SKKN Cách khai thác dạy văn bản: Cô bé bán Diêm - Ngữ văn 6 - Nguyễn Thị Sinh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Cách khai thác dạy văn bản: Cô bé bán Diêm - Ngữ văn 6 - Nguyễn Thị Sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_cach_khai_thac_day_van_ban_co_be_ban_diem_ngu_van_6_ngu.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Cách khai thác dạy văn bản: Cô bé bán Diêm - Ngữ văn 6 - Nguyễn Thị Sinh
- ĐỀ TÀI: CÁCH KHAI THÁC DẠY VĂN BẢN:“CÔ BÉ BÁN DIÊM ” ( AN-ĐEC-XEN) -NGỮ VĂN 6( TẬP 1) kết nối tri thức với cuộc sống Phần A :PHẦN MỞ ĐẦU I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.lí do chọn đề tài Ngữ Văn là một môn học chiếm thời gian lớn trong chương trình học của học sinh Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Bởi môn học này vô cùng quan trọng trong việc đào tạo con người, góp phần giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn và hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Giáo sư Hà Minh Đức từng khẳng định “Văn học không chỉ là một nguồn tri thức mà còn là nguồn năng lượng tinh thần lớn lao, có ý nghĩa cổ vũ, tiếp sức cho con người trong cuộc sống”. Mỗi bài thơ, bài văn, mỗi tác phẩm văn học trong chương trình học phổ thông là một bài học đạo đức, một lẽ sống, một thông điệp mà tác giả gửi gắm đến bạn đọc. Với việc xây dựng nên những hình tượng thẩm mỹ, văn học góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm đạo đức cho con người bằng cách tập cho người đọc một thói quen cảm thụ tinh tế, mài sắc cho họ cảm quan nhận thức, khả năng nhận ra cái chân, cái thiện, cái mỹ trong đời sống bộn bề. Từ chỗ say mê, xúc động mãnh liệt, văn học làm cho con người nhận ra lẽ phải, lẽ trái, cái đúng, cái sai, cái thiện, cái ác khiến cho con người sống chậm lại, yêu thương nhiều hơn và cảm nhận nhiều hơn. Có thể nói, không có thước đo nào đo được giá trị của văn học mang đến cho đời sống con người. Chương trình Ngữ văn 6, bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống được xây dựng dựa trên mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực của người học bằng việc rèn luyện 4 kỹ năng ngôn ngữ đọc, viết, nói và nghe. Trong các kỹ năng kể trên, đọc hiểu là nền tảng để học sinh trau dồi các yếu tố còn lại. Kiến thức Tiếng Việt và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết nói và nghe. Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa, chương trình và thực tế giảng dạy, tôi đã đưa ra cách khai thác dạy văn bản: “Cô bé bán diêm” (An-đéc-xen)-Ngữ văn 6 (tập 1), bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống. 2.Tính cấp thiết của đề tài Chương trình Ngữ văn 2018 xác định yêu cầu chung về PPDH như sau:
- a) Thực hiện yêu cầu tích hợp nội môn (cả kiến thức và kĩ năng), tích hợp liên môn và tích hợp những nội dung giáo dục ưu tiên; thực hiện dạy học phân hóa theo đối tượng. b) Rèn luyện cho HS phương pháp đọc, viết, nói và nghe; thực hành, trải nghiệm việc tiếp nhận và vận dụng kiến thức tiếng Việt, văn học thông qua các hoạt động học; chú trọng sử dụng phương tiện dạy học, khắc phục tình trạng dạy theo kiểu đọc chép. c) Tăng cường, phát huy tính tích cực, tự lực của HS; dành nhiều thời gian cho HS nghiên cứu SGK và tài liệu học tập, luyện tập, thực hành, trình bày, thảo luận,... để HS biết tự đọc, viết, nói và nghe theo những yêu cầu và mức độ khác nhau,...” (tr 78-79). Năm học này, là năm đầu tiên thay sách lớp 6, tiếp cận với sách mới có nhiều khó khăn trong việc thực hiện. Bản thân phải tự học, nghiên cứu để nắm bắt và đi đúng hướng theo yêu cầu của Bộ. Trên thị trường, các sách tham khảo như sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy, sách bồi dưỡng, sách nâng cao, tài liệu, tạp chí nói về việc vận dụng dạy học hướng tới mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh lớp 6 rất ít. Trong quá trình dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học một cách linh hoạt và đem lại hiệu quả cao chưa phải là nhiều. Trong khi đó, những năm gần đây hiện tượng học sinh xem nhẹ môn Văn ngày càng trở nên phổ biến. Vậy làm thế nào để phát triển phẩm chất, năng lực, hình thành kỹ năng đọc, viết, nói và nghe thông qua các hoạt động: khởi động, khám phá kiến thức, luyện tập, vận dụng và mở rộng trong từng tiết học môn Ngữ văn trở thành điều trăn trở của biết bao thầy cô giáo dạy văn như tôi. Trong khuôn khổ đề tài này, tôi xin trình bày một tiết dạy trên lớp bài: “Cô bé bán diêm’’ của An-đéc-xen (ngữ văn 6-tập 1) theo đặc trưng thể loại thay vì đơn thuần là bình giảng một chiều như trước đây. Vậy để dạy theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực thì giáo viên phải xác định cụ thể ở từng hoạt động thì nên thực hiện phương pháp nào, hình thức tổ chức ra sao và cần hình thành phẩm chất, năng lực gì cho học sinh. Đồng thời, giáo viên phải xây dựng một hệ thống câu hỏi hợp lí, tiến hành các hoạt động thông qua phiếu học tập. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.Đối tượng: Năng lực, phẩm chất cần phát triển cho HS qua học văn bản: “ Cô bé bán diêm” của An- Đec- Xen Ngữ Văn 6 ( tập 1) -Hai lớp học khối 6 của trường. 2. Phạm vi nghiên cứu: 2
