SKKN Hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1 - Võ Thị Kim Oanh

pdf 13 trang baochau 04/02/2026 2280
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1 - Võ Thị Kim Oanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_hinh_thanh_va_phat_trien_pham_chat_nhan_ai_cho_hoc_sinh.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1 - Võ Thị Kim Oanh

  1. UBND HUYỆN CAM LỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CAM LỘ BÁO CÁO SÁNG KIẾN “ Hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1”. Tác giả: Võ Thị Kim Oanh Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Phẩm chất Cam Lộ, tháng 5 năm 2024
  2. 1 UBND HUYỆN CAM LỘ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc CAM LỘ Cam Lộ, ngày 10 tháng 5 năm 2024 BÁO CÁO SÁNG KIẾN - Họ và tên tác giả: VÕ THỊ KIM OANH Nữ - Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học Sư phạm - Chức vụ: Giáo viên - Đơn vị công tác: Trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ - Tên sáng kiến: :“ Hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1”. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Phẩm chất - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 5 năm 2024 I. LÍ DO CHỌN SÁNG KIẾN Như chúng ta đã biết, giáo dục đạo đức con người luôn là việc quan trọng trong mọi xã hội, mọi giai cấp. Đặc biệt, trong xã hội hiện nay, tình trạng suy thoái đạo đức đang diễn ra nghiêm trọng. Ngay trong các trường học cũng đã xảy ra hiện tượng học sinh gây gổ, đánh nhau, bôi nhọ danh dự của nhau chỉ vì những lí do rất đơn giản. Chính vì thế, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh càng phải được quan tâm, coi trọng. Chương trình GDPT 2018 không chỉ chú trọng dạy kiến thức cho học sinh mà đặc biệt chú trọng phẩm chất, năng lực của các em. Chương trình GDPT 2018 đưa ra 5 phẩm chất nền tảng giúp học sinh rèn luyện bản thân và hiểu được những phẩm chất quý giá của dân tộc mình đó là: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhệm. Với học sinh lớp 1, các em “ như búp trên cành”, tâm hồn các em như một tờ giấy trắng, việc hình thành và phát triển cho các em có những phẩm chất, nhất là phẩm chất nhân ái là việc làm thiết thực, giúp các em hình thành nên thói quen có hành vi đạo đức tốt mãi về sau. Vậy làm sao để đưa phẩm chất nhân ái đến với tâm hồn trẻ thơ bằng một cách nhẹ nhàng và sâu lắng nhất, đọng lại trong các em những tố chất quý báu mà ông cha ta đã có như: tình yêu thương, sự cảm thông chia sẻ, sống vì mọi người, Đó là câu hỏi mà tôi luôn trăn trở và tôi đã quyết định chọn và nghiên cứu sáng kiến:“ Hình thành và phát triển
  3. 2 phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1”. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Tính mới và sáng tạo của sáng kiến Sáng kiến: “Một số biện pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1” nhằm phát triển cho các em những tố chất nhân ái, biết sống vì mọi người, có tình thương và trách nhiệm trong cuộc sống, qua đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho các em. Đây là một biện pháp mới lạ được nghiên cứu dựa trên chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sáng kiến có những điểm mới sau: Tuy đã có một số sáng kiến đặt vấn đề đến lĩnh vực này, song nội dung tìm hiểu và nghiên cứu chưa sâu sắc, chưa sát thực. Tôi đi sâu vào thực trạng của đơn vị nhà trường và đề xuất hướng giải quyết theo thực trạng của đơn vị trường tôi. Sáng kiến đưa ra được thêm 7 giải pháp mới có tính khả thi cao. Đó là các giải pháp đơn giản, cụ thể, dễ áp dụng và áp dụng được ở mọi thời điểm trong năm học. Nó có căn cứ bền vững từ thực tế học sinh. Ở giải pháp này có nhiều điểm mới về phương pháp hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh mà nhiều sáng kiến khác chưa chỉ ra được đồng thời nhiều giáo viên chưa nhận thấy khi giảng dạy trên lớp. Các biện pháp được tôi áp dụng một cách bài bản, mềm mỏng nhưng triệt để hơn. Mặt khác từ sáng kiến này đã giúp đồng nghiệp có những nhìn nhận sâu sắc hơn trong quá trình giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh. 1.1. Tìm hiểu tầm quan trọng của việc cần hình thành phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy rằng học sinh của chúng ta nếu chỉ học trên lí thuyết chưa đủ mà trong cuộc sống có rất nhiều mối quan hệ, có nhiều tình huống khác nhau mà chỉ với những kiến thức đơn thuần học sinh không có khả năng giải quyết các tình huống khác nhau trong cuộc sống. Khoảng cách giữa nhận thức và hành động cách nhau quá xa. Nhiều tình huống các em chỉ ứng phó một mình. Do nhiều việc phải tự mình giải quyết nên các em không những phải cần biết rõ làm thế nào là điều hay, lẽ phải mà còn phải có khả năng hành động theo nhận thức. Giáo dục phẩm chất giúp các em xây dựng những hành vi lành mạnh, thay đổi những hành vi tiêu cực, giúp cho các em có môi trường học tập lành mạnh “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Chính vì điều đó nên tôi nhận thấy rằng với sự phát triển của xã hội hiện nay thì hình thành phẩm chất cho học sinh là công việc quan trọng không thể coi nhẹ hơn giáo dục kiến thức được.
