SKKN Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Hiếu

pdf 18 trang baochau 05/02/2026 1190
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Hiếu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_giao_duc_ki_nang_song_cho_hoc_sinh_lop.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Lớp 1 - Nguyễn Thị Hiếu

  1. 1 I.Mở đầu Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đến mục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân giúp cho con người có năng lực và có kỹ năng để sống một cuộc sống có chất lượng, hạnh phúc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta đã nêu: "Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo,... Chú trọng đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến qua in-tơ-nét, truyền hình, các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)"(5). Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục Tiểu học nói riêng đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột giáo dục thế kỉ XXI , mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống đó là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống. Mục tiêu giáo dục phổ thông đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những phẩm chất, năng lực cần thiết cho các em. Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Bởi vì: các em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là những “công dân toàn cầu” quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới. Nếu không có KNS, các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc. Trong bất kì thời đại nào, giáo dục kĩ năng sống cho HS là một trong những nội dung quan trọng của mỗi nhà trường, vì giáo dục KNS nhằm giúp các em rèn luyện kĩ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống, hình thành thói quen làm việc theo nhóm, làm việc khoa học, kĩ năng hoạt động xã hội, thói quen rèn luyện sức
  2. 2 khỏe, ý thức bảo vệ bản thân trước các tác động xã hội. Trong khi đó, đối tương học sinh lớp 1 càng được quan tâm hơn trong việc giáo dục kĩ năng sống. Thực tế, khi học sinh bước vào lớp 1 là một môi trường hoàn toàn khác với mẫu giáo. Một nơi học tập rộng hơn, nhiều người xa lạ hơn. Chính điều đó đã làm các em choáng ngợp và sợ hãi. Đây là giai đoạn mà trẻ cần được rèn luyện các kỹ năng cơ bản để đối phó với thực tế và môi trường xung quanh. Chính vì vậy, trách nhiệm của mỗi nhà trường, mỗi giáo viên là phải làm sao nâng cao chất lượng dạy và học, phát triển toàn diện phẩm chất năng lực của người học, song song với việc giáo dục KN sống cho các em. Giáo dục kĩ năng sống không những cần thiết đối với học sinh Tiểu học nói chung mà còn rất cần thiết đối với học sinh lớp 1 nói riêng Tuy nhiên, dẫu có nhiều cố gắng, dường như một bộ phận không nhỏ giáo viên chúng ta vẫn đang chú trọng mục tiêu phát triển “trí tuệ” là chính và ít chú trọng đến khả năng, sở thích hay năng khiếu của học sinh. Nhiều khi, chúng ta quá coi trọng những kiến thức mà HS nắm được hơn là chú trọng giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống , sức khỏe, thẩm mỹ - những yếu tố then chốt để hình thành nhân cách cho học sinh. Nếu mỗi giáo viên chúng ta không đổi mới sáng tạo, không thay đổi cách nghĩ, cách tư duy cũ thì chúng ta chưa thực sự đưa một nền giáo dục con người toàn diện theo đúng nghĩa. Vậy làm thế nào để học sinh lớp 1 do tôi chủ nhiệm có thể phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực, làm thế nào để học sinh có thể trang bị đầy đủ những kĩ năng sống để đáp ứng với một xã hội phát triển hiện đại. Bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ và tìm kiếm cho mình cách tiếp cận giáo dục kĩ năng sống, lựa chọn, xây dựng kế hoạch giảng dạy để HS có thể đạt được những KNS tốt nhất. Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài " Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1" II. PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng của vấn đề 1.1 Thuận lợi Sở Giáo dục và Đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo quan tâm, nhắc nhở đến việc rèn luyện KNS trong giảng dạy. Giáo viên đã chú trọng việc rèn KNS qua việc tích hợp vào từng bài giảng, từng hoạt động cụ thể cho học sinh.
  3. 3 1.2 Khó khăn 1.2.1 Giáo viên Đôi khi, bản thân tôi chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục KNS cho HS mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức, nên chưa đầu tư thời gian tìm tòi, nghiên cứu các hình thức, phương pháp tổ chức cho các hoạt động rèn kĩ năng sống nên chưa tạo được sự hứng thú học tập cho HS. Đây là năm đầu tiên bản thân tôi dạy lớp 1, năm đầu tiên thực hiện chương trình GDPT 2018, nên bản thân tôi chưa có kế hoạch, biện pháp cụ thể để rèn KNS cho học sinh có tính hệ thống, thường xuyên. 1.2.3 Học sinh Học sinh học tập thụ động, chủ yếu nghe và làm theo lời giáo viên, ít sáng tạo, chưa tự giác Một số học sinh giao tiếp chưa tự tin, trình bày ý kiến cá nhân chưa lưu loát, rõ ràng, chưa có ý thức, chưa biết quan tâm đến mọi người xung quanh. Kỹ năng hợp tác của học sinh còn hạn chế. Một số em thiếu tính ham học hỏi, chưa biết cách tự học,... 