- +Các phẩm chất, năng lực cần được hình thành và phát triển cho học sinh khi dạy bài: “ Cô bé bán diêm” của An- Đec- Xen Ngữ Văn 6( tập 1) +Các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để đạt được những phẩm chất, năng lực cho học sinh khi dạy bài: “ Cô bé bán diêm” của An- Đec- Xen Ngữ Văn 6( tập 1) III.MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 1.Mục tiêu -Vận dụng dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực qua bài:“ Cô bé bán diêm” của An- Đec- Xen Ngữ Văn 6. 2.Nhiệm vụ nghiên cứu -Cách thức tổ chức các hoạt động để HS chiếm lĩnh kiến thức, hình thành phẩm chất và năng lực khi dạy bài :“ Cô bé bán diêm” của An- Đec- Xen Ngữ Văn 6 ( tập 1) +Định hướng các năng lực chung : Năng lực tự học, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, Năng lực giao tiếp và hợp tác: HĐ nhóm, Năng lực thực hành ứng dụng +Định hướng các năng lực chuyên biệt: Năng lực tiếp nhận văn bản : nghe, đọc, cảm thụ thẩm mĩ và sáng tạo văn bản nghệ thuật, Năng lực tạo lập văn bản, gồm kĩ năng nói, viết, Năng lực cảm nhận và thẫm mỹ. + Định hướng hình thành phẩm chất: Nhân ái, yêu thương, đồng cảm, thấu hiểu, chia sẻ, giúp đỡ. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1 . Phương pháp quan sát , Tìm tòi nghiên cứu tài liệu tham khảo -Tôi đã tiến hành dự giờ đồng nghiệp để đúc rút kinh nghiệm cho bài dạy của mình 2. Phương pháp thảo luận : - Sau khi dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp , tổ đã thảo luận đóng góp ý kiến đúc rút kinh nghiệm cho giờ dạy . - Thông qua các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn (Các tiết chuyên đề, ). 3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm : - Bản thân tôi đã tiến hành dạy thực tế môn Ngữ văn ở lớp 6 và lớp 8. 4 . Phương pháp điều tra giáo dục : -Sau khi dạy xong mỗi tiết học tôi đã tiến hành kiểm tra, đánh giá để biết được kết quả tiếp thu bài của học sinh như thế nào. 5. Phương pháp vận dụng kiến thức liên môn. 6 Phương pháp so sánh, đối chiếu. 3
- 7. Phương pháp thuyết trình, vấn đáp. 8. Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan, sử dụng công nghệ thông tin. V. GIẢ THIẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Nếu đề tài này được nghiên cứu kĩ lưỡng, khoa học nó sẽ cung cấp cho học sinh cũng như đồng nghiệp một cách khai thác đem lại hiệu quả khi dạy bài “ Cô bé bán diêm” nói chung và văn bản “ Cô bé bán diêm” (An- Đec- Xen)- Ngữ Văn 6 (tập 1) nói riêng. VI. DỰ BÁO NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Đề tài góp một hướng khai thác dạy bài “Cô bé bán diêm” (An- Đec- Xen)- Ngữ Văn 6 (tập 1) theo đặc trưng thể loại. Học sinh có hứng thú hơn, tích cực hơn, sáng tạo hơn trong hoạt động học tập chiếm lĩnh tri thức. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động dạy học đạt được hiệu quả cao góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục. - Giúp HS hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực - Hình thành và phát triển kỹ năng đọc, viết, nói và nghe - Tác động đến tư tưởng, thái độ và hứng thú học tập cho học sinh. PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.CỞ SỞ LÍ LUẬN Bộ môn Ngữ văn có vị trí hết sức quan trọng trong nhà trường phổ thông, nó chứa đựng những nội dung phong phú và đa dạng về cuộc sống, sinh động về mặt văn hóa, tinh thần, tư tưởng, tâm hồn của dân tộc. Dạy văn giúp học sinh nhận ra vẻ đẹp văn chương đích thực ở mỗi tác phẩm. Để làm được điều đó, đòi hỏi người dạy không chỉ nắm vững đặc trưng cơ bản của thể loại mà còn biết xác định đúng mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ và đặc biệt là phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống được biên soạn theo Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Tích hợp các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe trong cùng một bài học; tích hợp kiến thức ngôn ngữ và kiến thức văn học với hoạt động đọc, viết, nói và nghe. Các hoạt động này được kết nối chặt chẽ với nhau. Hoạt động đọc giúp HS nắm được nội dung văn bản, đặc điểm của thể loại, loại văn bản , huy động vốn sống, trải nghiệm để hiểu văn bản . Từ những kiến thức, kĩ năng, vốn sống, trải nghiệm có được từ việc đọc, HS được hướng dẫn viết kiểu văn bản tương đương, theo một quy trình cụ thể, bài bản. Hoạt động nói và nghe được tổ chức trên cơ sở sản phẩm của hoạt động đọc hoặc viết. Như vậy, việc lấy hoạt động đọc làm cơ sở, cung cấp chất liệu cho các hoạt động viết. 4
