SKKN Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong bài: Đặc điểm sông ngòi Việt Nam - Địa lí Lớp 8 - Nguyễn Thị Sinh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong bài: Đặc điểm sông ngòi Việt Nam - Địa lí Lớp 8 - Nguyễn Thị Sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_van_dung_day_hoc_theo_dinh_huong_phat_trien_nang_luc_ho.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong bài: Đặc điểm sông ngòi Việt Nam - Địa lí Lớp 8 - Nguyễn Thị Sinh
- ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG BÀI: “ĐẶC ĐIỂM SÔNG NGÒI VIỆT NAM” - ĐỊA LÍ LỚP 8 PHẦN I:PHẦN MỞ ĐẦU 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI A.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây đổi mới giáo dục đào tạo là một xu thế toàn cầu. Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử - viễn thông, tin học và công nghệ thông tin. Những thành tựu của sự phát triển này đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội trong từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu. Đó làthời đại của khoa học – công nghệ của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của kinh tế tri thức. Những chuyển biến hết sức mạnh mẽ này đòi hỏi giáo dục - đào tạo cũng phải đổi mới theo kịp sự phát triển đó. Hiện nay"Cách mạng công nghiệp 4.0" đang diễn ra tại nhiều nước phát triển. Nó mang đến cho nhân loại cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh tế, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường. Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, trong những thập niên gần đây thế giới cũng diễn ra những biến động vô cùng mạnh mẽ. Từ những biến đổi về khí hậu, những thay đổi theo chiều hướng ngày càng đáng báo động của tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, thiên tai lũ lụt hàng năm đến những biến động chính trị, quân sự khôn lường đã đặt ra yêu cầu phải trang bị cho các thế hệ tương lai năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thời cuộc và trách nhiệm của những công dân toàn cầu. Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn địa lý nói riêng theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinhtrở thành một mục tiêu tối ưu trong dạy học hiện nay. Dạy học theo quan điểm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ, mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Nhưng để vận dụng nó một cách linh hoạt, hiệu quả trong từng tiết học, bài học là cả một vấn đề lớn. Địa lí là môn học có từ lâu đời và có phạm trù rộng lớn nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản phổ thông cần thiết về tự nhiên, dân cư, kinh tế, sự phân hoá của lãnh thổ nước ta cũng như các nước khác hoặc các khu vực trên bề mặt trái đất. Ngoài việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng; môn địa lý còn giáo dục 1
- tư tưởng, thái độ và đặc biệt là kĩ năng sống, hình thành và phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt môn địa lí cho học sinh. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chương trình Địa lí lớp 8, tôi thấy tính ưu việt của việc vận dụng dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Ngoài việc trang bị cho học sinh về kiến thức, kĩ năng, thái độ còn hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực của người học. Từ đó, giúp học sinh linh hoạt hơn trước những tình huống của cuộc sống, biết gắn kết lí thuyết với thực hành, thực tiễn. Ngoài ra còn khơi dậy ở các em niềm say mê, hứng thú hơn trong học tập. Tiếp nối vấn đề đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong bài: “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” –Địa lí lớp 8. B. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Dạy học hướng tới mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đã trở thành nội dung giáo dục và được các giáo viên thực hiện trong những năm qua. Tuy nhiên, quá trình tổ chức dạy học để phát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tương trợ lẫn nhau trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thể trong mỗi giáo viên. Nhưng trên thực tế chưa có một tài liệu chính thống nào của Bộ giáo dục gửi về cho các trường hướng dẫn cách thực hiện cụ thể. Mặt khác, các sách tham khảo như sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy, tài liệu, tạp chí nói về việc vận dụng dạy học hướng tới mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh rất ít. Ngoài ra, sách giáo khoa cũng chưa được chú trọng xây dựng trên quan điểm đó. Trong quá trình dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học một cách linh hoạt và đem lại hiệu quả cao chưa phải là nhiều. Trong khi đó, các em học sinh nghĩ rằng Địa lí là môn học phụ nên thường không được chăm chú, đầu tư cho môn học này. Vậy làm thế nào tiết học môn Địa lí trở thành tiết học, môn học yêu thích hình thành kiến thức, kĩ năng, năng lực, tạo hứng thú, niềm say mê khám phá về thiên nhiên, đất nước, con người trở thành một nỗi trăn trở đối với những người giáo viên dạy Địa lí như tôi. Trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ trình bày một tiết dạy trên lớp bài: “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Dạy bài “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” theo cách dạy truyền thống giáo viên thường cung cấp kiến thức về đặc điểm, lợi ích kinh tế sông ngòi Việt Nam, biện pháp bảo vệ sự trong sạch của dòng sông, hậu quả của lũ lụt, cách phòng chống. Những kiến thức trên giáo viên chỉ trang bị cho học sinh còn mang nặng tính 2
