bản trong chương trình. Về học sinh, một số em có nhu cầu đọc thực sự và có ý thức trong việc đọc hiểu tác phẩm văn học. Về hạn chế: Vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong nhận thức cũng như thực tế triển khai hoạt động đọc cho học sinh trên lớp: + GV chưa hiểu nhiều về nguyên tắc tổ chức hoạt động đọc hiểu. Chưa nắm rõ quy trình của hoạt động hướng dẫn đọc nên nhiều khi bỏ qua những khâu quan trọng như: một số GV còn bỏ qua việc cho HS đọc trực tiếp VB tại lớp cũng như không kiểm tra kết quả đọc tại nhà của HS.
  9. +Trong quá trình hướng dẫn học sinh đọc trên lớp, GV áp dụng nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học không phù hợp nên tốn thời gian vô ích mà mục tiêu, yêu cầu cần đạt của hoạt động đọc không đạt được. +HS mất hứng thú, ít đọc văn bản trong SGK chưa kể đến không đọc mỏ rộng văn bản cùng thể loại. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát khối 6 tại một trường THCS bao gồm 9 lớp với hai đối tượng: HS khá giỏi và học sinh trung bình, yếu. Chúng tôi cũng đã dự giờ một số tiết học của GV dạy môn Ngữ văn 6, dạy thể nghiệm. Kết quả như sau: Khảo sát về hứng thú đọc sách của học sinh Lớp Tổng Rất hứng Hứng thú Chỉ đọc các Không hứng thú số thú đọc sách đọc sách văn bản ở đọc sách HS SGK Tỉ SL Tỉ lệ SL Tỉ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ % lệ % lệ % % 6A1 38 10 26.3 5 13.1 20 52.6 3 8 6A2 38 8 21 3 8 17 44.7 10 26.3 6A3 36 6 16.6 16 44.4 7 19.5 7 19.5 6A4 36 5 13.9 11 30.6 10 27.75 10 27.75 6A5 36 7 19.5 9 25 15 41.6 5 13.9 6A6 34 1 3 16 47 12 35.3 5 14.7 6A7 34 3 8.9 14 41.1 9 26.5 8 23.5 6A8 32 2 6.2 9 28.1 15 46.9 6 18.8 6A9 33 2 6.1 7 21.3 11 33.3 13 39.3 Tổng 317 44 13.9 90 72.3 116 36.6 67 21.1 Khảo sát về việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học ở phần đọc của giáo viên dạy Ngữ văn 6:
  10. Áp dụng Áp dụng các Áp dụng Không áp dụng các tích cực PP, KTDH các PP, PP, KT dạy học các phát triển KTDH phát triển năng lực PP,KTDH năng lực phát triển Tổng phát triển nhưng chưa năng lực năng lực phù hợp dạy đối phó, đọc không thường xuyên GV dạy Ngữ văn 9 3 9 1 0 lớp 6 trường A GV dạy Ngữ văn 5 3 5 2 0 lớp 6 trường B Nguyên nhân của những hạn chế trên là do: Về nguyên nhân khách quan: Dịch bệnh Covid - 19 diễn biến phức tạp, các đợt tập huấn về chương trình GDPT 2018, chương trình bộ môn triển khai chủ yếu qua kênh trực tuyến; GV tự tìm tòi, học hỏi nghiên cứu tài liệu nên còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn. Cơ sở vật chất nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, trang thiết bị dạy học hư hỏng, xuống cấp Về nguyên nhân chủ quan: Một số GV còn chưa thay đổi nhận thức, ngại tìm tòi đổi mới, chậm chuyển mình đổi mới phương pháp dạy học. Gv hiểu chưa rõ về bản chất của các phương pháp nên lựa chọn không phù hợp với nội dung hoạt động. 3.Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực trong dạy học phần Đọc (Bộ sách Kết nối tri thức và cuộc sống) 3.1 Một số phương pháp, Kĩ thuật dạy học phát triển năng lực ở hoạt động Mở đầu `trong dạy học phần Đọc