- Mục tiêu chương trình Ngữ văn tổng thể 2018 quy định: Hình thành và phát triển 5 phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Môn Ngữ văn giúp HS phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, rèn luyện các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe. Phát huy khả năng tự học của HS, khơi gợi khả năng sáng tạo cho cả thầy và trò. Khi dạy bài:“ Cô bé bán diêm” của nhà văn An- Đec- Xen -Ngữ Văn 6, tôi hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực, rèn luyện các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe cho HS. Từ đó, qua mỗi trang văn các em không những sống thực hơn với cảm xúc của mình mà còn sống thực hơn với đời. II.CƠ SỞ THỰC TIỄN Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy việc dạy – học các tác phẩm văn học tại đơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh. Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau: *Dạy học đọc – hiểu văn bản : Giáo viên chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ một chiều, câu hỏi còn phụ thuộc nhiều vào sách giáo khoa chưa có những tìm tòi mới mẻ về phương pháp, hình thức dạy học. Giáo viên vẫn nặng về phương pháp truyền thống: thuyết trình, vấn đáp chưa chú ý đến các phương pháp tích cực như thảo luận, đóng vai. Dạy học chú trọng dạy kiến thức hơn là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực, kỹ năng đọc, viết, nói và nghe cho HS. Qua dự giờ đồng nghiệp, được đi học tập các chuyên đề do phòng tổ chức và thông qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: Dạy học theo hướng phát triển năng lực HS là một phương pháp dạy học tối ưu nhất, đem lại hiệu quả GD tốt nhất. Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực HS phát huy được những năng lực chung và năng lực chuyên biệt của bộ môn, giúp phát triển kỹ năng đọc, viết, nói và nghe cho HS, đồng thời rèn cho HS khả năng thích ứng với thực tế cuộc sống. Do đó, dạy học theo hướng phát triển năng lực HS trong giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung không còn là vấn đề đơn thuần nữa mà nó trở thành nhiệm vụ của mỗi giáo viên. Những năm học trước, tôi đã dự giờ đồng nghiệp và bản thân dạy bài “ Cô bé bán diêm” của An- Đec- Xen Ngữ Văn 8 theo hướng tiếp cận nội dung. Tôi nhận thấy: HS còn thụ động, GV làm việc nhiều, các em không phát huy hết năng lực của mình. HS chưa thực sự tự tin, mạnh dạn trước một vấn đề cần có giải pháp thống nhất. Năm học này, tôi được phân công trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 6, là năm đầu tiên thực hiện SGK mới. Tôi đã được tập huấn, chuyên đề dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, 5
- năng lực HS. Bước đầu tôi cảm nhận được: học sinh hứng thú hơn với môn học, phát huy tối đa việc hình thành và phát triển phẩm chất năng lực và các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe cho HS. Từ thực tế đó, với đề tài này, tôi vận dụng phát triển năng lực vào dạy văn bản: “ Cô bé bán diêm”nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. III.TIẾN HÀNH KHẢO SÁT THỰC TIỄN : Trong năm học 2020- 2021, tôi tiến hành khảo sát chất lượng học sinh lớp 8A khi chưa áp dụng dạy học theo hướng phát triển năng lực vào bài học, cụ thể bài “ Cô bé bán diêm” của An- Đec- Xen Ngữ Văn 8. Năm học này, tôi dạy văn 6 cùng bài học đó nhưng hướng khai thác, phương pháp khác nhau nên cho kết quả khác nhau. Kết quả đạt được như sau: Tỉ lệ Lớp Sĩ số Giỏi % Khá % TB % Yếu % 8A 31 4 13 7 23 15 48 5 16 6B 31 8 26 10 39 11 58 2 6 Từ thực tế đó, tôi rút ra những nhận xét chủ quan sau: Thứ nhất: Học sinh chưa tập trung, chưa chú ý có thể do giáo viên chưa tạo được hứng thú, bài dạy còn đơn điệu thiếu linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học. Giáo viên chưa phổi hợp tốt các phương pháp dạy học để phát huy vai trò của người học. Tôi thấy học sinh còn học tập thụ động. Thứ hai do giáo viên chưa chú trọng tích hợp trong cùng môn và liên môn để học sinh vận dụng trả lờií. Thứ ba: giáo viên chưa quan tâm tới mục tiêu phát triển năng lực các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe cho HS. Từ những kết quả thu về như trên, từ việc rút kinh nghiệm dự giờ đồng nghiệp, tôi đã rút ra được cho mình các giải pháp khi dạy bài: Cô bé bán diêm IV. GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP. 1. Giải pháp chung 1. 1.Trực tiếp tiếp xúc với tác phẩm: Đây là một yêu cầu chung đối với GV và HS khi dạy học tác phẩm văn chương. Chúng ta phải đọc, tiếp xúc, nghiền ngẫm tác phẩm thì mới nắm bắt được nội dung , nghệ thuật, ý đồ sáng tác, tư tưởng của tác giả, 6