- lí thuyết, thiếu tính thực tiễn. Phương pháp, mục tiêu đó không đáp ứng với yêu cầu thực tiễn trong xã hội ngày nay. Dạy học hiện nay cần phải hướng đến mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Trong quá trình dạy, giáo viên phải thường xuyên tạo ra các tình huống để học sinh giải quyết các tình huống từ nhiều cấp độ khác nhau; từ đơn giản đến phức tạp để hình thành cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề trong cuộc sống sau này của các em. Vì vậy, khi dạy bài:“ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” giáo viên ngoài cung cấp kiến thức còn phải hướng đến phát triển năng lực và kĩ năng sống về vấn đề phòng tránh đuối nước cho học sinh. Điều đó xuất phát từ những lí do khách quan và chủ quan sau: Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp cả nước. Điều đó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đuối nước cho trẻ vào mùa hè và mùa mưa lũ. Theo báo cáo của Bộ Lao động thương binh và xã hội, tỉ lệ trẻ em tử vong do đuối nước cao gấp 10 lần các nước phát triển. Theo thống kê, trung bình Việt Nam có trên 11.500 trẻ em bị chết đuối mỗi năm, cao thứ 2 trên thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Gần 70% số trẻ bị chết, suýt chết do đuối nước đều ở độ tuổi dưới 15 và phổ biến nhất vẫn là độ tuổi từ 5 đến 9 tuổi. Hà Tĩnh là địa phương có nhiều ao, hồ, sông ngòi, mùa mưa bão, nước dâng cao, chảy xiết, làm thay đổi dòng chảy nên khi qua lại các khu vực này rất dễ bị tai nạn. Tai nạn đuối nước không chỉ xảy ra ở trẻ em mà cả người lớn, nhất là mùa mưa lũ. Chính vì thế trong khi dạy bài:“ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam”, giáo viên cần dạy hướng đến mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực và kĩ năng sống về vấn đề phòng tránh đuối nước cho học sinh. Nếu như cách dạy truyền thống giáo viên cho học sinh nhận biết tác hại của lũ lụt, của đuối nước nhưng chưa chú trọng phát triển các năng lực cho học sinh như kĩ năng phòng tránh đuối nước, khả năng dự báo, cách phối hợp, hợp tác với bạn ,với người thân, với tập thể trong giải quyết vấn đề . Còn dạy học hướng tới mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh thì những kĩ năng trên được hình thành và phát triển trong quá trình dạy học. Qua thực tế của địa phương như vậy, nhưng trong quá trình dự giờ đồng nghiệp, tài liệu (sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy) giảng dạy bài:“ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” tôi thấy chưa chú trọng việc hình thành kĩ năng sống phòng tránh đuối nước và các năng lực chung, năng lực chuyên biệt của môn học cho học sinh. Với bài: “ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” tôi đã xây dựng hệ thống câu hỏi với nhiều mức độ nhận thức: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao. Phối hợp các phương pháp dạy học; tích hợp kiến thức trong cùng bộ môn và liên môn; chuẩn bị các thiết bị dạy học (bản đồ, tranh ảnh...), các phương tiện dạy học (máy chiếu, 3
- đầu video, máy tính, máy projector...) ; tài liệu dạy học cần thiết và tôi hướng đến hình thành những năng lực như sau: - Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực hợp tác và giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự chủ bản thân, năng lực sáng tạo. - Năng lực chuyên biệt môn Địa lí: Năng lực tư duy theolãnh thổ; năng lực sử dụng bản đồ; năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video clip, mô hình; năng lực sử dụng bảng biểu. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU A. ĐỐI TƯỢNG: Dạy bài:“ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” môn địa lí lớp 8 theo định hướng phát triển năng lực học sinh - Học sinh lớp 8. B. PHẠM VI NGHIÊN CỨU +Các năng lực cần được hình thành và phát triển cho học sinh khi dạy bài:“Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” môn địa lí lớp 8. + Các phương pháp, hình thức dạy học để đạt được những năng lực cho học sinhkhi dạybài “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” môn địa lí lớp 8. 3. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI A.MỤC TIÊU - Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài:“Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” môn địa lí 8. - Kiến thức về đặc điểm, giá trị kinh tế của sông ngòi Việt Nam. - Kĩ năng phòng tránh đuối nước - Giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ nguồn nước ngọt và các sông, hồ của quê hương, đất nước. B.