  11. Hoạt động Mở đầu trong tiết dạy Ngữ văn nói chung và giờ dạy đọc nói riêng có ý nghĩa quan trọng thể hiện sự đổi mới trong cách tiếp cận bài học theo chương trình GDPT 2018. Nếu như trong chương trình cũ, GV thường dành thời gian nhất định đầu tiết học để gọi học sinh trả bài cũ, kiểm tra bài tập thì hoạt động Mở đầu trong chương trình mới đa dạng về cách thức tổ chức, cách tiếp cận của học sinh cũng nhẹ nhàng, thoái mái, hiệu quả hơn. Tùy đối tượng học sinh, GV có thể thiết kế hoạt động một cách linh hoạt, chủ động hướng tới mục tiêu cần đạt của hoạt động đó. Mục tiêu cơ bản của hoạt động mở đầu là xác định được vấn đề/nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết trong bài học hoặc xác định rõ cách thức giải quyết vấn đề/thực hiện nhiệm vụ trong các hoạt động tiếp theo của bài học. Căn cứ vào mục tiêu, GV có thể lựa chọn cách mở đầu là các tình huống có vấn đề gây mâu thuẫn nhận thức để dẫn dắt vào bài học hoặc cũng có thể sử dụng các hình thức, phương pháp dạy học nhẹ nhàng như đặt câu hỏi, tổ chức trò chơi, xem video, nghe nhạc...nhằm tạo tâm thế thoái mái, tích cực để học sinh thực hiện các hoạt động học tập tiếp theo. Với mục tiêu, yêu cầu đó nên hoạt động Mở đầu không nên dùng quá nhiều thời gian cũng như quá phức tạp không cần thiết gây tâm lí nặng nề. Với phần đọc, dựa trên tiến trình của hoạt động đọc ta có thể sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với giai đoạn một “ trước khi đọc”. Các phương pháp cụ thể áp dụng được là một số trò chơi nhanh, KWL...Dựa vào cấu trúc bài học trong sách giáo khoa, bộ sách Kết nối tri thức và cuộc sống thì ở một số tiết đọc văn bản cũng có thể áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác như đàm thoại gợi mở, thuyết trình 1 phút...Để dễ hình dung, chúng tôi đã thiết kế một số hoạt động mở đầu minh họa như sau: 3.1.1 Trò chơi nhanh: Ưu điểm của việc áp dụng trò chơi trong hoạt động Mở đầu là sinh động, hấp dẫn, tạo được tinh thần hứng khởi cho lớp học. GV có thể sử dụng kết hợp với việc kết nối kiến thức với bài học trước hoặc cũng có thể liên hệ với bài học sau. Bởi vậy, PP dạy học này rất có ưu thế trong hoạt động Mở đầu nhất là với phần đọc. Ví dụ minh họa - Lớp dạy: Lớp 6 - Phần: Đọc
  12. - Thể loại: Truyện đồng thoại - Ngữ liệu chọn: Bài học đường đời đầu tiên (Trích Dế Mèn phiêu lưu kí) - Hoạt động sử dụng PP: Hoạt động Mở đầu - Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế hứng khởi, phấn chấn cho học sinh. Kết nối với bài học mới - Lí do chọn sử dụng trò chơi: đạt mục tiêu, yêu cầu cần đạt + Cơ sở vật chất: Phòng học có trang thiết bị dạy học: Ti vi/ Máy chiếu; máy tính Tên trò chơi “Vòng quay may mắn” (1)GV chuyển giao nhiệm vụ học tập GV chia lớp thành 4 nhóm, tổ chức trò chơi Vòng quay may mắn, với các thẻ câu hỏi (câu hỏi thiết kế trên màn hình) Luật chơi: +Đại diện nhóm chọn theo trình tự câu hỏi, trả lời đúng/ lựa chọn quay để chọn phần thưởng/ sai – không được quay thưởng (Đội khác có quyền trả lời nếu đội bạn sai) +Trò chơi kết thúc – các câu hỏi được trả lời đúng hết