- 1.2. Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tác phẩm; Sự hiểu biết về tác giả, tác phẩm, về thời đại, về hoàn cảnh lịch sử, phong tục, tập quán, về đất nước sản sinh ra tác phẩm. 1.3. Tìm hiểu về dấu hiệu của tác phẩm theo đặc trưng thể loại 2. Giải pháp cho từng hoạt động Hoạt động 1: Khởi động Ở hoạt động này trước đây GV hay áp dụng hình thức giới thiệu ngắn gọn bằng lời. Trong bài học này, tôi cho HS xem hình ảnh Em bé Siria chết trên bờ biển trong lần đi tị nạn và hình ảnh em bé ngồi trong thùng xe phế thải và hỏi: Hình ảnh này gợi cho em điều gì? Với hình ảnh trực quan, ấn tượng sẽ tác động đến cảm xúc, sự hứng thú cuốn hút của các em vào bài học. Hoạt động 2: Khám phá văn bản: Khám phá văn bản có 5 nội dung, tôi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, cặp đôi , làm việc cá nhân, thuyết trình, kĩ thuật khăn trải bàn, hướng đến phát triển năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, sáng tạo, năng lực giao tiếp. Hướng đến phẩm chất: Tình yêu thương, sống có trách nhiệm. Nội dung 1:Tìm hiểu về tác giả, tác phẩm -Giáo viên hướng dẫn học sinh phương pháp tự học : Học bài cũ, làm bài tập, soạn bài mới. Hoàn thành phiếu học tập.. – Công việc chuẩn bị: Học sinh đọc trước văn bản ở nhà, tóm tắt được văn bản; huy động những hiểu biết đã có về tác giả (tìm hiểu về năm sinh, năm mất, đề tài, vị trí, phong cách sáng tác ), về tác phẩm( tìm hiểu về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ tác phẩm, phương thức biểu đạt, ngôi kể, bố cục..). Hoàn thành phiếu học tập số 1 đã giao ở tiết học trước để sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ trên lớp. Nội dung 2:Tìm hiểu về hoàn cảnh của cô bé bán diêm, tôi cho học sinh thảo luận điền vào phiếu học tập. Tìm hiểu về gia cảnh, bối cảnh, hình ảnh của cô bé bán diêm và rút ra nhận xét Nội dung 3: Giáo viên cho học sinh tìm hiểu về những mộng tưởng thực tế và niềm mơ ước của em bé trong các lần quẹt diêm. Ở nội dung này, GV cho HS thảo luận nhóm bằng hình thức khăn trải bàn. Giúp HS thấy được những khát khao có một mái ấm yêu thương, hạnh phúc, ước mơ bình dị đó nhưng đối với em hoàn toàn xa vời. Tác giả sử dụng nghệ thuật tương phản, cách kể chuyện đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng để làm nổi bật tình cảnh đáng thương của em bé. Từ đó, làm rõ giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của tác phẩm và phong cách viết của An-đéc xen. 7
- Nội dung 4: Tìm hiểu về cái chết của cô bé bán diêm, tôi cho học sinh tìm hiểu về cái chết của em bé. Cái chết của con người bị dồn đến bước đường cùng Nội dung 5: Thái độ của người kể chuyện -Giúp HS thấy được tấm lòng nhân đạo và sự lên án xã hội vô cảm của tác giả. Từ đó, giáo dục các em tình yêu thương, sự đồng cảm, sẻ chia trong cuộc sống. Hoạt động 3: Luyện tập: Viết kết nối với đọc Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 câu) với nhan đề: Gửi tác giả truyện “Cô bé bán diêm”. Hoạt động này HS làm việc cá nhân, giúp HS rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn Hoạt động 4: Vận dụng Để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, GV cần: Từ các bài học, ý nghĩa trong các tác phẩm văn học đã học, hướng dẫn cho học sinh nhận ra được tác dụng của những điều đó đối với cá nhân mình, đối với cuộc sống. VD : Từ nhân vật em bé bán diêm em liên tưởng đến những số phận nào trong xã hội ta hiện nay ? (Trẻ em cơ nhỡ, lang thang, trẻ em bị bỏ rơi ) ? Đối với số phận bất hạnh như vậy chúng ta cần phải làm gì? HS trả lời, GV chốt vấn đề: Biết sẻ chia, quan, giúp đỡ những người có hoàn cảnh kém may mắn hơn mình trên tinh thần tương ái “ lá lành đùm lá rách”. Chúng ta thấy: Đảng - Nhà nước, các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm luôn đồng hành, chia sẻ với những mảnh đời kém may mắn. VD : Chương trình “Cặp lá yêu thương”, “ Khung giờ 11h30’ hàng ngày” trên VTV 24 của đài truyền hình Việt Nam luôn là cầu nối các nhà hảo tâm hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn để vươn lên trong cuộc sống góp phần lan tỏa tình yêu thương, nhân ái trong mỗi cá nhân, mỗi gia đình Việt, xây dựng một xã hội tốt đẹp giàu tính nhân văn. Hoạt động 5: Hướng dẫn về nhà: Tôi sử dụng phương pháp thuyết trình, yêu cầu học sinh phát triển năng lực tự học, trong việc học bài cũ và soạn bài mới. V. Giáo án thực nghiệm: Sau đây, tôi xin trình bày một bài dạy cụ thể ứng dụng các phương pháp mới đã nêu ở trên: Văn bản: Tiết 25,26: CÔ BÉ BÁN DIÊM (Han Cri-xti-an An-đéc-xen) 8