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu các năng lực cần được hình thành và phát triển cho học sinh khi dạy bài đặc điểm sông ngòi Việt Nam môn địa lí 8. - Nghiên cứu các phương pháp, hình thức dạy học để đạt được những năng lực cho học sinh mà mục tiêu đã nêu ra khi dạy bài:“ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” môn địa lí 8. - Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của học sinh. - Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh: Đề phòng đuối nước. - Tích hợp kiến thức trong cùng bộ môn và liên môn như: âm nhạc, lịch sử, giáo dục công dân - Khảo sát, tìm hiểu thực tế. 4
- 4. GIẢ THIẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Nếu đề tài này được nghiên cứu kĩ lưỡng, khoa học nó sẽ cung cấp cho học sinh cũng như đồng nghiệp một phương pháp mới trong việc dạy bài: “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” môn địa lí 8 để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau : 5.1. Phương pháp quan sát, tìm tòi nghiên cứu tài liệu tham khảo - Tôi đã tiến hành dự giờ đồng nghiệp để đúc rút kinh nghiệm cho bài dạy của mình 5.2. Phương pháp thảo luận : - Sau khi dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp, tổ đã thảo luận đóng góp ý kiến đúc rút kinh nghiệm cho giờ dạy . - Thông qua các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn (Các tiết chuyên đề,). 5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm : - Bản thân tôi đã tiến hành dạy thực tế ở lớp 8A, 8B. 5.4 . Phương pháp điều tra giáo dục : Sau khi dạy xong mỗi tiết học tôi đã tiến hành kiểm tra, đánh giá để biết được kết quả tiếp thu bài của học sinh như thế nào. 5.5. Phương pháp vận dụng kiến thức liên môn. 5.6. Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp 5.7. Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan, sử dụng công nghệ thông tin. 6. DỰ BÁO NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Đề tài góp một hướng đi mới góp phần vào việc dạy bài :“ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” môn địa lý lớp 8 với mục tiêu phát triển năng lực theo yêu cầu của Bộ, ngành Giáo dục được tốt hơn. Học sinh có hứng thú hơn, tích cực hơn, sáng tạo hơn trong hoạt động học tập chiếm lĩnh tri thức. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động dạy học đạt được hiệu quả cao góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục. - Sử dụng công nghệ thông tin trong bài dạy . - Thiết kế giáo án điện tử . - Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường . - Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh: Đề phòng đuối nước - Hình thành và phát triển năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực hợp tác và giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự chủ bản thân, năng lực sáng tạo. 5
- - Hình thành và phát triển năng lực chuyên biệt môn Địa lí: Năng lực tư duy theo lãnh thổ, năng lực sử dụng bản đồ; năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video, clip, mô hình; năng lực sử dụng bảng biểu bản đồ. - Tích hợp kiến thức cùng môn và liên môn. - Đổi mới phương pháp dạy học: Đổi mới từ khâu soạn bài, lên lớp của giáo viên và cách học của học sinh, kiểm tra , đánh giá theo năng lực . - Đồng thời còn rèn giũa, hình thành ở các em ý thức, trách nhiệm của bản thân để hiểu và giải quyết đối với những vấn đề xung quanh.. II.PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.CƠ SỞ KHOA HỌC A.CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Môn địa lí cũng giống như các môn học khác nói chung với chức năng giáo dục của mình đã góp phần hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội và rèn luyện các kĩ năng cho học sinh. Dạy học hướng tới mục tiêu phát triển năng lực học sinh đã trở thành xu hướng chung của Giáo dục Việt Nam hiện nay và nó cũng là xu hướng chung của Giáo dục thế giới. Vậy ta cần hiểu dạy học theo định hướng phẩm chất, năng lực là gì? Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên( Nhà xuất bản Đà Nẵng 1998) có giải thích: Năng lực là:“ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì “ Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ nãng với thái ðộ, tình cảm, giá trị, ðộng cõ cá nhân, nhằm ðáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt ðộng trong bối cảnh nhất ðịnh. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố ( phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các nãng lực chung, cốt lõi” . Định hướng chương trình giáo dục phổ thông(GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực, những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có thuộc 3 nhóm năng lực chung sau: 6
- – Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực quản lí bản thân. – Nhóm năng lực xã hội, bao gồm: Năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác. – Nhóm năng lực công cụ, bao gồm: Năng lực tính toán; năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin(ITC). Ngoài những năng lực chung còn có năng lực chuyên biệt môn địa lí như sau: - Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ - Năng lực học tập tại thực địa - Năng lực sử dụng bản đồ - Năng lực sử dụng số liệu thống kê - Năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video clip, mô hình Như vậy, thì việc dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh thực chất không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ đối với giáo viên. Chúng ta đã làm và thường xuyên làm. Nhưng những điều chúng ta đã làm, thường xuyên làm có giúp 100% học sinh đạt được chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục trung học cơ sở? Cần phải tiếp tục đổi mới như thế nào để dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh thật sự nâng cao hơn nữa về chất lượng và hiệu quả? Chính vì thế, ở đề tài này tôi đã xây dựng bài dạy theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài:‘‘ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam’’ –Địa lí 8. B. CƠ SỞ THỰC TIỄN Là một giáo viên dạy môn Địa lí trung học cơ sở, tôi nhận thấy học sinh còn xem nhẹ môn địa lí, coi địa lí là môn phụ nên thiếu chú ý, thiếu niềm say mê học tập. Bên cạnh đó một số trường còn thiếu giáo viên chuyên môn, thiếu thiết bị dạy học và các phương tiễn hỗ trợ nên kết quả môn học chưa cao. Qua dự giờ đồng nghiệp, được đi học tập các chuyên đề do phòng tổ chức và thông qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: Dạy học hướng tới mục tiêu phát triển năng lực học sinh phát huy được những năng lực chung và năng lực chuyên biệt của bộ môn đồng thời rèn cho học sinh khả năng thích ứng với thực tế cuộc sống. Đó chính là những kĩ năng sống cần có cho các em. Do đó, dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong giảng dạy môn Địa lí nói riêng và các môn học khác nói chung không còn là vấn đề đơn thuần nữa mà nó trở thành nhiệm vụ của mỗi giáo viên . Xuất phát từ thực tiễn nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn Địa lí 8, bước đầu tôi cảm nhận được: Muốn học sinh hứng thú với môn học, muốn có hiệu quả trong giảng dạy môn địa lí không thể không đổi mới phương pháp. Kiến thức ngày càng 7
- đa dạng, có xu hướng xích gần. Đặc biệt là các môn khoa học xã hội có sự gắn kết chặt chẽ. Do đó, làm thế nào để học sinh không nhàm chán, làm thế nào để các em biết vận dụng kiến thức đã học, hiểu biết có sẵn để giải quyết tốt một vấn đề đang là câu chuyện đáng bàn ở mỗi trường học. Sau khi dự giờ đồng nghiệp khi dạy bài:“ Đặc điểm sông ngòi ViệtNam”, tôi thấy giáo viên chỉ lo trang bị kiến thức cho các em nắm được đặc điểm tự nhiên sông ngòi Việt Nam, hiểu về giá trị kinh tế của sông ngòi bằng phương pháp vấn đáp là chủ yếu; hệ thống câu hỏi cũng chưa có sự phân hóa, chưa đặt ra được các tình huống giả định và hướng tới mục tiêu phát triển năng lực, kĩ năng sống cho học sinh. Với bài này, ngoài cung cấp những đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam, hiểu về giá trị kinh tế của sông ngòi và bảo vệ sự trong sạch của các dòng sông thì người giáo viên cần hình thành kĩ năng sống đề phòng đuối nưới để các em có khả năng ứng phó nhanh trước tình huống xảy ra trong cuộc sống. Củng cố, xây dựng ý thức bảo vệ vẻ đẹp cảnh quan và môi trường sông ngòi quê hương, hướng tới phát triển năng lực chung, năng lực chuyên biệt môn Địa lí. Đồng thời, khơi dậy trong các em niềm đam mê khám phá, phát huy tính sáng tạo ở học sinh, tạo hứng thú về môn học. Chính vì thế, chất lượng bộ môn ngày càng nâng cao, các năng lực được hình thành và phát triển; các kỹ năng sống của các em ngày càng tốt hơn. Từ thực tế đó, với đề tài này, tôi xin trình bày đề tài: Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài “ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” Địa lí lớp 8 bằng máy chiếu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, thiết kế giáo án điện tử trong tiết dạy sẽ cung cấp được nhiều kiến thức qua kênh hình, bài dạy sẽ sinh động hơn, phong phú hơn, học sinh có hứng thú hơn bởi hệ thống hình ảnh, video, âm thanh và các kênh hình khác. Khi dạy bằng giáo án điện tử thì giáo viên không phải mất thời gian viết nội dung, chi tiết của bài học lên bảng mà có thêm thời gian để hướng dẫn học sinh học tập. Từ đó, giúp các em hình thành và phát triển các năng lực cần thiết theo mục tiêu của bài. 2. THỰC TRẠNG A. THỰC TRẠNG DẠY ĐỊA LÍ *Thuận lợi: Đa số giáo viên nắm được phương pháp dạy học đặc trưng đối với môn Địa lý. Trong quá trình dạy đã biết lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung, kết hợp tốt các phương pháp trong các hoạt động dạy học. Đội ngũ giáo viên luôn có tinh thần trách nhiệm cao, tích cực thực hiện việc dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. 8