  13. +Đội thắng: Chơi đúng luật, có nhiều câu trả lời đúng nhất (2)HS thực hiện +HS tham gia trò chơi +GV hướng dẫn, hỗ trợ (cần thiết). (3) HS báo cáo, thảo luận +Đại diện nhóm hs trả lời câu hỏi của đội mình. Nếu sai thì nhóm khác có quyền trả lời (4) GV kết luận/ nhận định/tổng kết +GV tuyên dương kết quả thực hiện hoạt động của học sinh +GV chốt và chuyển hoạt động Ví dụ minh họa - Lớp dạy: Lớp 6 - Phần: Đọc, Truyền thuyết - Hoạt động sử dụng PP: Hoạt động Mở đầu - Mục tiêu: + Kết nối với những trải nghiệm cá nhân; huy động những tri thức cần thiết liên quan đến văn bản đọc hiểu. + Tạo hứng thú khởi đầu tiết học. - YCCĐ: + Nêu được một số truyện truyền thuyết đã học, đã đọc + Tích cực tham gia trả lời câu hỏi (1) - Trò chơi: “ Ai thông minh hơn”. - Chọn và điển từ vào chỗ trống trong đoạn văn sau: Đến với thế giới của truyền thuyết, chúng ta đã gặp tổ tiên của dân tộc Việt là cha ....(1), mẹ ...(2..). ...(3...) là thần thoại cổ đã được lịch sử hoá trở thành một truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời đại các vua Hùng dựng nước. Đó là câu chuyện tưởng tượng hoang đường nhưng có cơ sở thực tế. Truyện rất giàu giá trị về nội dung và nghệ thuật. Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã lấy cảm hứng hình tượng từ tác phẩm để sáng tác thơ ca. 3.1.2 Sử dụng các video, clip Với nguồn học liệu mở đa dạng, GV có thể khai thác để thiết kế Hoạt động Mở đầu một cách trực quan, hấp dẫn bằng các Video, clip. Các Video, clip phải
  14. đảm bảo tính giáo dục, khoa học, phù hợp với nội dung hoạt động, đáp ứng yêu cầu mục tiêu cần đạt Ví dụ minh họa - Lớp dạy: Lớp 6 - Phần: Đọc - Thể loại: Truyện đồng thoại - Ngữ liệu chọn: Bài học đường đời đầu tiên (Trích Dế Mèn phiêu lưu kí) - Hoạt động sử dụng PP: Hoạt động Mở đầu - Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế hứng khởi, phấn chấn cho học sinh. Kết nối với bài học mới - Lí do chọn sử dụng video clip: Tạo mâu thuẫn nhận thức để dẫn dắt vào bài mới một cách nhẹ nhàng. + Cơ sở vật chất: Phòng học có trang thiết bị dạy học: Ti vi/ Máy chiếu; máy tính Địa chỉ kho học liệu: (1)GV chuyển giao nhiệm vụ học tập GV chiếu Video về một số tập tính của Dế Mèn, Hs xem video trong 2 phút Em có nhận xét gì về đặc điểm sinh học của loài dế? (2)HS thực hiện +HS xem video, trả lời câu hỏi (3) HS bổ sung, nhận xét (4) GV kết luận +GV tuyên dương kết quả thực hiện hoạt động của học sinh +GV chốt và chuyển hoạt động 3.1.3 Tình huống có vấn đề - Mục tiêu: Tạo tâm thế cho Hs, kết nối với bài học - Tổ chức thực hiện: B1: Chuyển giao nhiệm vụ - GVchuẩn bị một ống kính vạn hoa, sau đó mời 2,3 HS lên xem thử ống kính vạn hoa. GV yêu cầu HS chia sẻ trải nghiệm những gì nhìn thấy qua ống kính vạn hoa, nhất là những lúc xoay góc ống kính. Từ đó, GV đặt câu hỏi khơi gợi HS nhận xét về việc thay đổi những góc nhìn trong cuộc sống