1.2.3 Phụ huynh Một bộ phận không nhỏ phụ huynh chỉ khuyến khích con học tập giỏi, học tốt mà ngại cho con tham gia các hoạt động. Ví dụ như: xin cho con không đi tập văn nghệ, có phụ huynh còn lấy lí do con bị viêm xoang không thể tham gia vệ sinh trường lớp,.. Phụ huynh đôi khi còn nóng vội trong việc dạy con, chỉ chú trọng trong đến việc dạy con biết đọc, biết viết hoặc biết làm toán mà không cần quan tâm đến con học những KNS nào khi ở trường, khi ở nhà. Khuyến khích con học tập giỏi, học tốt mà ngại cho con tham gia các hoạt động. Ví dụ như: xin cho con không đi tập văn nghệ, có phụ huynh còn lấy lí do con bị viêm xoang không thể tham gia vệ sinh trường lớp,... Đôi lúc, phụ huynh còn có tư tưởng so sánh con mình với bạn gây cảm giác tự ti cho học sinh. Khi tiến hành điều tra về thực trạng kĩ năng sống của học sinh trong lớp, tôi tập trung chủ yếu vào một số kĩ năng sống cơ bản như là: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nói
  4. 4 trước đám đông, kĩ năng làm việc nhóm. Kết quả điều tra về thực trạng một số kĩ năng sống cơ bản của học sinh lớp tôi giai đoạn đầu năm học như sau: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THỨ NỘI DUNG Tốt Cần cố gắng Đạt TỰ ĐIỀU TRA SL TL SL TL SL TL 1 Kĩ năng giao tiếp với 30 6 20 % 46,7 % 10 14 thầy cô 33,3% Kĩ năng giới thiệu 40 11 7 23,3 % 12 2 trước lớp về bản thân 36,7% và gia đình Kĩ năng hợp tác khi 50% 10 3 5 16,7% 15 làm việc nhóm 33,3% Từ những thực trạng trên đây, thì việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một việc làm vô cùng cần thiết giúp cho các em thấy mình mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong việc thể hiện những năng lực của bản thân say mê, hứng thú trong học tập. 2. Các giải pháp áp dụng sáng kiến 2.1 Trang bị kiến thức về kĩ năng sống cho giáo viên và tạo động cơ học tập cho học sinh Trang bị kiến thức về kĩ năng sống nhằm giúp cho giáo viên có những hiểu biết căn bản về điều đó. Không thể tiến hành giáo dục cho học sinh về kĩ năng sống nếu bản thân giáo viên không hiểu được những vấn đề của kĩ năng sống. Tạo động cơ học tập cho học sinh nhằm mục đích đem đến cho các em sự hứng thú khi tham gia các hoạt động, giúp các em thấy được ích lợi cũng như sự cần thiết của vấn đề này, từ đó các em có ý thức tự giác với việc trau dồi và rèn luyện kĩ năng sống. Để khắc phục những thiếu hụt về mặt kiến thức, bản thân tôi đã phải tìm hiểu vấn đề này ở rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau như qua các tạp chí, qua mạng
  5. 5 Internet, qua các bạn đồng nghiệp ở các trường đang dạy thí điểm về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Từ đó tôi đã tự đúc rút cho mình những khái niệm về kĩ năng sống, những nội dung kĩ năng sống cần trang bị cho học sinh lớp Một và đưa ra những biện pháp giáo dục lồng ghép sao phù hợp với đối tượng học sinh lớp tôi. Trong thực tế có nhiều kĩ năng cần hình thành cho họ sinh, nhưng để phù hợp với tâm lí lứa tuôi, phù hợp với chương trình giáo dục, tôi đã lựa chọn một số kĩ năng sống cơ bản dưới đây để rèn cho học sinh lớp tôi phụ trách: 2.1.1 Kĩ năng tự phục vụ HS tự làm các công việc phù hợp khả năng để phục vụ cuộc sống của bản thân mình; Không trông chờ, ỉ lại vào người khác. Kĩ năng này giúp các em tự lập, tự trọng và không làm phiền người khác Học sinh sẽ được rèn kĩ năng sống tự phục vụ thông qua: Tự làm các công việc phục vụ vệ sinh cá nhân; gấp chăn màn, quần áo (khi ở nhà); xếp dọn sách vở, giữ gìn đồ dùng học tập, vệ sinh lớp học; 2.1.2 Kĩ năng tự bảo vệ và phòng chống tai nạn thương tích HS biết bảo vệ ứng xử kịp thời, hiệu quả trong các tình huống nguy hiểm cho bản thân: sức khỏe, tinh thần, tính mạng. HS biết cách phòng chống bị ngã, bị bỏng, đuối nước, bị điện gật, bị súc vật, côn trùng cắn, bị tai nạn giao thông, lạc, bị buôn bán, bắt cóc, bị xâm hại , 2.1.3. Kĩ năng ứng phó với căng thẳng Là kĩ năng giúp HS ứng phó tích cực với tình huống căng thẳng; Giữ thăng bằng cho sức khỏe và tinh thần; Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè và những người xung quanh. HS lớp Một còn non nớt, dễ căng thẳng trong học tập, trong quan hệ bạn bè, thầy cô, GV hướng dẫn các em tin tưởng chia sẻ với anh chị, bố mẹ, bạn bè, Thở sâu, đi dạo, nghe nhạc, khi căng thẳng 2.1 4. Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ Là kĩ năng giúp học sinh xác định nội dung, địa điểm, đối tượng hỗ trợ; Bày tỏ nhu cầu cần hỗ trợ; cung cấp thông tin ngắn gọn; bình tĩnh khi kết quả hỗ trợ chưa được như mong muốn GV hướng dẫn HS tìm kiếm hỗ trợ khi khó khăn học tập, bị lạc, bị tai nạn, bị bắt nạt, bị bắt cóc, bị xâm hại sức khỏe, tinh thần, ,