- Giáo viên nhà trường được tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh do Phòng giáodục tổ chức. Hiện nay với sự hỗ trợ của hệ thống thông tin đại chúng, nhất là internet giúp cho giáo viên và học sinh dễ dàng tìm kiếm hình ảnh, tra cứu các đơn vị kiến thức liên quan đến bài dạy, bài học của mình. Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến công tác đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, tạo điều kiện để tổ bộ môn thao giảng cho từng chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng dạy học. * Khó khăn: Cơ sở vật chất nhà trường được xây dựng từ lâu nên hiện nay đã xuống cấp; thiết bị dạy học hằng năm đã được đầu tư, bổ sung nhưng còn thiếu (bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, đồ dùng trực quan và các phương tiện dạy học), không đồng bộ; thiếu phòng học bộ môn Tất cả những điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh của đơn vị. Năng lực của đội ngũ giáo viên về vận dụng các phương pháp dạy học, sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong dạy học còn hạn chế. B.THỰC TRẠNG HỌC ĐỊA LÍ CỦA HỌC SINH *Thuận lợi : Nhiều học sinh đã có đổi mới trong việc nhìn nhận về bộ môn Địa lý nên đã có đầu tư thời gian và tài liệu (Sách giáo khoa, vở bài tập, tập bản đồ, câu hỏi trắc nghiệm ) không còn cho rằng môn Địa lý là môn học phụ chỉ cần học thuộc là được. Nhiều em có ý thức tìm tòi tài liệu tham khảo, đưa ra những ý kiến thắc mắc khi chưa hiểu, chăm lo việc học bài và làm bài ở nhà. Một số em tự nguyện xung phong tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi huyện. Điều đó, đã động viên tinh thần cho những giáo viên dạy môn Địa lý rất nhiều. *Khó khăn: - Một số học sinh chưa có sự đam mê trong học tập và còn có tư tưởng coi thường môn Địa lý. - Một số khác lười làm bài tập, kỹ năng đọc bản đồ, lược đồ, phân tích bảng biểu đặc biệt là kỹ năng vẽ và phân tích biểu đồ còn yếu. - Một số học sinh khi hoạt động nhóm và khi xây dựng bài không chịu khó suy nghĩ, thiếu chủ động còn phụ thuộc vào sách giáo khoa, ỷ lại vào nhóm trưởng. Vì vậy chất lượng học tập còn thấp. 9
- - Học sinh trường chúng tôi đa phần là con em nông dân, gia đình có đông con nên điều kiện kinh tế còn gặp nhiêu khó khăn. Vì thế, việc đầu tư học tập cho con em còn nhiều hạn chế. 3.NHỮNG SỐ LIỆU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT THỰC TẾ, THỰC TRẠNG TẠI ĐƠN VỊ Trong năm học vừa qua, sau khi dự giờ đồng nghiệp tôi đã làm một số câu hỏi khảo sát học sinh lớp 8A và 8B ở đơn vị tôi trực tiếp giảng dạy như sau: Em hãy khoanh tròn đáp án đúng nhất vào các câu trả lời sau: Câu 1: Nguyên nhân nào sau đây không phải tạo nên đặc điểm sông ngòi nước ta là: A. Do lãnh thổ hẹp ngang, địa hình có nhiều đồi núi ( ¾); Đồi núi ăn ra sát biển nên sông ngòi nước ta phần lớn là các sông nhỏ, ngắn và dốc. B. Do địa hình nước ta có hai hướng chính: Tây bắc – đông nam và hướng vòng cung nên sông ngòi nước ta chảy theo 2 hướng chính là hướng tây bắc – đông nam và hướng vòng cung C. Do nước ta có lượng mưa lớn nên sông ngòi nước ta có 2 mùa nước: Mùa lũ và mùa cạn. D. Do lượng mưa lớn tập trung theo mùa địa hình dốc, nhiều đồi núi nên sông ngòi nước ta có lượng phù sa lớn. Câu 2 : Chế độ nước sông ngòi nước ta thay đổi thế nào? A. Thay đổi theo mùa. B. Thay đổi theo địa hình. C. Thay đổi theo cấu trúc sông. Câu 3: Chúng ta cần phải làm gì để không bị đuối nước A. Học bơi tại các cơ sở dạy bơi, khi đi có người lớn đi cùng. B. Không đùa nghịch tại các ao, hồ, sông suối, vùng dòng nước xoáy, sâu khi không có người lớn. C. Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy định của nhà trường về phòng chống đuối nước. D. Tất cả ý trên Sau thời gian quy định, học sinh làm xong, tôi thu phiếu, đưa ra đáp án và kết quả thu được như sau: - Đáp án: Đúng Câu 1. C. Câu 2. A 10
- Câu 3. D - Kết quả thu được: Tỉ lệ Sĩ Lớp số Giỏi Khá TB Yếu Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng % 8A 31 5 16 9 29 13 42 4 13 8B 33 3 9 7 21 18 55 5 15 4. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN Trong ba câu hỏi trên tôi chú ý việc học sinh có biết vận dụng để phân tích được nguyên nhân dẫn đến những đặc điểm của sông ngòi Việt Nam. Ở câu hỏi 1 và 2 tôi đưa ra câu hỏi dựa trên mối quan hệ nhân quả để kiểm tra khả năng nhận diện năng lực tư duy lãnh thổ của các em. Còn câu hỏi 3 tôi hướng đến trang bị kĩ năng phòng tránh đuối nước cho học sinh. Nhưng kết quả thu được các em làm sai còn nhiều, kết quả đạt điểm khá trở lên tỉ lệ còn thấp. Từ thực tế đó, tôi rút ra những nhận xét chủ quan sau: Thứ nhất: Học sinh chưa tập trung, chưa nắm được bản chất, quy luật của vấn đề. Điều đó cho thấy học sinh học tập còn thụ động. Có thể do giáo viên chưa tạo được hứng thú, bài dạy còn đơn điệu thiếu linh hoạt