  15. Câu hỏi 1: Em thấy gì khi quay ống kính vạn hoa? Câu hỏi 2:Từ trải nghiệm với ống kính vạn hoa, em hãy cho biết: điều gì sẽ xảy ra khi ta thay đổi góc nhìn về một vấn đề trong cuộc sống? B2: Thực hiện nhiệm vụ HS xem ống kính vạn hoa, suy nghĩ về câu hỏi. B3: Báo cáo thảo luận Học sinh trình bày trước lớp ý kiến của mình. Các học sinh khác bổ sung, nhận xét. B4: Kết luận, nhận định (GV) - Nhận xét (hoạt động nhóm của HS và sản phẩm), chốt kiến thức, chuyển dẫn vào hoạt động đọc - Viết tên chủ đề, nêu mục tiêu chung của chủ đề và chuyển dẫn tri thức ngữ văn. GV nhận xét ý kiến của học sinh, giới thiệu bài học 3.2 Một số phương pháp, Kĩ thuật dạy học phát triển năng lực ở hoạt động Hình thành kiến thức trong dạy học phần Đọc Như đã đặt vấn đề ở trên, phần dạy Đọc trong một đơn vị bài học trong Sách giáo khoa có dung lượng lớn, số tiết nhiều. Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên rất áp lực trong việc xác định phần nội dung dạy học trọng tâm và việc lựa chọn phương pháp kĩ thuật dạy học phù hợp để vừa đảm bảo học sinh chiếm lĩnh được tri thức vừa phát triển năng lực, phẩm chất. Đa số GV lựa chọn hình thức dạy học hợp tác theo hình thức nhóm cặp đôi, nhóm lớn... mà chưa đa dạng được cách thức tổ chức hoặc nhiều khi còn mang tính hình thức nên hiệu quả chưa cao. Với đặc thù của dạy văn bản đọc, có thể sử dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học phát triển năng lực như sau (Chúng tôi chỉ minh họa một số Phương pháp, kĩ thuật dạy học có thể áp dụng rộng rãi, có hiệu quả): 3.2.1. Dạy học hợp tác Dạy học hợp tác là phương pháp dạy học phát triển năng lực làm việc theo nhóm trên cơ sở học sinh hoạt động tương trợ, trao đổi ý tưởng để giải quyết vấn đề đặt ra. 2.2.2.1. Định hướng sử dụng Sử dụng dạy học hợp tác trong môn Ngữ văn không chỉ tạo điều kiện phát triển NL giao tiếp và hợp tác cho HS mà còn đem đến cho HS nhiều cơ hội để hình
  16. thành và phát triển NL đặc thù. Với dạy đọc, quá trình đọc văn bản là một quá trình tương tác. Vì thế, GV phải tổ chức môi trường phù hợp để HS tương tác, chia sẻ với nhau, từ đó phát triển được NL văn học và cả NL ngôn ngữ. Khi sử dụng dạy học hợp tác, GV cần xác định rõ tại sao HS cần hợp tác làm việc và nên hợp tác làm việc theo hình thức nào. Vì thế, GV cần lưu ý: - Dạy học hợp tác nên dùng để tổ chức những nhiệm vụ học tập phức tạp, đòi hỏiphải huy động kiến thức, kinh nghiệm của nhiều HS hoặc là một vấn đề mà HS cần tranh luận, thảo luận. - Trong dạy học hợp tác, khi giao nhiệm vụ cho HS, GV cần có những giải thích, hướng dẫn rõ ràng để đảm bảo các nhóm hiểu đúng nhiệm vụ cần thực hiện. Nhiệm vụ được giao phải phù hợp và cần huy động sự tham gia của mọi thành viên, tạo sự tương tác giữa các thành viên. - Cách đánh giá trong dạy học hợp tác phải cụ thể, rõ ràng, làm sao vừa ghi nhận được sự cố gắng của mỗi cá nhân trong nhóm, vừa thấy được sự đóng góp, ảnh hưởng mỗi thành viên trong kết quả chung của nhóm. - Trong môn Ngữ văn, dạy học hợp tác có thể được thực hiện ở một số hình thức như sau: thảo luận nhóm, seminar, nhóm