  6. 6 2.1.5. Kĩ năng thể hiện sự tự tin Kĩ năng thể hiện sự tự tin là kĩ năng có niềm tin vào bản thân và tương lai; Có nghị lực để thực hiện mọi nhiệm vụ, dự định Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp HS có thể giao tiếp mạnh dạn; Giải quyết vấn đề tích cực, thành công hơn; kiên định, lạc quan, trong cuộc sống GV giúp HS rèn kĩ năng bằng cách: Mạnh dạn bày tỏ nhu cầu, mong muốn bản thân; Biết bảo vệ ý kiến trong gia đình, nhóm, lớp; Nhận trách nhiệm trong gia đình, nhóm, lớp. 2.1.6 Kĩ năng giao tiếp Kĩ năng giao tiếp là khả năng trình bày ý kiến, nhu cầu,... Bằng ngôn ngữ hoặc hành động phù hợp mang lại hiệu quả mong muốn; Sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp (trực tiếp, điện thoại,...) với nhiều người thân, thầy cô và bạn bè. GV giúp HS rè kĩ năng bằng cách: Chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi; Vui vẻ hòa đồng với bạn bè, thầy cô; Phát biểu ý kiến của mình trong học tập, các mối quan hệ Biết sử dụng một số phương tiện giao tiếp. Ứng xủ phù hợp trong các hoàn cảnh giao tiếp cơ bản: nơi công cộng, bệnh viên, đám tang, 2.1.7 Kĩ năng lắng nghe tích cực Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp. Người có kĩ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp. Người có kĩ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng và quan tâm đến ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp, thương lượng và hợp tác của họ hiệu quả hơn. Lắng nghe tích cực cũng góp phần giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và xây dựng. GV hướng dẫn HS rèn kĩ năng lắng nghe tích cực bằng cách: Không nói chuyện riêng trong giờ học; Không cắt ngang lời người khác; Nhận nhiệm vụ chính xác từ thầy cô, bạn bè, người lớn; Tham gia tốt các hoạt động thảo luận nhóm; Biết động viên người nói qua cử chỉ, hành động, ngôn ngữ 2.1.8. Kĩ năng hợp tác. Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
  7. 7 Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiêu quả với những thành viên khác trong nhóm. Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng Khi bản thân tôi đã có những hiểu biết nhất định về những KNS cần rèn cho HS lớp mình, tôi dễ dàng lựa chọn các hình thức dạy họ , các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp nhằm tổ chức giờ học, hướng dẫn HS thực hiện những thói quen tích cực, để các em tự tin vào bản thân, để các em tránh được rủi ro mà các em có thể gặp phải, Qua theo dõi cách HS lớp tôi tham gia chương trình Ngày hội hoạt động trải nghiệm Kĩ năng sống do Trung tâm Kĩ năng sống Giá trị Việt tổ chức, tôi thấy việc tìm hiểu, nghiên cứu và rèn KNS cho HS đã thực sự mang lại hiệu quả. Trong lúc tham gia trải nghiệm các em đã biết cách hợp tác với các bạn tham gia nhóm Kĩ năng xây dựng tình bạn, Kĩ năng Tư duy- sáng tạo, Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, Kĩ năng thấu cảm yêu thương, Kĩ năng bảo vệ bản thân qua các trò chơi vui nhộn, thiết thực. 2.2 Rèn kĩ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học Trên đây là những bước chuẩn bị đầu tiên của tôi. Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả tôi vận dụng vào các môn học, tiết học, nhất là các môn như: Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội và hoạt động giáo dục: Hoạt động trải nghiệm Năm học 2020-2021, là năm đầu tiên triển khai Chương trình Giáo dục phppr thông 2018. Chương trình mới chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, do đó GV phải là người truyền cảm hứng để HS được bộc lộ, phát huy khả năng, sở trường, thế mạnh của mình. Khi áp dụng chương trình SGK mới, giáo viên cũng sẽ thực hiện phương pháp dạy học mới. Theo đó, thay vì truyền thụ kiến thức một chiều, nặng về lý thuyết như hiện nay, giáo viên sẽ dạy học tích cực, hướng dẫn học sinh hoạt động, tự tìm tòi kiến thức, phát triển kỹ năng vận dụng vào đời sống. Vì thế việc lồng ghép dạy học phát triển phẩm chất, năng lực với việc hình thành kĩ năng sống cho HS phải được Gv chú trọng. Cụ thể, bản thân tôi nhận thức được rằng phải giảng dạy lồng ghép, tích hợp các kiến thức này như thế nào, tạo điều kiện cho học sinh thực hành ra sao để học sinh có thể vận dụng được những kỹ năng, hiểu biết này vào cuộc sống. Chính vì thế
  8. 8 khi tổ chức dạy học trên lớp, tôi thường lồng ghép rèn kĩ năng sống cho các em trong từng môn học cụ thể, lựa chọn những nội dùng phù hợp tích hợp GDKNS. Ví dụ Môn Tiếng Việt rèn KN giao tiếp, Môn Tự nhiên xã hội rèn kĩ năng Tự phục vụ. Hoạt động trải nghiệm giúp các em sự tự tin .Tôi lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành trải nghiệm KNS trong quá trình học tập. Khi lập kế hoạch dạy học các môn học theo phân công chuyên môn của nhà trường: môn Tiếng Việt; Tự nhiên và Xã hội và Hoạt động trải nghiệm, tôi phải nghiên cứu chương trình, yêu cầu cần đạt của từng môn học, tìm địa chỉ tích hợp kĩ năng sống vào từng bài học cụ thể. Trong các bài Tiếng Việt có chủ đề luyện nói Giới thiệu, Chào hỏi, Cảm ơn, Xin lỗi ( Bài 1 trang 14, bài 3 trang 18, bài 8 trang 28, ),sẽ tích hợp nội dung giáo dục Kĩ năng giao tiếp, Kĩ năng hợp tác, Kĩ năng ứng phó với căng thẳng Trong môn Tự nhiên và Xã hội, tôi tìm và đưa địa chỉ tích hợp nội dung Kĩ năng sống như: Bài 1: Kể về gia đình trang 6; Bài 6 Lớp học của em (trang 14) Bài 7 Cùng Khám phá trường học (trang 30) Kĩ năng lắng nghe tích cực ; Kĩ năng thể hiện sự tự tin dục kĩ năng giao tiếp, Kĩ năng hợp tác. Bài 4: An toàn khi sử dụng đồ dùng trong nhà (trang 18); Bài 8 Cùng vui ở trường ( trang 36) Bài 24 Tự bảo vệ mình (trang 102) sẽ tích hợp nội dung giáo dục Kĩ năng tự bảo vệ và phòng chống tai nạn thương tích; Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ Với