chưa biết phối hợp tốt các phương pháp dạy học để phát huy vai trò của người học. Thứ hai do giáo viên chưa chú trọng tích hợp trong cùng môn và liên môn để học sinh có thể phân tích được mối quan hệ nhân quả trong môn địa lí. Đồng thời tạo cho bài dạy sinh động hơn. Thứ ba: giáo viên chưa quan tâm tới mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh để các em có thể thích ứng với hoàn cảnh và khả năng ứng dụng thực tiễn. Nếu như trong quá trình dạy giáo viên trang bị các kĩ năng phòng tránh đuối nước đó chính là phát triển năng lực tự quản bản thân cho các em. Từ những kết quả thu về như trên, từ việc rút kinh nghiệm dự giờ đồng nghiệp, tôi đã rút ra được cho mình các giải pháp khi dạy bài: “ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” - Địa lí lớp 8như sau: 5. GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP A. MỤC TIÊU CỦA GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP - Đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh. 11
- - Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học, đồng thời chú trọng phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn. - Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý trong dạy học. - Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. - Thiết kế giáo án điện tử. - Xác định các năng lực cần hình thành trong bài dạy - Tích hợp kiến thức liên môn: Lịch sử, giáo dục công dân, âm nhạc. B.NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP Trong quá trình soạn bài, nghiên cứu bài, giáo viên phải xác định được đúng mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, các năng lực chung và năng lực đặc thù cần được hình thành trong bài dạy. Đồng thời, chuẩn bị các phương tiện, đồ dùng dạy học cần thiết. Để hình thành các năng lực người học, giáo viên cần phải biết phối hợp các phương pháp dạy học và các hình thức dạy học một cách linh hoạt, đúng trọng tâm. Trong phạm vi một tiết dạy, tôi xin trình bày các biện pháp để hình thành năng lực chung, năng lực chuyên biệt trong bài dạy: “ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” như sau: Các năng lực Bài: “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam” Năng lực tự học - Học bài cũ, nghiên cứu bài mới ở nhà. - Làm bài tập, ghi chép bài đầy đủ. - Tìm kiếm kiến thức bài học qua kênh hình, kênh chữ, qua mạng internet Năng lực giao tiếp và hợp - Trình bày các đặc điểm chung của sông ngòi Việt tác qua phương pháp thảo Nam luận nhóm - Giá trị kinh tế của sông ngòi Năng lực giải quyết vấn đề - Phân tích được mối quan hệ nhân- quả: Đặc điểm tự qua phương pháp phân tích, nhiên ( địa hình, khí hậu) tác động đến đặc điểm sông tổng hợp. ngòi Việt Nam - Tích hợp môn lịch sử: Học sinh biết và hiểu thêm về giá trị của các dòng sông gắn liền với những chiến công vang dội trong lịch sử đấu tranh của dân tộc ta. - Tích hợp môn Âm nhạc: Sử dụng bài hát khúc hát sông quê 12
- - Tích hợp môn Giáo dục công dân: Bảo vệ môi trường Năng lực tự chủ bản thân, - Bản thân các em sẽ hiểu và có hành động thiết thực sáng tạo nhằm giáo dục kĩ để bảo vệ sự trong sạch cho dòng sông quê hương. năng sống cho học sinh - Bước đầu trang bị kiến thức các kĩ năng để phòng trátránh đuối nước. Năng lực tư duy theo lãnh - Học sinh xác định được hệ quả của mối quan hệ thổ(Năng lực đặc trưng tương hỗ giữa các thành phần: Vị trí địa lí, hình dạng, nhất của môn Địa lí). kích thước, địa hình, khí hậu đến việc hình thành đặc điểm sông ngòi Việt Nam. Năng lực sử dụng bản đồ - Trên hình 33.1 học sinh chỉ bản đồ xác định: + Các con sông lớn ở nước ta. + Các hồ nước: Hòa Bình, Trị An, Y-a-ly, Thác Bà, Dầu Tiếng Năng lực sử dụng ảnh, hình - Giáo viên cung cấp ảnh liên quan đến nội dung bài vẽ, video clip, mô hình học. - Clíp VTC14 tặng huy hiệu dũng cảm cho học sinh cứu 5 em nhỏ chết đuối . - Clíp bài hát “ Khúc hát sông quê ’’do ca sĩ Tân Nhàn thể hiện. Năng lực sử dụng bảng -Từ bảng 33.1.Mùa lũ trên các lưu vực sông, học sinh biểu nhận biết và giải thích được tại sao mùa lũ trên các lưu vực sông không trùng nhau ở các sông Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. C. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP Việc thiết kế giáo án là vô cùng quan trọng; đây là định hướng cơ bản cho những hoạt động diễn ra ở trên lớp, giáo án càng được chuẩn bị kỹ lưỡng thì mức độ thành công càng cao.Trong giáo án, giáo viên phải xác định được đúng mục tiêu về nội dung, kĩ năng, thái độ, năng lực cần được hình thành trong bài. Đồng thời, giáo viên cần chủ động đầu tư nghiên cứu sách giáo khoa, các sách tham khảo, các môn học có kiến thức liên quan với kiến thức của bài học, nhằm thực hiện mục tiêu tích hợp. Bên cạnh đó, giáo viên phải có sự hiểu biết nhất định về công nghệ thông tin. Giữa vô vàn hình ảnh, thông tin trên mạng, giáo viên phải lựa chọn những tư liệu đúng, có nguồn gốc đáng tin cậy để tránh sai sót về kiến thức. 13