văn chương, câu lạc bộ sách. + Thảo luận nhóm được xem là hình thức cơ bản và đơn giản nhất trong dạy học hợp tác. Để hoạt động nhóm diễn ra hiệu quả thì GV cần lưu ý: (1) Chia nhóm vừa đủ nhỏ (4-5 thành viên/ nhóm) để có thể hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian ngắn và đảm bảo mọi thành viên đều có thể đóng góp ý kiến; (2) Thời gian thảo luận đủ dài để các thành viên được trình bày ý kiến; (3) Nội dung thảo luận nên chọn lọc để đảm bảo cần đến sự trao đổi, hợp tác của nhiềungười; (4) Không gian thảo luận cần đảm bảo cho các thành viên có thể nhìn và nghe thấy nhau; (5) Nhiệm vụ của mỗi thành viên cần rõ ràng để tránh ỷ lại vào thành viên khác. Ở mức độ cộng tác, HS được giao sẵn chủ đề nội dung thảo luận; ở mức độ hợp tác, HS tự đề xuất vấn đề thảo luận và tiến hành thảo luận. Trong dạy phần Đọc văn bản, có thể áp dụng dạy học hợp tác ở phần đọc khái quát văn bản bằng cách tổ chức hình thức nhóm văn chương. Nhóm văn chương là hình thức các nhóm nhỏ chọn đọc một quyển sách, một câu chuyện, một bài thơ, và thảo luận về nó. Có thể coi đây là một hình thức của dạy học hợp tác
  17. nhưng chỉ chuyên dùng trong dạy đọc VB. Với hình thức này, khi tham gia vào nhóm văn chương, HS được phân vào các vai khác nhau như: người liên hệ, kết nối; người tìm phần quan trọng; người hỏi; người vẽ minh hoạ; người tổng kết, tóm tắt; người tìm hiểu thông tin nền về VB; người tìm những từ ngữ có ý nghĩa đặc biệt trong VB; người phê bình. Sau khi cho HS thời gian đọc VB và ghi chép phản hồi theo vai, GV nên tổ chức cho HS trình bày ý kiến trong nhóm và trước lớp. Hình thức này nếu được thực hiện thường xuyên thì có thể đạt đến mức độ hợp tác thực sự. Ví dụ minh họa Bước 1: GV giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian, cách thức thực hiện. Dùng kĩ thuật mảnh ghép hoặc khăn trải bàn cho các nhóm thực hiện Bước 2: Nhóm trưởng giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm, các thành viên lần lượt đóng các vai: Người tìm hiểu thông tin văn bản, người hỏi, người tìm phần quan trọng, người tóm tắt, người liên hệ, người vẽ minh họa thực hiện đọc văn bản và ghi lại ở các mảnh ghép/ khăn Bước 3: Các nhóm trưng bày sản phẩm, trình bày ý kiến trong nhóm, trước lớp. Nhóm khác, học sinh khác nghe phản hồi Bước 4: GV nhận xét, đánh giá. Biểu dương các nhóm - Lớp dạy: Lớp 6 - Phần: Đọc - Thể loại: Truyện đồng thoại - Ngữ liệu chọn: Bài học đường đời đầu tiên (Trích Dế Mèn phiêu lưu kí) - Hoạt động sử dụng PP: Đọc khám phá văn bản - Mục tiêu hoạt động: Hướng đến YCCĐ HS đọc văn bản, biết tóm tắt, nhận biết được chủ đề VB và nhận biết được một số yếu tố của truyện đồng thoại - Lí do chọn sử dụng dạy học hợp tác theo hình thức nhóm văn học: HS có cơ hội hợp tác, trao đổi để cùng giải quyết các vấn đề. Giai đoạn đọc có thể đẩy nhanh, các em được hoạt động, được tư duy thay vì gọi hs đọc để cả lớp theo dõi như cách dạy truyền thống + Cơ sở vật chất: Phòng học có đủ không gian để cho HS hợp tác làm việc theo nhóm nhỏ.