mục tiêu Hoạt động trải nghiệm cấp Tiểu học là hình thành cho HS thói quen tích cực trong cuộc sống hằng ngày, chăm chỉ lao động ; thực hiện trách nhiệm của HS ở nhà, ở trường và địa phương; biết tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hình thành những hành vi giao tiếp; ứng xử có văn hóa; có ý thức hợp tác nhóm và hình thành được năng lực giải quyết vấn đề, tôi lựa chọn tất cả các bài Sinh hoạt theo chủ để để rèn kĩ năng sống cho học sinh. Việc tìm địa chỉ tích hợp giáo dục kĩ năng là điểm mới và sáng tạo ở chỗ là giúp giáo viên có định hướng tốt cho việc lập kế hoạch bài dạy; GV chủ động trong tổ chức các hoạt động để rèn kĩ năng sống cho HS một cách linh hoạt, thiết thực. Sau khi có kế hoạch dạy học, tôi tiến hành lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành trải nghiệm KNS trong quá trình học tập và tổ chức các hoạt động cụ thể theo các bước: Khám phá (Khám phá kinh nghiệm đã có của HS) Kết nối(Kết nối kinh nghiệm hiện có của
  9. 9 HS với bài học mới); Thực hành (vận dụng kinh nghiệm mới thu hoạch được vào giải quyết các tình huống giả định); Hoạt động kết nối (hình thành thói quen, kĩ năng và góp phần hình thành kĩ năng sống cần thiết). Như khi dạy Học vần Bài 48 at, ăt, ât (Tiết 2) Tôi xác định kĩ năng sống cần đạt: Kĩ năng giao tiếp (Nam biết nói lời xin phép) ; Kĩ năng hợp tác, Kĩ năng thể hiện sự tự tin ( Biết cách thảo luận, xử lí tình huống có trong tranh) Tôi xác định phương pháp/kĩ thuật dạy học: Thảo luận nhóm, suy nghĩ, chia sẻ, trình bày 1 phút. Trong Hoạt động 7 của bài với yêu cầu Nói theo tranh, tôi tổ chức HS quan sát tranh làm việc cá nhân và nêu được nội dung tranh ( Nam đến chơi nhà bác. Nhà bác có rất nhiều đồ chơi đẹp) GV khuyến khích HS nêu tốt để rèn kĩ năng năng thể hiện sự tự tin. Sau đó thảo luận nhóm đôi để xử lí tình huống: “Theo em, nếu Nam muốn chơi đồ chơi đó thì Nam phải nói gì với bác chủ nhà”. Các nhóm xử lí tình huống. GV theo dõi, động viên học sinh, GV chú ý rèn kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác cho HS. Với kĩ thuật tình bày 1 phút, tôi tiến hành tổ chức cho HS nêu thêm những trường hợp phải xin phép. Như khi dạy Tiếng Việt chủ đề nói: "Tôi là học sinh lớp 1", tôi đưa ra nội dung: “Em hãy nói về bản thân em và làm quen với mọi người”. Sau vài lời khuyến khích đầu tiên, tôi tổ chức cho các em đứng thành vòng tròn tự giới thiệu về tên và sở thích của từng em và làm quen với các bạn xung quanh. Lúc đầu các em rất ái ngại không tự tin khi nói về mình nhưng tôi nhắc nhở những điều cần chú ý trong khi giao tiếp, cộng thêm một môi trường hoà đồng thân thiện các em thực hiện rất tốt, không còn những cái nhìn ái ngại. Thay vào đó là những cánh tay tự tin cùng câu nói chắc gọn: “Mình tên là gì, mình học ở đâu, từ khi đi học lớp 1, mình đã làm được những gì?” Như khi dạy bài An toàn khi sử dụng đồ dùng trong gia đình (môn Tự nhiên và Xã hội) Tôi xác định kĩ năng sống cần đạt : Kĩ năng tự bảo vệ và phòng chống tai nạn thương tích (HS biết được trong trường hợp nào, những đồ dùng, thiết bị trong nhà có thể gây nguy hiểm) ; Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ (HS nhớ số điện thoại người thân, tìm kiếm đồ dùng hỗ trợ)
  10. 10 Tôi xác định phương pháp/kĩ thuật dạy học: Sử dụng Kĩ thuật động não, Thảo luận nhóm. Tôi tiến hành tổ chức giờ dạy: Khám phá: GV cho HS kể tên một số đồ dùng, thiết bị nếu không sử dụng cẩn thận có thể làm bản thân hoặc người khác gặp nguy hiểm. GV ghi nhanh các ý kiến của HS. Kết nối: Kết thúc giai đoạn động não, với sự hỗ trợ của GV, HS sắp xếp các đồ dùng, thiết bị trong nhà và phân loại chúng thành các nhóm. Ví dụ: + Những đồ dùng có thể gây đứt tay. + Những thứ có thể gây bỏng. + Những đồ dùng thiết bị có thể gây điện giật. Thực hành: GV chia lớp thành những nhóm nhỏ, phát cho mỗi nhóm 1 bộ tranh và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm. Ví dụ: + Nhóm 1: Tìm trong bộ tranh, những đồ dùng thiết bị nào gây đứt tay và giải thích rõ trong trường hợp nào người sử dụng có thể bị đứt tay. + Nhóm 2: Tìm trong bộ tranh, những đồ dùng thiết bị nào gây bỏng và giải thích rõ trong trường hợp nào người sử dụng có thể bị bỏng. + Nhóm 3: Tìm trong bộ tranh, những đồ dùng thiết bị nào gây điện giật và giải thích rõ trong trường hợp nào người sử dụng có thể bị điện giật. Trong khi các nhóm làm việc, GV có thể đi đến quan sát, lắng nghe các nhóm thảo luận, nếu cần có thể đưa ra gợi ý: Li thủy tinh dùng để uống nước, nhưng nếu không cẩn thận để li rơi và vỡ, nếu không thu dọn đúng cách mảnh thủy tinh sẽ làm đứt tay hoặc chân khi giẫm phải, Qua hoạt động này rèn kĩ năng tự bảo vệ và phòng chống tai nạn thương tích; Sau khi học sinh nhận biết được những đồ dùng, nếu sử dụng không cẩn thận có thể gây đứt tay, gây bỏng hay điện giật, tôi hướng dẫn các em sử dụng đồ dùng này đúng cách và tự tin khi sử dụng. Ngoài ra, một hoạt động thiết thực với học sinh đó là Hoạt động kết nối. Tôi thiết kế hoạt động tiếp nối để xác định xác định những việc HS cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học, khắc sâu, mở rộng bài học và ứng dụng kết quả vào thực tế cuộc sống.