- 1. MỤC TIÊU 1.1 Về kiến thức: - HS nắm được những nét tiêu biểu về nhà văn An-đéc-xen. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba. - Hoàn cảnh nhân vật thể hiện qua hình dáng, hành động, ngôn ngữ, mộng ước. - Hình ảnh ở mỗi lần quẹt diêm và ý nghĩa của những hình ảnh ấy. -Đánh giá được sự vô cảm của xã hội đương thời, thấy được long nhân ái của tác giả. -Nêu được bài học về cách nghĩ và cách ứng xừ của cá nhân do văn bản gợi ra - Rút ra bài học về cách ứng xử với những người có hoàn cảnh khó khăn, cách chia sẻ, đồng cảm với cuộc sống của họ. - Giá trị tố cáo, giá trị nhân đạo của văn bản 1.2 Về năng lực: a. Năng lực chung - Năng lực tự học các tác phẩm truyện. - Năng lực giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung của các văn bản. - Năng lực sáng tạo trong nghệ thuật khi phân tích một vấn đề trong tác phẩm. - Năng lực sử dụng ngôn ngữ trong quá trình cảm nhận một số chi tiết, hình ảnh tiêu biểu. - Thu thập kiến thức xã hội có liên quan đến các tác phẩm văn tự sự nước ngoài - Tự lập, tự tin, có tinh thần vượt khó khi tìm tòi về các tác phẩm văn tự sự nước ngoài - Có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng, môi trường tự nhiên,... + Có ý thức công dân, có lối sống lành mạnh; + Có tinh thần đấu tranh với những quan điểm sống thiếu lành mạnh, trái đạo lý. b. Năng lực chuyên biệt: - Năng lực đọc hiểu tác phẩm truyện. - Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về văn bản Cô bé bán diêm. - Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về giá trị về nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của văn bản. - Năng lực phân tích, so sánh đặc điểm nghệ thuật của văn bản với các văn bản có cùng chủ đề. 1.3 Về phẩm chất: Nhân ái, yêu thương, đồng cảm, thấu hiểu, chia sẻ, giúp đỡ. 2. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 9
- - SGK, SGV. - Máy chiếu, máy tính. - Giấy A1 hoặc bảng phụ để HS làm việc nhóm. - 4 Phiếu học tập. 3. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG (3 phút) -Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của mình. Dẫn dắt vào bài mới HĐ của thầy và trò Sản phẩm dự kiến Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ Học sinh chia sẻ cảm -GV Cho học sinh xem hình ảnh Em bé Siria chết trên bờ nhận, suy nghĩ của biển trong lần đi tị nạn và hình ảnh em bé ngồi trong thùng mình: Sự thương xe phế thải và hỏi: Hình ảnh này gợi cho em điều gì? cảm, xót xa, phẫn nộ Gv: Vậy các con có cảm thấy mình thật may mắn khi được ngồi học tập ở đây, được yêu thương, chăm sóc, bảo vệ, che chở và tôn trọng không? Không phải đứa trẻ nào sinh ra cũng có may mắn như chúng ta, đúng không các con? Một trong những bạn nhỏ thiếu may mắn ấy chính là cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI B1: Chuyển giao nhiệm vụ (GV) I. Đọc văn bản - Yêu cầu HS kiểm tra lại phiếu học tập của mình và 1. Tác giả, tác phẩm mời 1 em trình bày, các em khác theo dõi, bổ sung a. Tác giả Nhân Bố Đề Người Lời Phươn Yếu tố - Tên đầy đủ: Hans Christian vật cục tài kể người g thức hoang Andersen (1805 – 1875) chính chuyện kể biểu đường, - Quê quán: Đan Mạch 10
- chuyện đạt kì ảo -Là nhà văn chuyên viết truyện cổ tích cho thiếu nhi. Tóm tắt văn bản theo sự việc - Các tác phẩm nổi tiếng: Bầy chim thiên nga, Nàng B2: Thực hiện nhiệm vụ công chúa và hạt đậu, Nàng GV hướng dẫn HS đọc và tìm thông tin. tiên cá, Bộ quần áo mới của HS quan sát SGK. hoàng đế. B3: Báo cáo, thảo luận b. Tác phẩm GV yêu cầu HS trả lời. - Cô bé bán diêm là một HS trả lời câu hỏi của GV. trong những truyện cổ tích B4: Kết luận, nhận định (GV) nổi tiếng nhất của Andersen. Nhận xét câu trả lời của HS và và chốt kiến thức lên 2. Đọc, tóm tắt, giải nghĩa màn hình. từ a. Đọc b. Tóm tắt GV yêu cầu: c. Giải nghĩa từ: Phỏng, bố - HS biết cách đọc thầm, biết cách đọc to, trôi chảy, thí, gió bấc, chí nhân phù hợp về tốc độ đọc 3. Thể loại, phương thức - Trả lời được các câu hỏi dự đoán, theo dõi biểu đạt - Thể loại: Truyện ngắn -Ngôi kể: thứ 3; nhân vật chính : cô bé bán diêm) - PTBĐ chính : Tự sự 4. Bố cục : 3 phần II. Khám phá văn bản 1.Hoàn cảnh của cô bé bán diêm a) Mục tiêu: Giúp HS - Tìm được những chi tiết nói về ngoại hình, hành động của cô bé - Nhận xét được hoàn cảnh đáng thương của cô bé. HĐ của thầy và trò Sản phẩm dự kiến B1: Chuyển giao nhiệm vụ (GV) - Thời tiết: Gió rét dữ dội 11