- Để hình thành năng lực hợp tác học sinh cần phải có ý thức tự học, chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên. Trong quá trình triển khai các hoạt động, giáo viên phải căn thời gian hợp lí với tiến trình và nội dung bài dạy. Học sinh cần chủ động, tích cực, hợp tác thì tiết học mới thành công. Để tiến hành dạy học trên lớp bằng giáo án điện tử thì cần phải có đầy đủ phương tiện thiết bị hiện đại như máy vi tính, máy chiếu, màn chiếu, hệ thống loa, mạng internet Việc tổ chức dạy học trên lớp phải hết sức linh hoạt, thực hiện theo tiến trình trong giáo án nhưng không cứng nhắc, tùy vào tình hình thực tế để điều chỉnh sao cho phù hợp. Sau đây, tôi xin trình bày một bài dạy cụ thể vận dụng theo định hướng phát triển năng lực của học sinh qua bài:“ Đặc điểm sông ngòi Việt Nam’’ – Địa lí 8. 6. THỰC HIỆN KHẢO NGHIỆM QUA TIẾT DẠY TRÊN LỚP Tiết 39 Bài 33: ĐẶC ĐIỂM SÔNG NGÒI VIỆT NAM I.MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1.Kiến thức : - Trình bày được bốn đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam - Mối quan hệ giữa sông ngòi và nhân tố tự nhiên - Giá trị tổng hợp và to lớn của sông ngòi và việc khai thác nguồn lợi do sông ngòi mang lại -Biết được thực trạng sông ngòi nước ta đang bị ô nhiễm và nguyên nhân của nó. Đồng thời tìm ra giải pháp. 2. Kĩ năng: - Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa sông ngòi nước ta với các nhân tố tự nhiên và hoạt động kinh tế của con người. - Kỹ năng sống: Tự nhận thức, tư duy, giải quyết vấn đề, đề phòng đuối nước 3. Thái độ: - Tích cực tham gia các nhiệm vụ học tập trên lớp, khẳng định giá trị bản thân thông qua các hoạt động học tập. - Giáo dục môi trường: Có ý thức giữ gìn, bảo vệ nguồn nước ngọt và các sông, hồ của quê hương, đất nước. + Không đổ chất thải vào các sông, hồ. 4. Định hướng phát triển năng lực: - Năng lực chung : Tự học, giải quyết vấn đề, tư duy, tự quản lý, giao tiếp, hợp tác. 14
- - Năng lực chuyên biệt : Sử dụng lược đồ và các hình vẽ trong sách giáo khoa .5. Định hướng phát triển phẩm chất: - Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên 6.Tích hợp * Tích hợp trong cùng môn: Bài vị trí, giới hạn, hình dạng lãnh thổ Việt Nam; đặc điểm địa hình; đặc điểm khí hậu Việt Nam. *Tích hợp liên môn: - Tích hợp với môn lịch sử: Giáo viên đưa ra những bằng chứng lịch sử đối với những con sông gắn với lịch sử đấu tanh bảo vệ Tổ Quốc của nhân dân ta. -Tích hợp với môn Âm nhạc: Cảm nhận nội dung đoạn nhạc hát về dòng sông trong bài hát :Dòng sông quê hương -Tích hợp với môn Giáo dục công dân: Giáo dục cho học sinh có ý thức bảo vệ môi trường. II. PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT, HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC * Phương pháp dạy học: -Phương pháp dạy học truyền thống: Vấn đáp, đàm thoại gợi mở, thuyết trình -Phương pháp dạy học tích cực: Nêu vấn đề, thảo luận nhóm, dạy học tích hợp. * Kĩ thuật dạy học: Đặt câu hỏi, chia nhóm, khăn trải bàn. * Hình thức tổ chức dạy học: Cá nhân, cặp đôi, nhóm, lớp. * Phương tiện thiết bị dạy học : - Giáo viên: Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức – kĩ năng, tìm hiểu các công cụ, tài liệu hỗ trợ khác + Máy chiếu, bản đồ và các hình vẽ trong sách giáo khoa, phiếu học tập, bút dạ, giấy A0. - Học sinh: Chuẩn bị bài theo hướng dẫn của giáo viên. III .THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 1. Giáo viên kiểm tra sĩ số lớp.(1phút) - Giáo viên ghi lên góc bảng: Sĩ số, số học sinh vắng, có phép, không phép. - Giáo viên ghi tên học sinh vắng (nếu có) vào sổ theo dõi để kiểm tra việc ghi chép, học bài ở nhà của học sinh vắng học. Hoạt động 1(3 phút): Kiểm tra bài cũ (Năng lực tự học) 15
- - Giáo viên gọi học sinh mang vở ghi, vở bài tập lên bảng (Giáo viên kiểm tra) và trả lời câu hỏi sau: Câu hỏi: Nước ta có mấy mùa khí hậu? Đặc trưng khí hậu từng mùa ở nước ta? Trả lời: Khí hậu nước ta có hai mùa rõ rệt: - Mùa gió Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4) tạo nên mùa đông lạnh mưa phùn ở miền bắc và mùa khô nóng kéo dài ở miền Nam. - Mùa gió Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 10) tạo nên mùa hạ nóng ẩm có mưa to, gió lớn và dông bão diễn ra phổ biến trên cả nước. - Giáo viên gọi học sinh khác nhận xét, giáo viên tổng kết cho điểm công khai trước lớp. Hoạt động2: Bài mới (41 phút). - Giáo viên giới thiệu bài học (1 phút).: Sông ngòi kênh rạch, ao, hồ là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Dòng sông êm ả, hiền hòa đã gắn liền với những kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo, dạt dào bao tâm hồn của những con người được sinh ra và lớn lên ở miền quê. Trong kí ức của mỗi người chúng ta thì dòng sông đã để lại những kỉ niệm gì? Đặc điểm ra sao? Có vai trò gì trong đời sống? Vậy hôm nay cô trò chúng ta cùng tìm hiểu về những đặc điểm và giá trị kinh tế của sông ngòi Giáo viên ghi mục bài lên bảng: Địa lí: Tiết 39 Bài 33: ĐẶC ĐIỂM SÔNG NGÒI VIỆT NAM Hoạt động của Giáo viên và học sinh Nội dung Hoạt động 3: Đặc điểm chung ( 17 phút) - Giáo viên chiếu hình 33.1 lược đồ các hệ thống sông 1.Đặc điểm chung: lớn ở Việt Nam yêu cầu học sinh quan sát và lên bảng chỉ các con sông lớn của nước ta. Qua đây rèn luyện cho học sinh kĩ năng chỉ bản đồ 16