  11. 11 Hoạt động tiếp nối của bài An toàn khi sử dụng đồ dùng trong nhà là gợi ý cho học sinh cùng bố mẹ mua một số đồ dùng y tế như bông, băng,... cách sử dụng băng tay cá nhân để băng bó vết thương, ghi số điện thoạn đường dây nóng để gọi điện khi cần Trong quá trình tổ chức dạy học, tôi chủ động điều chỉnh kế hoạch dạy học của mình phù hợp hành vi theo tình hình thực tế của lớp, uốn nắn hành vi, thói quen của HS trong tiết học. Trong quá trình lên lớp, tôi vừa hướng dẫn HS chiếm lĩnh kiến thức mới, vừa rèn kĩ năng sống cho HS là quá trình xuyên suốt, có hệ thống, khoa học, phù hợp với tâm sinh lí của các em. Vì thế HS tự tin tham gia các hoạt động học tập, sôi nổi, có hiệu quả khi tham gia hoạt động ngoài lớp học. Cụ thể, trong mô hình dạy học sáng tạo với chủ đề Về nguồn, 100 % học sinh lớp tôi tham gia hoạt động .Tiêu biểu có em Nguyễn Trí Anh rất thành công trong Hướng dẫn viên du lịch giới thiệu Nhà trưng bày Khu Chính phủ Cách mạng Lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam. Em Nguyễn Tấn Khang viết thư pháp Chăm học. Em Nguyễn Bùi Trung Hiếu nặn rất nhiều con tò he đáng yêu. Em Trần Đào Phương Nguyên nhận được phần quà từ Ban Tổ chức vì đã giới thiệu được di tích lịch sử nhà Tằm Tân Tường . 2.3 Xây dựng một lớp học hạnh phúc nhằm góp phần giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Khi bắt đầu đi sâu nghiên cứu, tìm hiều các biện pháp GDKNS cho học sinh, tôi thấy mình phải thay đổi cách dạy, cách hướng dẫn HS học tập cũng như xây dựng mối quan hệ thầy – trò , trò – trò. Thay đổi để có lớp học hạnh phúc. Trong một lớp học hạnh phúc, học sinh mới phát triển toàn diện, có những thói quen tốt, biết quan tâm đến người khác và mới biết cách ứng xử phù hợp. Để có sự thay đổi, tôi mạnh dạn nhìn lại chặng đường giảng dạy đã qua, tôi thấy đôi lúc mình còn cứng nhắc. Trong dạy học, chuyện bực dọc, ức chế là chuyện không thể bàn cãi. Dưới áp lực của kiến thức, của chương trình, áp lực của phụ huynh tin tưởng giao phó và áp lực từ bản thân là lớp phụ trách phải hoàn hảo, học sinh phải chăm ngoan, biết vâng lời, tôi đã đổ dồn sự bực dọc và áp lực lên học sinh. Muốn học sinh nề nếp siết chặt kỉ cương. Muốn học sinh ngoan, đoàn kết, yêu thương, phê bình những HS nghịch ngơm, mắc lỗi. Muốn HS học bài và làm bài chăm chỉ, phê bình những HS lười biếng... Vì thế giờ học trở nên nặng nề bởi những quát tháo, mắng mỏ,... Các em lo lắng khi đứng dậy trả lời câu hỏi. Tôi không nghe được những lời bộc bạch tâm sự
  12. 12 của học sinh. Các em xa lánh, né tránh và thu mình lại. Tôi đã có dịp nhìn lại cả quá trình mình đã đi qua và tôi đã nhận ra rằng kỉ luật là sự thất bại của các phương pháp giáo dục. Tôi đã thay đổi để hóa giải những tức giận, bực dọc, tôi gần gũi HS, biết quan tâm đến cảm xúc của HS nhiều hơn, biết xóa đi khoảng cách giữa thầy – trò mà trước đây tôi nghĩ là mình phải có để HS ngoan. Thái độ, nhân cách của HS cũng là sản phẩm của giáo dục. Người GV xuất sắc là người GV biết phát huy nội lực mà các em có. Tôi đã thay đổi, xây dựng mối quan hệ thầy – trò thân thiện, tích cực như sau: Năm học 2020- 2021, sau 20 năm dạy học, tôi được phân công giảng dạy lớp 1. Trong thời gian tập huấn, bản thân tôi thấy bỡ ngỡ và có phần lo lắng. Để chuẩn bị tốt cho việc giảng dạy và đón các cháu vào lớp 1, tôi thường trao đổi, trò chuyện học hỏi kinh nghiệm từ các chị em đồng nghiệp đã từng dạy lớp 1 như: chị Nguyễn Thị Mĩ Dung, chị Nguyễn Thị Mai Lộc, chị Phan Thị Hường, chị Lê Thị Vy,.. Trong buổi dạy đầu tiên của mình, tôi giới thiệu tên của mình, nơi ở, sở thích và số điện thoại với các em. Sự cởi mở này giúp các em cảm thấy cô giáo thật gần gũi. Các em cảm thấy bớt đi vẻ rụt rè, sợ hãi lúc mới vào lớp. Sau đó tôi sắp xếp nhiều thời gian cho học sinh được giới thiệu về bản thân, động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích, ước mơ tương lai cũng như mong muốn của tôi với các em. Đây là hoạt động giúp cô trò chúng tôi hiểu nhau, đồng thời tôi muốn tạo một môi trường học tập thân thiện - Nơi "Trường học thật sự trở thành ngôi nhà thứ hai của các em, các thầy cô giáo là những người thân trong gia đình". Đây cũng là một điều kiện theo tôi là rất quan trọng để phát triển khả năng giao tiếp của học sinh. Bởi học sinh không thể mạnh dạn, tự tin trong một môi trường mà