- - Tổ chức cho HS hoạt động nhóm, hoàn - Thời gian: Đêm giao thừa thành phiếu học tập số 2 (5 phút) - Không gian: Đường phố Bối cảnh diễn ra Cảnh ngộ của cô bé - Em bé: câu chuyện bán Diêm + Đầu trần, chân đất Thời tiết Những người mà em + Dò dẫm trong bóng tối thương yêu: + Bụng đói, giá rét. Thời gian: Cuộc sống thực tại: +Sống với cha trong một xó tối tăm, luôn Không gian: bị mắng nhiếc chửi rủa; Nhận xét của em về tình cảnh của nhân + Mồ côi mẹ, bà mới mất; cha nghiện vật: rượu, em phải đi bán diêm kiếm sống. B2: Thực hiện nhiệm vụ Nghèo - Làm việc cá nhân 2 phút, ghi kết quả ra khổ, bất hạnh, phiếu cá nhân. cô đơn, và - Thảo luận nhóm 3 phút và ghi kết quả ra đáng thương. phiếu học tập chung. B3: Báo cáo, thảo luận HS: -Trình bày sản phẩm. - Các nhóm khác theo dõi, quan sát, nhận xét, bổ sung (nếu cần) cho bạn. B4: Kết luận, nhận định (GV) - Nhận xét thái độ, kết quả làm việc của từng nhóm và chuyển dẫn nội dung tiếp theo, 2. Những lần quẹt diêm và mộng tưởng a) Mục tiêu: Giúp HS - Tìm, thống kê được những lần quẹt diêm và những hình ảnh em bé thấy gắn liền với mong ước của em bé, - Nhận xét được lý do, ý nghĩa, trình tự của những hình ảnh ấy. HĐ của thầy và trò Sản phẩm dự kiến B1: Chuyển giao nhiệm vụ (GV) - Lần 1:Ngồi trước lò sưởi lửa cháy vui - GV sử dụng kỹ thuật khăn trải bàn. mắt toả hơi nóng dịu dàng Vì em đang 12
- - HS làm việc cá nhân, làm việc nhóm để chịu đựng cái rét dữ dội, muốn được sưởi hoàn thiện nhiệm vụ. ấm; - Phát phiếu học tập số 3 & giao nhiệm - Lần 2: Bàn ăn, đồ quý giá, ngỗng vụ quay Vì em đang đói, muốn được Lần Hình ảnh Mong ước ăn 1 - Lần 3: Cây thông Noel, ngọn nến sáng 2 rực, lấp lánh Em bé muốn được đón 3 niềm vui, hi vọng vào năm mới an lành; 4 - Lần 4: Thấy bà nội hiện về đang mỉm 5 cười với em Em đang khao khát tổ Theo em có thể thay đổi trình tự của ấm, tình yêu thương, hạnh phúc, sự chở những hình ảnh trên không? Vì sao? che B2: Thực hiện nhiệm vụ - Lần 5 em quẹt tất cả những que diêm HS: Làm việc cá nhân 2’, nhóm 5’ còn lại trong bao: Thấy hình ảnh bà em to GV:Theo dõi, hỗ trợ HS trong hoạt động lớn và đẹp lão, bà cầm tay em rồi hai bà nhóm. cháu bay vụt lên cao khát khao cháy B3: Báo cáo, thảo luận bỏng của cô bé về một cuộc sống tốt đẹp GV: Hướng dẫn HS trình bày (nếu cần). hạnh phúc, không còn cô độc, đớn đau HS: Đại diện 1 nhóm trình bày sản phẩm. => Trình tự xuất hiện của các hình ảnh là - Các nhóm khác theo dõi, quan sát, nhận phù hợp, không thể thay đổi. xét, bổ sung (nếu cần) cho nhóm bạn. 4 lần quẹt diêm là 4 mong ước giản -Học sinh có thể đặt câu hỏi cho bạn: Lí dị, chân thành, chính đáng do vì sao bạn lại lí giải ý nghĩa của các Nghệ thuật: Đối lập và tương phản chi tiết đó như vậy? B4: Kết luận, nhận định (GV) - Nhận xét thái độ và kết quả làm việc của từng nhóm, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong HĐ nhóm của HS. - Tuyên truyền về quyền trẻ em, Chốt kiến thức & chuyển dẫn sang mục 3 3.Cái chết của cô bé bán diêm 13
- a) Mục tiêu: Giúp HS - Cảm nhận được sự bất hạnh của em bé. - Thầy được tấm lòng nhân đạo và sự lên án XH vô cảm của tác giả - Biết đồng cảm, chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn. HĐ của thầy và trò Sản phẩm dự kiến B1: Chuyển giao nhiệm vụ (GV) Kết thúc truyện - GV sử dụng KT nêu – giải quyết vấn đề. + Giống : Em bé được nhìn thấy những - Gv chuyển giao nhiệm vụ: Học sinh điều kì diệu, bay lên trong cảnh huy thảo luận theo hình thức cặp đôi hoàng, được hạnh phúc trên thiên đường ? Trong những câu chuyện cổ tích mà em cùng bà (có hậu). biết đến thường kết thúc như thế nào? + Khác : Nhân vật chính chết ở cuối tác Theo em, truyện Cô bé bán diêm có kết phẩm (sáng tạo). thúc giống như vậy không? Vì sao? - Sáng tạo một kết thúc như vậy có thể - Cho HS xem tranh và giáo dục tác giả muốn : B2: Thực hiện nhiệm vụ + Là lời cảnh tỉnh mọi người: đừng thờ ơ HS: Suy nghĩ, trả lời, chia sẻ cảm nghĩ, với con trẻ, đừng bao giờ để trên thế giới cảm xúc, bổ sung cho bạn (Nếu cần) này có những tình cảnh thương tâm như - Xem tranh, chia sẻ cảm xúc vậy nữa. Hoặc tác giả muốn mang đến GV:Theo dõi, hỗ trợ HS. một góc nhìn khác, một cái kết bớt đi B3: Báo cáo, thảo luận phần bi kịch. Thể hiện niềm tin của ông GV: Mời các HS chia sẻ ý kiến vào ánh sáng, tình thương của con người. HS: Chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc. B4: Kết luận, nhận định (GV) - Nhận xét về lòng nhân ái và sự lên án của tác giả. - Liên hệ thực tế, giáo dục kỹ năng sống, Chốt kiến thức & chuyển mục. 4.Thái độ của người kể chuyện 14
- a) Mục tiêu: Giúp HS - Cảm nhận được sự bất hạnh của em bé. - Thầy được tấm lòng nhân đạo và sự lên án xã hội vô cảm của tác giả - Biết đồng cảm, chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn. HĐ của thầy và trò Sản phẩm dự kiến B1: Chuyển giao nhiệm vụ (GV) *Thái độ của người kể GV sử dụng KT nêu – giải quyết vấn đề. chuyện - HS làm việc cá nhân để hoàn thiện nhiệm vụ. - Xót xa, thương cảm Cách ứng xử Thái độ của Thông điệp mà - Yêu thương, trân trọng của người đi người kể nhà văn muốn * Cách ứng xử của người đường chuyện gửi gắm đi đường - Thờ ơ, thiếu sự đồng cảm - Tổ chức cho HS HĐ chung cả lớp trả lời các câu hỏi: và tình yêu thương giữa con ? Tác giả đã miêu tả cái chết của em bé ntn? người đối với con người. ? Chi tiết nào khi tác giả miêu tả hình dáng của em *Thông điệp mà nhà văn không phù hợp với thực tế? (hoặc khiến em ấn tượng?) An-đéc-xen gửi gắm: Hãy ? Qua cách miêu tả này em có nhận xét gì về thái độ, yêu thương con trẻ! Hãy tình cảm của tác giả dành cho em bé? dành cho trẻ em một cuộc ? Tìm những chi tiết tác giả miêu tả thái độ của mọi sống bình yên và hạnh phúc! người qua đường khi chứng kiên sự việc? Có ai có Đồng thời phê phán mạnh hành động nào thể hiện lòng thương dành cho em bé mẽ đối với sự thờ ơ, vô cảm không? trước con người, nhất là trước nỗi bất hạnh của trẻ thơ. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP- VIẾT KẾT NÓI VỚI ĐỌC (Khoảng 10) a) Mục tiêu: HS viết được đoạn văn trình bày cảm nhận sau khi khám phá văn bản. b) Tổ chức thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ HS viết được đoạn văn - GV y/cầu: Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 câu) theo yêu cầu. với nhan đề: Gửi tác giả truyện “Cô bé bán diêm”. Gợi ý: Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ - Hình thức: đoạn văn 15
- - HS thực hiện nhiệm vụ trên vở ghi. khoảng 5 đến 7 câu Bước 3: Báo cáo, thảo luận - Nhan đề: Gửi tác giả - HS trình bày bài làm; truyện “Cô bé bán diêm”. - GV gọi HS khác nhận xét, bổ sung bài làm của bạn. - Nội dung gợi ý: - Các bài còn lại gửi theo link nộp sản phẩm. + Cùng nhà văn viết một Bước 4: Kết luận, nhận định: đoạn kết cho câu chuyện. - GV nhận xét, đánh giá, bổ sung, khuyến khích học + Kể về một điều tốt đẹp sinh . mà câu chuyện mang đến cho em. +Lựa chọn ngôi kể thứ nhất, xưng cháu. HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG Mục tiêu: HS hiểu được kiến thức trong bài học để vận dụng vào thực tế. -Từ nhân vật em bé bán diêm em liên tưởng đến những Biết sẻ chia, quan,giúp đỡ số phận nào trong xã hội ta hiện nay ( Trẻ em cơ nhỡ, những người có hoàn cảnh lanh thang, trẻ em bị bỏ rơi ) kém may mắn hơn mình trên ? Đối với số phận bất hạnh như vậy chúng ta cần phải tinh thần tương ái “ lá lành làm gì? đùm lá rách” Chúng ta HS trả lời, GV chốt vấn đề: thấy: Đảng - Nhà nước, các VD : Chương trình “Cặp lá yêu thương”, “ Khung giờ tổ chức xã hội, các nhà hảo 11h30’ hàng ngày” trên VTV 24 của đài truyền hình tâm luôn đồng hành, chia sẻ Việt Nam luôn là cầu nối các nhà hảo tâm hỗ trợ các với những mảnh đời kém hoàn cảnh khó khăn để vươn lên trong cuộc sống góp may mắn. phần lan tỏa tình yêu thương, nhân ái trong mỗi cá nhân, mỗi gia đình Việt, xây dựng một xã hội tốt đẹp giàu tính nhân văn. *Hoạt động 5: Hướng dẫn học bài ở nhà: (2 phút) - Hoàn thiện đoạn văn ở mục Vận dụng. - Chuẩn bị bài Thực hành Tiếng Việt ở trang 66,67 SGK SẢN PHẨM CÁC PHIẾU HỌC TẬP CỦA VB CÔ BÉ BÁN DIÊM + Phiếu số 1: Sản phẩm 1 16
- Nhân Bố cục Đề tài Người Lời Phương Yếu tố vật kể người thức hoang chính chuyệ kể biểu đạt đường, kì n chuyện ảo Cô - VB chia làm 3 phần: - Yêu thương - Ngôi - Dùng - Tự sự - Có yếu bé + Phần 1: Từ đầu đến đôi con trẻ, phê kế thứ lời kế tố kì ảo, bán bàn tay em cứng đờ ra -> phán sự thờ 3 để hoang diêm Hoàn cảnh của cô bé bán ơ, vô cảm thuật đường. diêm. trước nỗi bất lại sự + Phần 2: Chà chà đến hạnh của trẻ việc Thượng đế -> Những lần thơ quẹt diêm và mộng tưởng + Phần 3: Còn lại -> Cái chết thương tâm của cô bé Sản phẩm 2 Bối cảnh diễn ra Cảnh ngộ của cô bé bán Diêm câu chuyện Thời tiết: Gió rét Những người mà em thương yêu: Mồ côi mẹ, người bà hiền hậu dữ dội, tuyết rơi cũng đã mất Thời gian: Đêm Cuộc sống thực tại: khuya, gần giao - Gia sản tiêu tán thừa + Sống với cha trong một xó tối tăm, luôn bị mắng nhiếc, chửi rủa Không gian: + Phải đi bán diêm để kiếm sống, ngồi nép ở góc tường không Đường phố. dám về nhà vì sợ cha đánh khi chưa bán được diêm. - Giữa trời đông giá rét: + Đầu trần, chân đất + Dò dẫm trong bóng tối + Bụng đói, giá rét. + Mặc chiếc tạp dề cũ kĩ Nhận xét của em về tình cảnh của nhân vật: Tình cảnh khổ cực, tội nghiệp, đáng thương; cô độc, đói rét, bị đày ải, thiếu tình thương yêu, sự quan tâm. Sản phẩm 3 17
- Lần Hình ảnh Mong ước 1 Ngồi trước lò sưởi cháy vui mắt Vì em đang chịu đựng cái rét dữ dội mong tỏa hơi nóng dịu dàng được sưởi ấm. 2 Bàn ăn, bát đĩa bằng sứ quý giá, Vì em đang đói, muốn được ăn. ngỗng quay 3 Cây thông noel, ngọn nến sáng Em muốn được đón niềm vui, hi vọng vào rực, lấp lánh. năm mới an lành. 4 Thấy bà nội hiện về đang mỉm Em đang khao khát tổ ấm, tình yêu thương, cười với em. hạnh phúc, sự chở che. 5 Em quẹt tất cả những que diêm Khát khao cháy bỏng của cô bé về một còn lại trong bao: Thấy hình ảnh cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc không còn cô bà em to lớn và đẹp lão, bà cầm độc, buồn đau. tay em rồi hai bà cháu bay vụt lên cao. Theo em có thể thay đổi trình tự của những hình ảnh trên