- Câu hỏi( nhận biết): Nhận xét mạng lưới sông ngòi và sự phân bố mạng lưới sông ngòi ở nước ta? -Học sinh trả lời và câu trả lời cũng chính là đặc điểm thứ nhất của bài. Giáo viên ghi bảng: a. Nước ta có một mạng Câu hỏi: Quan sát sách giáo khoa, em hãy cho biết số lưới sông ngòi dày đặc, lượng và độ lớn của sông ngòi nước ta? phân bố rộng khắp trên cả - Học sinh trả lời. nước: - Giáo viên chốt kiến thức và ghi bảng. - Có 2360 con sông dài trên Thảo luận(4 phút): Vì sao sông ngòi ở Việt Nam 10 km. phần lớn là các sông nhỏ, ngắn và dốc? - Sông ngòi nước ta phần *Mục tiêu: sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn, vận dụng lớn là các sông nhỏ, ngắn năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề. và dốc. - Bước 1: Hoạt động theo nhóm - Bước 2: Đại diện nhóm trả lời - Bước 3: Nhóm khác nhận xét - Bước 4: Giáo viên chuẩn xác - Nước ta có một mạng lưới sông ngòi dày đặc, phần lớn các sông nhỏ, ngắn, dốc. Bởi vì: + Lượng mưa lớn, ¾ diện tích là đồi núi Nhiều sông + Lãnh thổ hẹp ngang, núi ăn lan ra sát biển Sông ngắn nhỏ và dốc. Câu hỏi liên hệ: Ở địa phương em có con sông nào chảy qua? Em biết gì về con sông này? 17
- Câu hỏi ( nhận biết) :Quan sát hình 33.1 hãy nhận xét về hướng chảy sông ngòi? Sắp xếp các sông lớn theo 2 hướng kể trên?( Năng lực sử dụng bản đồ) - Học sinh trả lời b. Sông ngòi nước ta chảy Câu hỏi ( vận dụng) :Tại sao sông ngòi nước ta lại theo 2 hướng chính là chảy theo hai hướng chính đó?(Tích hợp bài địa hình hướng TB – ĐN và hướng Việt Nam) vòng cung. - Vì địa hình nước ta có hai hướng chính:TB – ĐN và - Hướng TB – ĐN: Sông hướng vòng cung. Đà, sông Hồng, sông Mã, Giáo viên cho học sinh quan sát hình trên máy chiếu sông Cả, sông Tiền, Sông Hậu. - Hướng vòng cung: Sông Lô, sông Gâm, sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam. Câu hỏi thông hiểu): Nêu chế độ nước của sông ngòi Việt Nam? Vì sao sông ngòi có đặc điểm như vậy? - Mùa cạn: Mực nước thấp và nước sông chảy chậm - Mùa lũ: nước sông lên cao và chảy mạnh. Chiếm 70 c. Sông ngòi nước ta có 2 – 80% lượng nước cả năm mùa nước: mùa lũ và mùa Vì khí hậu nước ta có hai mùa: mùa mưa và mùa khô cạn. nên sông ngòi có hai mùa nước - Mùa lũ chiếm tới 70 – Câu hỏi vận dụng: Dựa vào bảng 33.1 và cho biết 80% lượng nước cả năm mùa lũ trên các lưu vực sông có trùng với nhau không nên dễ gây ra lũ lụt và giải thích tại sao có sự khác biệt đó ?(Năng lực sử - Mựa lũ trên các sông dụng bảng biểu, năng lực giải quyết vấn đề) 18
- không trùng nhau là do chế độ mưa trên mỗi lưu vực một khác. Ghi chú : Tháng lũ: +; tháng lũ cao nhất : ++ Mùa lũ không trùng nhau vì chế độ mưa trên mỗi lưu vực khác nhau, mùa lũ có xu hướng chậm dần từ Bắc vào Nam. Lũ ở miền Trung là chậm nhất. Ngoài ra còn phụ thuộc vào địa chất, địa hình và lớp thảm thực vật... Câu hỏi (vận dụng): Nhân dân ta đã tiến hành những biện pháp nào để khai thác các nguồn lợi và hạn chế tác hại của lũ? - Xây hồ chứa nước: Phát triển thuỷ lợi, thuỷ điện, thuỷ sản, du lịch - Chung sống với lũ tại đồng bằng sông Cửu Long: + Tận dụng nguồn nước để thau chua rửa mặn, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển giao thông, du lịch. + Tận dụng nguồn phù sa để bón ruộng, mở rộng đồng bằng. + Tận dụng thuỷ sản tự nhiên,cải thiện đời sống, phát triển kinh tế. Giáo viên chiếu hình ảnh Câu hỏi( nhận biết): Nhận xét về màu sắc của dòng sông? ( Màu đỏ).Vì sao nước sông có màu sắc như d. Sông ngòi nước ta có 19
- vậy?(Có nhiều phù sa).Cho biết hàm lượng phù sa của lượng phù sa lớn. sông? -Bình quân một mét khối Câu hỏi( vận dụng): Nguyên nhân nào mà sông ngòi nước sông có 223 gam cát nước ta có lượng phù sa lớn? bùn và các chất hòa tan - Do mưa tập trung theo mùa. khác. - 3/4 diện tích là đồi núi. Giáo viên kết luận: Sông ngòi nước ta có 4 đặc điểm chung, có quan hệ chặt chẽ và chịu sự tác động của các yếu tố khí hậu, địa hình sông ngòi nước ta mang đặc trưng sông ngòi của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa. Như vậy, với những đặc điểm chung đó sông ngòi đã đem lại những lợi ích, giá trị gì cho con người. Chúng ta cùng tìm hiểu mục 2 Hoạt động 4:Khai thác kinh tế và bảo vệ sự trong sạch của nước sông (18 phút) - Giáo viên trình chiếu hình ảnh và nêu câu hỏi: 2. Khai thác kinh tế và bảo vệ sự trong sạch của nước sông: a. Sông ngòi nước ta có giá trị to lớn về nhiều mặt: - Khai thác, nuôi trồng thủy sản-Thủy điện - Thủy lợi - Giao thông, du lịch - Bồi đắp phù sa 20