giáo viên luôn gò bó và áp đặt. Cứ như thế kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tụ tin được hình thành một cách tự nhiên, có hệ thống. Tiếp theo trong tuần đầu tôi cho học sinh tự do lựa chọn vị trí ngồi của mình để qua đó phần nào nắm được đặc điểm tính cách của các em: mạnh dạn hay nhút nhát, thụ động, thích thể hiện hay lãng mạn...Và tiếp tục qua những tuần học sau, tôi chú ý quan sát những biểu hiện về thái độ học tập, những cử chỉ, hành vi tại vị trí ngồi mà các em chọn để bắt đầu có điều chỉnh phù hợp. Chọn những học sinh năng động, nhiệt tình và có lực học tốt để bầu ban cán sự lớp, phân công từng việc cụ thể, phù hợpvới từng em nhằm đưa tập thể lớp ngày
  13. 13 càng đi lên. Hàng ngày giáo viên theo dõi, kiểm tra, nhắc nhở với vai trò vừa là cha, là mẹ, là anh, là chị, là người bạn tốt của các em. Tôi dành nhiều thời gian hơn để nghe học sinh phát biểu, nói lên cảm nhận của mình về bài học. Tôi lắng nghe những thắc mắc, những câu hỏi sau mỗi bài học. Tranh thủ những lúc ra chơi tôi cùng tâm sự, hỏi han về hoàn cảnh gia đình của các em, lấy số điện thoại để tiện cho việc liên lạc. Tôi rời bục giảng và đến bên HS nhiều hơn, ngồi vào vị trí trí của các em để thấu hiểu, để xóa bỏ khoảng cách thầy – trò. Mỗi bài học, tôi lồng ghép những giá trị sống tích cực giúp các em hình thành những kĩ năng cần thiết để trở thành một người tốt. Tôi dành 3-5 phút để khởi động tiết học bằng 1 bài hát, một mẩu chuyện hay là một trò chơi và không quên kết thúc tiết học bằng một nụ cười. Tôi thay những lời phê phán, chỉ trích bằng những lời khen ngơi, động viên, khuyến khích. Từ đó, các em trao cho tôi niềm tin nhiều hơn. Lớp học chúng tôi có nhiều nụ cười rang rỡ hơn. Tôi cảm nhận được hạnh phúc có ở trong lớp học của mình. Như vậy, đứng trước thách thức đổi mới sáng tạo trong dạy học, mỗi chúng ta phải tự “đốt cháy” mình để tạo sáng cho học sinh. Người thầy thành công không chỉ là người thầy biết truyền thụ tri thức mà còn biết khơi nguồn sáng tạo, biết truyền cảm hứng, biết gợi dậy sự tò mò... để người học tự tìm tòi mọi vấn đề và tự khám phá năng lực bên trong của mình. 2.4 Phối hợp với các bậc cha mẹ thực hiện dạy các em các kĩ năng sống cơ bản Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh không phải là việc của giáo viên hay học sinh mà đó là sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Vì vậy việc phối hợp với các bậc cha mẹ học sinh để giáo dục kĩ năng sống cho các em là rất cần thiết để đạt hiệu quả cao nhất. Trước hết, người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với các em và đảm bảo an toàn cho các em, tạo điều kiện tốt nhất cho các em vui chơi. Cô giáo, cha mẹ luôn khuyến khích các em nói lên quan điểm của mình, nói chuyện với các thành viên trong lớp, trong gia đình về cảm giác và về những lựa chọn của mình, cần giúp các em hiểu rằng nên có thông số để theo đó mà lựa chọn, cố gắng không chỉ trích các quyết định của các em. Việc này sẽ hình thành kĩ năng
  14. 14 tự kiểm soát bản thân, rèn luyện tính tự tin cho các em khi tham gia các hoạt động và các buổi thảo luận tại trường sau này. Cô giáo, cha mẹ giúp các em phát triển sở thích, ý thích của mình và đảm bảo rằng người lớn có thể cung cấp thêm phương tiện để các em thực hiện ý thích đó. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, GV tuyên truyền và triển khai công tác phối hợp giáo dục kĩ năng sống cho HS. Gv ghi chép những ý kiến thảo luận của phụ huynh sau đó cùng thống nhất cách làm việc. Ví dụ: GV cùng phụ huynh theo dõi xem con em mình ngoài học tập có năng khiếu gì thể thao, âm nhạc, mĩ thuật GV phân tich để phụ huynh thấy được mỗi HS thường có một năng khiếu khác nhau, nên không so sánh con mình với các bạn khác, HS này với HS khác dẫn đến HS tư ti, mặc cảm. Sau đó tôi lập nhóm Zalo để tiện trao đổi trong quá trình giảng dạy. Ví dụ: Một số học sinh thích vẽ (Trần Hoàng Quyên, Nguyễn Bùi Trung Hiếu, Nguyễn Khánh Gia Linh , ngoài việc cho các em học năng khiếu vẽ thì cô giáo, cha mẹ có thể cho các em thêm bút màu, giấy vẽ và hãy chỉ cho các em cách lưu giữ các bức tranh để tạo thành một bộ sưu tập tranh vẽ của chính các em hoặc triển lãm tranh của các em ở góc nhỏ trong nhà, trong lớp. Hay học sinh thích múa, hát thì tạo điều kiện để các em được tham gia các lớp học múa ở nhà