không? - Trình tự xuất hiện các hình ảnh là phù hợp, không thể thay đổi Sản phẩm 4 Cách ứng xử của người Thái độ của người kể chuyện Thông điệp mà đi đường nhà văn muốn gửi gắm - “ Khách qua đường - Xót xa, thương cảm - Thông điệp mà đều rảo bước .. .chẳng ai + Thể hiện qua cách miêu tả ngoại nhà văn An-đéc- bố thí cho em chút đỉnh” hình và cảnh ngộ xen gửi gắm: Hãy - “Khách qua đường vội + Sự tương phản giữa những ảo ảnh yêu thương con vã lãnh đạm với hoàn với hiện thực phũ phàng khi diêm tắt. trẻ! Hãy dành cho cảnh nghèo khổ của em - Yêu thương, trân trọng: trẻ một cuộc sống bé bán diêm” + Kể về những mộng tưởng của em bình yên, hạnh - “Mọi người bảo nhau: + Miêu tả cái chết của em phúc! Đồng thời chắc nó muốn sưởi ấm + Cách kết thúc truyện phê phán mạnh mẽ + Cách dùng từ ngữ: em, em bé, em với sự thờ ơ, vô gái nhỏ, em gái. cảm trước con 18
- Sự thờ ơ, thiếu sự Em bé bán diêm không chỉ hiện lên người, nhất là đồng cảm và tình yêu với thân phận người đau khổ, bất hạnh trước nỗi bất hạnh thương giữa con người mà còn có cả sự thơ ngây, trong sáng, của trẻ thơ. với con người. đáng yêu như một thiên thần VI. Kết quả đạt được qua khảo nghiệm Sau khi thực hiện tiết dạy theo như đề tài đã nêu trên ở lớp 6B và cho học sinh kiểm tra 5 phút . Tôi nhận thấy học sinh lớp 6B làm bài tốt hơn, đạt kết quả cao hơn và học sinh có hứng thú, say mê tích cực học tập hơn. Cụ thể như sau: Câu 1: Trong văn bản Cô bé bán diêm, các mộng tưởng của cô bé bán diêm mất đi khi nào? A.Khi bà nội em hiện ra. B.Khi trời sắp sáng. C.Khi các que diêm tắt D.Khi em bé nghĩ đến việc sẽ bị người cha mắng. Câu 2:Trong văn bản Cô bé bán diêm, em bé quẹt que diêm thứ nhất, em bé tưởng chừng ngồi trước một lò sưởi. Ý nào nói đúng về mộng tưởng đó? A.Em mơ về một mái ấm gia đình. B.Em nhớ tới ngọn lửa mà bà nhen nhóm năm xưa. C.Đang trải qua lạnh giá rét mướt, em mơ được sưởi ấm. D.Em mơ ngọn lửa và hơi ấm lò sưởi xua tan cảnh tăm tối, lạnh lẽo của đời mình Câu 3:Nhận định nào nói đúng nội dung của truyện Cô bé bán diêm? A.Gián tiếp nói lên bộ mặt của xã hội nơi cô bé bán diêm sống, đó là một cõi đời không có tình người. B.Thể hiện niềm thương cảm của nhà văn đối với những em bé nghèo khổ. C.Kể về số phận bất hạnh của một em bé nghèo phải đi bán diêm vào đêm giao thừa. D.Cả A, B, C đều đúng. Sau thời gian quy định, tôi thu kết quả thu được kết quả như sau: - Đáp án: Đúng: Câu 1. C, Câu 2. D, Câu 3. D Kết quả bài kiểm tra của học sinh trước và sau khi áp dụng Kết quả Số bài Giỏi Khá T. Bình Yếu kiểm tra kiểm tra SL % SL % SL % SL % Chưa áp dụng dạy học theo 31 7 23 9 29 11 35 4 13 19
- định hướng phát triển phẩm chất, năng lực Sau khi áp dụng dạy học theo định hướng phát triển phẩm 31 13 42 13 42 5 16 0 0 chất, năng lực theo đề tài Học sinh trước và sau khi áp dụng phương pháp dạy học theo hướng vận dụng phát triển phẩm chất, năng lực theo đề tài. Kết quả được thể hiện rõ qua bảng so sánh kết quả VI.Giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu. “Dạy học Phát triển năng lực” cho học sinh THCS là một nội dung cần thiết, người dạy cần phải nắm bắt được nội dung và đặc điểm môn học; lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp nhằm khai thác được hết kiến thức và hiểu biết thực tiễn của học sinh; từ đó giúp các em vận dụng kiến thức vào cuộc sống . Điều đó, đòi hỏi người giáo viên cần có kiến thức sâu có sự kết hợp một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học nhằm hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực, kỹ năng đọc, viết, nói và nghe. Từ đó, các em có niềm yêu thích môn học; đồng thời các em biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đó để giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống phát triển toàn diện hơn về mọi mặt đức- trí- thể- mĩ và hình thành được kĩ năng sống. Sự thành công của đề tài không chỉ thể hiện những con số khảo sát việc hiểu bài của học sinh mà nhằm giúp phát huy vai trò chủ thể của người học, phát huy tính tự giác, tính tích cực, chủ động, khả năng tìm tòi sáng tạo của học sinh, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng phát huy năng lực của người học. Đồng thời giúp đồng nghiệp có hướng khai thác khi dạy bài ‘ Cô bé bán diêm” đạt hiệu quả cao trong giảng dạy. PHẦN C: KẾT THÚC VẤN ĐỀ 1. Kết luận: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là một quá trình lâu dài, không thể ngày một ngày hai mà đông đảo giáo viên từ bỏ được kiểu dạy truyền thống. Việc phát triển các phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện trong đó quan trọng nhất là bồi dưỡng giáo viên. Mặt khác đội ngũ giáo viên chúng ta phải nhanh chóng đổi mới tư duy, nội dung phương pháp dạy học, để đạt được hiệu quả cao trong dạy học. 20