  18. + Nhiệm vụ học tập: HS bước đầu có những thông tin khái quát về văn bản, về nhân vật, cốt truyện + KTDH: KWL, khăn trải bàn Mỗi nhóm được GV phát 1 bảng phụ, HS được bố trí ngồi ở các góc khăn Dùng kĩ thuật KWL Người hỏi: Bạn đã biết những gì về văn bản? Bạn muốn biết thêm những gì về văn bản? Sau khi đọc văn bản bạn học thêm được gì? Người tìm hiểu thông tin: HS bày tỏ ý kiến cá nhân Người kết nối: Ghi kết quả cuối cùng nhóm đã thống nhất vào “khăn HS hoạt động, trưng bày sản phẩm cá nhân GV có thể đưa ra bảng kiểm để HS tự đối chiếu kết quả làm việc của mình Điều em biết sau Những điều em ấn tượng nhất Em muốn biết thêm những gì khi đọc tác phẩm Tác giả Tên tác phẩm Thể loại Năm sáng tác Nhân vật Cốt truyện Thực tế HS có thể viết nhiều hơn GV nhận xét, định hướng cách đọc văn bản Ví dụ minh họa 2 Phần đọc hiểu chi tiết văn bản, hoạt động hợp tác có thể được sử dụng để giải quyết vấn đề có tình phức tạp hơn - Lớp dạy: Lớp 6 - Phần: Đọc - Thể loại: Truyện đồng thoại - Ngữ liệu chọn: Bài học đường đời đầu tiên (Trích Dế Mèn phiêu lưu kí) - Hoạt động sử dụng PP: Đọc hiểu chi tiết văn bản
  19. - Mục tiêu hoạt động: Phân tích, giải thích sâu hơn vào các thành tố bộ phận của VB dựa trên cái nhìn tổng thể về VB để phát hiện nội dung chủ quan, ý nghĩa của VB - Lí do chọn sử dụng dạy học hợp tác theo hình thức thảo luận nhóm: HS có cơ hội hợp tác, trao đổi để cùng giải quyết các vấn đề. + Cơ sở vật chất: Phòng học có đủ không gian để cho HS hợp tác làm việc theo nhóm nhỏ. + Nhiệm vụ học tập: Đọc hiểu chi tiết văn bản Cách thức thực hiện: Bước 1: GV thành lập nhóm giao nhiệm vụ cho các nhóm, nêu yêu cầu cần đạt của hoạt động, định hướng cơ bản, quy định thời gian thực hiện: 10 phút, quy định cách thức trình bày: KT trình bày 1 phút Nhóm 1: Tìm những đặc điểm về hình dáng, hành động, tính cách của Dế Mèn Nhóm 2: Tìm những đặc điểm về hình dáng, hành động, tính cách của Dế Choắt Nhóm 3: Nét tương phản đối lập trong hình dáng tính cách của hai nhân vật Dế Mèn và Dế Choắt là những gì? Bước 2: Các nhóm trao đổi phân công, hợp tác thực hiện nhiệm vụ. Thống nhất cách thức trình bày, trình bày. Bước 3: HS nhận xét, đánh giá bổ sung sản phẩm của các nhóm. GV đánh giá, nhận xét, chốt vấn đề cơ bản, tránh nhắc lại những gì HS đã trình bày 3.2.2 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề Phương pháp nghiên cứu tình huống là phương pháp dạy học, trong đó trọng tâm của quá trình dạy học là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một trường hợp được lựa chọn trong thực tiễn. Với phương pháp này, học sinh tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra. Tình huống đưa ra xuất phát từ vấn đề trong tác phẩm nhưng có mối quan hệ với thực tiễn. Thông qua việc giải quyết tình huống ấy, học sinh có thể hình thành kĩ năng, năng lực giải quyết vấn đề. Trong môn học Ngữ văn, nghiên cứu tình huống thường được thực hiện trong một số nội dung như: Phân tích tình huống giao tiếp, tìm hiểu một văn bản văn học theo đặc điểm thể loại, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn
  20. cuộc sống để tạo lập văn bản. Với văn bản Thạch Sanh, trong quá trình đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại, học sinh có thể bắt gặp rất nhiều tình huống có vấn đề. Trong nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy, học sinh đều tự mình phát hiện nhiều tình huống đặc sắc. Điểm mấu chốt ở đây là, từ tình huống ấy, GV có thể huy động học sinh giải quyết theo nhiều phương án, có liên hệ thực tiễn để các em hình thành năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh. Trong truyện cổ tích Thạch Sanh có nhiều tình huống xuất hiện, tiêu biểu như: Trong truyện, Thạch Sanh bị Lý Thông lừa hết lần này đến lần khác, tại sao chàng bị lừa mà vẫn không oán giận? Nếu trong thực tế, em gặp người bạn như thế em sẽ xử lí vấn đề như thế nào? Sau khi học sinh thảo luận, đưa ra quan điểm của mình, có nhiều học sinh đưa ra những ý kiến rất hay, thể hiện được năng lực của mình trong việc đọc hiểu văn bản, trong việc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Tuy vậy, có những em có những nhận thức khá thú vị, “cái nhìn khá trẻ thơ”. Có em cho rằng: Bị Lý Thông lừa nhiều như vậy, Thạch Sanh vẫn hết lần này đến lần khác, em thấy chàng Thạch Sanh dại, không khôn ngoan. Nếu là em em không thèm giúp người như thế, em sẽ mặc kệ hắn. Ý kiến của em học sinh đó, nhận thức vấn đề không sai nhưng đặt vào chỉnh thể tác phẩm văn học thì còn có nhiều vấn đề nảy sinh. Từ đó, GV có thể định hướng cho học sinh đọc hiểu văn bản văn học theo thể loại. Nhân vật truyện cổ tích thường là kiểu nhân vật chức năng, thường đại diện cho một phẩm chất nào đó. Nhân vật truyện cổ tích thường không có tính cách đa chiều như kiểu văn học hiện đại sau này. Nhân vật chủ yếu được xây dựng hành động, lời nói, thế giới nội tâm nhân vật không được khắc họa. Vì vậy, chàng Thạch Sanh bị Lý Thông lừa nhiều lần nhưng chàng không hề oán giận vì từ bản chất, Thạch Sanh là người nhân hậu, độ lượng vô cùng, trong sáng vô cùng. Thạch Sanh không bao giờ biết đến ghen ghét, tị hiềm, dù nhỏ nhặt. Tin người, sẵn sàng giúp đỡ người bị hại, không bao giờ nghĩ tới việc đền ơn. Không phải Thạch Sanh ngây thơ mà chàng cứ sống theo những niềm tin vô tư, trong sáng của mình. Với các loài yêu quái, Thạch Sanh thẳng tay tiêu diệt nhưng với con người, chàng dùng tình cảm để đối xử một cách độ lượng, nhân ái. Từ đó, các em có thể thấy, trong cuộc sống có khi chúng ta bị những người xung quanh đối xử không tốt lẽ tất nhiên, ta sẽ phải nhìn nhận lại mối quan hệ đó, chọn bạn mà chơi tuy vậy, chúng ta cần dùng lòng nhân ái, vị tha