thiếu nhi để các em có đủ tự tin biểu diễn trên sân khấu. Kết quả các em hát múa rất đẹp trong tiết mục Em đón Tết sang trong chương trình Hành quân theo bước chân những người anh hùng. Trong giờ dạy, tôi nhận ra em Nguyễn Tiến Quân, mặc dù em nhận diện chữ cái, hay ghép vần không nhanh bằng các bạn trong lớp nhưng em trả lời câu hỏi hay, xử lí các tình huống trong bài học khá nhanh, tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về điểm mạnh và điểm chưa tốt với phụ huynh để tìm cách giúp em khắc phục. Ở lớp, tôi động viên, khích lệ em trong học tập bằng những lời khen ngợi em khi trả lời bài học. Vì thế em luôn tập trung chú ý trong giờ học. Cuối năm em đã đọc bài khá lưu loát và luôn tự tin trong giờ học. Tôi phối hợp với cha mẹ các em để dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống, biết cách sử dụng các đồ dùng ăn uống; Cụ thể: Các em được làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống) ở lớp, thì ở nhà phụ huynh phải giới thiệu cho con biết cách sử dụng và sử dụng thế nào cho đúng, tránh hư hỏng và an toàn. Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không
  15. 15 vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để hình thành kĩ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. Tôi đã nhận ra được một số bộ phận không nhỏ phụ huynh có tâm lí thương con, ngại cho con tham gia vệ sinh trường lớp. Tôi tuyên truyền và cùng với phụ huynh rèn cho con ý thức giữ gìn vệ sinh chung, giữ gìn vệ sinh cá nhân. Nay đầu năm học tôi tập HS làm quen với việc bỏ rác đúng nơi quy định, kết hợp với tiết học Tự nhiên và xã hội, tôi cho HS xem clip tuyên truyền Bỏ rác đúng nơi quy định với hình ảnh đẹp, lời nói dễ thương, làm cho HS thấy vừa thiết thực, vừa dễ nhớ. Cuối buổi học kiểm tra chỗ ngồi, hộc bàn và bỏ rác vào thùng trước khi rời lớp. Nhắc các em không được xé sách vở làm đồ chơi để giáo dục ý thức tiết kiệm và bảo vệ đồ dùng cá nhân. Tôi phân công HS làm vệ sinh lớp học, đảm bảo mọi HS đề có ý thức giữ gìn vệ sinh lớp học. Ban đầu có những HS còn lúng túng, tôi hướng dẫn các em cách cầm chổi, cách hốt rác. Tôi hướng dẫn các em cách rửa tay đúng cách và thói quên rửa tay sau khi đi vệ sinh, sau khi vui chơi trong giờ ra chơi. Với sự tận tình, ân cần của tôi, các em đã thực hành rất tốt. Tôi tìm cách trao đổi với phụ hunh cách làm của mình và nhận được sự ủng hộ cao của phịu hunh. Vì thế, lớp hopjc luôn sạch sẽ, gọn gàng, HS tích cực hơn tong học tập và vệ sinh trường lớp. Bên cạnh việc thúc đẩy thành tích học tập của các con, nhiều phụ huynh giờ đây đã quan tâm nhiều hơn đến việc làm thế nào để dạy bảo và rèn luyện cho con cách giao tiếp nơi công cộng, lễ phép với người lớn, thể hiện lối sống văn minh Và nhiều hơn thế, họ còn chú trọng dạy con những kỹ năng và cách xử lý cần thiết để tự cứu mình, cứu bạn khi lâm vào tình trạng hiểm nguy, chẳng hạn bị lạc đường, bị đe dọa cướp tiền và tài sản, bị xâm hại * Như vậy bằng nhiều hình thức khác nhau, bản thân tôi luôn cố gắng rèn cho học sinh những kĩ năng cơ bản có hiệu quả, thể hiện rõ nét ở sự tiến bộ của học sinh trong nhận thức, trong cư xử, đối xử tốt với bạn bè, người lớn và linh hoạt xử lí trong mọi trường hợp. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua học tập – sinh hoạt ở nhà trường là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em. Để đạt được điều đó, giáo viên cần kiên trì, quyết tâm thực hiện từng bước và liên tục trong suốt quá trình giảng dạy. Qua từng tiết dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng làm việc theo nhóm: biết cách phân công công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết chấp
  16. 16 nhận đúng sai, thống nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất Đây là kĩ năng hết sức cần thiết khi các em trưởng thành, làm việc trong tập thể. Trong sinh hoạt hằng ngày, giáo viên cần chú ý nâng dần kĩ năng giao tiếp - tự nhận thức cho các em như biết sử dụng đúng các quy tắc: chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu Biết cả thông cảm chia sẻ buồn vui với mọi người. Giáo dục kĩ năng sống cho mọi người nói chung và học sinh nói riêng là điều rất cần thiết. Nó trang bị đầy đủ những kĩ năng cho các em để các em có được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Đồng thời giúp những em có thói quen xấu và hành vi tiêu cực trở thành con ngoan, trò giỏi và là người có ích cho xã hội sau này. Bên cạnh việc thúc đẩy thành tích học tập của các con, nhiều phụ huynh giờ đây đã quan tâm nhiều hơn đến việc làm thế nào để dạy bảo và rèn luyện cho con cách giao tiếp nơi công cộng, lễ phép với người lớn, thể hiện lối sống văn minh Và nhiều hơn thế, họ còn chú trọng dạy con những kỹ năng và cách xử lý cần thiết để tự cứu mình, cứu bạn khi lâm vào tình trạng hiểm nguy, chẳng hạn bị lạc đường, bị đe dọa cướp tiền và tài sản, bị xâm hại Bằng những biện pháp cụ thể đã áp dụng như vừa nêu trên, sau một năm họcáp dụng, với sự nỗ lực không ngừng của giáo viên, học sinh và phụ huynh, tôi thấy KNS của các em đã có sự chuyển biến rõ rệt. Học sinh tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp , hầu hết các em đều rất hào hứng tham gia vào các tiết học, chăm chú lắng nghe cô giáo giảng bài và tích cực tham gia các hoạt động. Nhiều em biết vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào cuộc sống hằng ngày. Điều này có thể thấy rõ với bảng số liệu sau: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THỨ NỘI DUNG Tốt Cần cố gắng TSHS Đạt TỰ ĐIỀU TRA SL TL SL TL SL TL Kĩ năng giao tiếp 1 311 15 14 2 với thầy cô 1 Tống số học sinh tăng một em so với đầu năm học.
  17. 17 Kĩ năng giới thiệu 2 trước lớp về bản 31 20 10 1 thân và gia đình Kĩ năng hợp tác khi 3 31 18 12 1 làm việc nhóm III. KẾT LUẬN 1. Kết luận Đề tài này đã tập trung đi sâu vào những vấn đề sau: Bồi dưỡng nhận thức sâu sắc của mỗi giáo viên trong giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Việc giáo dục kĩ năng sống được thực hiện thông qua các môn học trên lớp, thông qua các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo, phối hợp với phụ huynh và được xây dựng trong môi trường hòa đồng thân thiện. Như vậy, việc giáo dục KNS được quan tâm mọi lúc mọi nơi, trong mọi hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh. Qua thời gian nghiên cứu, tôi thấy sáng kiến này có ý nghĩa rất lớn đối với bản thân và những giáo viên trực tiếp giảng dạy. Rèn luyện KNS cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của xã hội, các em không chỉ biết học giỏi về kiến thức mà còn phải được tôi luyện những KNS. Qua đó tạo cho các em một môi trường lành mạnh, an toàn, tích cực, vui vẻ. Việc giáo dục KNS ngay từ lớp nhỏ sẽ rút ngắn thời gian để trang bị cho các em vốn kiến thức, kĩ năng, giá trị sống để làm hành trang bước vào đời. Qua thực tế dạy học, tôi thấy lớp tôi chủ nhiệm có tiến bộ rõ rệt về kĩ năng giao tiếp, các em tự tin trao đổi ý kiến cá nhân, các em biết tự chăm sóc bản thân một cách đúng đắn, nhận biết những nơi nguy hiểm, những vật dụng, tình huống nguy hiểm và cách ứng phó, nhận diện những cảm xúc cơ bản, kiềm chế cảm xúc, biết quý giá trị của thời gian và sử dụng thời gian hợp lý. Các em được thực hành những thói quen tốt, biết cách sống ngăn nắp, gọn gàng, tiết kiệm, yêu thiên nhiên, nhận diện và hình thành năng lực ứng phó với các khó khăn gặp phải. Đề tài còn mang tính phát triển, kế thừa trong thời gian lâu dài: đề tài có thể áp dụng cho giáo dục KNS cho HS lớp 1 và HS Tiểu học toàn trường. 2. Các đề xuất và kiến nghị Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, bản thân thấy rõ được vai trò trách nhiệm của bản thân đối việc giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh. Để đề tài được mở
  18. 18 rộng và áp dụng tốt hơn trong thực tế, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất sau: 1. Đối với nhà trường: - Tạo nhiều cơ hội cho học sinh được trải nghiệm: như tổ chức cho học sinh dã ngoại, tham gia các trò chơi có tính thực tế cao. - Tổ chức nhiều cuộc thi cho học sinh: thi người dẫn chương trình tí hon, tìm kiếm tài năng hát nhạc, hội họa... khuyến khích số lượng học sinh tham gia càng đông càng tốt. 2. Đối với cấp trên: - Mở lớp tập huấn giáo dục kĩ năng sống cho giáo viên. - Cung cấp tài liệu hướng dẫn hỗ trợ việc giáo dục kĩ năng sống cho các em. Trên đây là một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, trao đổi kinh nghiệm của quý thầy cô, đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA Cam Lộ, ngày 27 tháng 11 năm 2019 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là Sáng kiến của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Nguyễn Thị Hiếu