  4. 3 1.2. Giáo viên chủ nhiệm là tấm gương sáng để học sinh noi theo. Với truyền thống “ Tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta, người giáo viên luôn được coi là một hình tượng mẫu mực, là người dạy học trò tri thức và nhân cách. Người giáo viên hằng ngày qua từng bài giảng, hành động của mình đã và đang nuôi dưỡng nhân cách cho học trò. Vì vậy mỗi thầy giáo, cô giáo cần là một tấm gương về đạo đức cho học sinh noi theo. Là một giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi luôn dùng tình thương và trách nhiệm để cảm hóa học sinh hay chính là để làm gương cho các em. Một thầy cô muốn hoàn thành nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm trước hết phải có tâm, có tấm lòng vì tình yêu thương con người, có sự độ lượng, bao dung, đồng thời giỏi về tâm lí lứa tuổi, có nhiều biện pháp giáo dục tinh tế. Bởi vì làm chủ nhiệm là một nghệ thuật, đòi hỏi người giáo viên phải là một tấm gương sáng về đạo đức, mẫu mực từ lời ăn tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ chuyên môn; quan hệ với học trò như một người bạn lớn, vừa gần gũi, vừa đáng tin cậy; kiên trì giáo dục học sinh theo kiểu “ Mưa dầm thấm lâu”; giáo dục phẩm chất phải trở thành thói quen của GVCN. Có như vậy thì mới hình thành tốt phẩm chất cho học sinh. Ví dụ: Trong giờ ra chơi, tôi thường trò chuyện cùng học sinh, tôi luôn tạo điều kiện cho cô trò gần gũi tình cảm, dễ chia sẻ cảm thông với nhau hơn. Có như vậy thì các em mới dám nói, dám tâm sự và giáo viên mới hiểu được tâm tư, tình cảm của các em. Cùng các em thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng góp phần tạo mối quan hệ gần gũi giữa GV và HS. 1.3. Nêu gương và khen thưởng. Nắm được tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động viên nên tôi hướng dẫn ban cán sự lớp lập bảng chấm điểm thi đua từng học sinh về các việc làm tốt trong tuần. Hằng ngày, hằng tuần, qua quan sát các biểu hiện trong các hoạt động của học sinh, sau khi đánh giá nhận xét chỉ rõ cho các em nắm được điểm mạnh và điểm cần cố gắng của từng em, tôi thường động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy được ưu điểm. Một điều không thể thiếu nữa là để tạo sự hưng phấn, vui vẻ, phấn khởi, giúp các em có ý thức cao trong việc rèn luyện tu dưỡng bản thân, tôi luôn chú ý động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt các hoạt động học tập, rèn luyện. Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm học tôi trao đổi với phụ huynh lớp cùng phối hợp và dành một khoản chi phí riêng để khen thưởng kịp thời động viên các em để tạo cho các em có một động cơ tốt trong việc duy trì thực hiện nội quy, nề nếp. Bên cạnh đó tôi dành một ít thời gian trong giờ sinh hoạt lớp để các em kể
  5. 4 lại những việc tốt, việc làm các em đã giúp bạn trong tuần (như giúp đỡ bạn học tập, cho bạn mượn bút, thấy bạn ngã thì đỡ bạn, nhắc nhở bạn không được mua đồ ăn vặt, tha lỗi cho bạn khi bạn làm mình ngã,....). Sau đó bầu chọn HS có nhiều việc làm giúp đỡ bạn tuyên dương trước lớp và nhận thưởng. Mỗi lần được tuyên dương, các em rất vui và hãnh diện. Vì thế các em không ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt mọi yêu cầu học tập, tích cực trong các hoạt động. Đây là một hình thức động viên về tinh thần rất giá trị và hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, phẩm chất nhân ái cũng được hình thành và phát triển một cách tự nhiên và bền chặt nhất. 1.4. Tạo không khí vui vẻ, sôi động, hào hứng trong giờ học Để chuẩn bị cho một tiết dạy, tạo được hứng thú cho học sinh, giáo viên cần kết hợp các phương pháp giảng dạy phù hợp, sinh động, sáng tạo. Để tạo nên một không khí sinh động và lôi cuốn học sinh thì không dễ dàng, giáo viên phải hiểu biết ngôn ngữ diễn đạt, cách tổ chức, trình bày bài giảng,... Những PPDH tích cực cần được phát huy trong dạy học là: PPDH thực hành giao tiếp, PPDH phân tích ngôn ngữ, PPDH rèn luyện theo mẫu, PPDH đặt và giải quyết vấn đề, PPDH trực quan, PPDH đóng vai PPDH trò chơi... Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực để phát triển học sinh ở một khía cạnh nào đó. Vì vậy mỗi giáo viên cần biết kết hợp nhiều hình thức tổ chức để phát huy thế mạnh của từng học sinh, tạo không khí vui vẻ, sôi động, hào hứng trong tiết học. Phương pháp dạy học mới, đòi hỏi phải có hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn... nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh. Ví dụ: Bài 4: Yêu thương con người, hoạt động 3: Xử lí tình huống (trang 18), sách Hoạt động trải nghiệm, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. + Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm đôi quan sát tranh và tìm hiểu nội dung tranh và trả lời câu hỏi: Nếu em là các bạn trong tranh em sẽ làm gì để thể hiện hành động yêu thương? + Học sinh hoạt động nhóm. Sau đó đại diện nhóm lên chia sẻ bằng hình thức đóng vai. Tranh 1: Em sẽ chăm sóc khi mẹ ốm. Tranh 2: Em nhặt sách hộ cô giáo. Tranh 3: Em nhặt trái cây hộ cô bán hàng. Tranh 4: Em sẽ chúc mừng Sinh nhật mẹ. + Giáo viên cho học sinh nhận xét và chốt lại nội dung. Như vậy, kết hợp nhiều hình thức dạy học sẽ làm cho tiết học sôi nổi, các em sẽ khắc sâu được nội dung bài học và biết cách yêu thương giúp đỡ mọi
  6. 5 người. Qua đó, các em sẽ dễ hình thành phẩm chất nhân ái hơn thông qua nội dung của bài học. 1.5. Xem những bộ phim ngắn về bài học cuộc sống trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Những phim ngắn "Quà tặng cuộc sống" có nhiều ý nghĩa giáo dục và giúp các em hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái vì thế giáo viên có thể chọn chiếu một phim phù hợp với mục đích của giờ sinh hoạt. Ví dụ, khi xem phim "Câu chuyện chiếc bình nứt", giáo viên có thể đặt câu hỏi: Sự khiếm khuyết có giá trị không? Hình ảnh chiếc bình nứt tượng trưng cho ai trong cuộc sống? Trong cuộc sống, khi gặp những khiếm khuyết của bản thân hay của người khác, chúng ta thường làm gì? Ai sẽ đóng vai trò "người gánh nước" trong cuộc sống của bạn? Em có suy nghĩ gì về việc chọn nghề liên quan đến khiếm khuyết của bản thân? Các học sinh thảo luận, suy nghĩ, đưa ra câu trả lời cho tất cả các câu hỏi trên. Giáo viên sẽ phân tích thêm nội dung, ý nghĩa của từng đáp án để các em hiểu rõ hơn từ đó rút ra được bài học cho bản thân và vận dụng vào cuộc sống. Bài học rút ra từ đoạn video là: Mỗi người trong chúng ta đều có những khuyết điểm riêng biệt. Ai cũng đều là "Chiếc bình nứt" cả. Nhưng chính các vết nứt và khuyết điểm đó của từng người mới khiến cho đời sống chúng của chúng ta trở nên thú vị và làm chúng ta thỏa mãn. Chúng ta phải chấp nhận cá tính của từng người trong cuộc sống và tìm cho ra cái tốt trong họ. Phương pháp này đem lại hiệu quả giáo dục rất lớn mà giáo viên không phải "nói nhiều", "giáo huấn nhiều". Nên lựa chọn sử dụng những phim gần gũi liên quan với phẩm chất mà giáo viên đang lựa chọn giáo dục cho học sinh. Điều này là rất quan trọng vì nếu chọn sai nội dung thì việc giáo dục sẽ giống như "râu ông nọ cắm cằm bà kia". Mỗi giờ sinh hoạt, tôi chỉ cần chiếu một đến hai đoạn video, không nên chiếu quá nhiều mà không để thời gian cho học sinh suy nghĩ, thảo luận. Trong năm học, tôi đã cho học sinh xem các video: "Câu chuyện về tình bạn", "Đứa cháu hư", "Bữa trưa ở trường", "Bánh đúc có xương",... 1.6. Thường xuyên tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh để tạo cơ hội cho các em hình thành phẩm chất nhân ái.
  7. 6 Các năng lực phẩm chất học sinh không chỉ được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện mà nó còn được hình thành nhiều qua các hoạt động trải nghiệm trong và ngoài nhà trường. Hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức quy mô lớn nhỏ tùy vào thời gian, điều kiện của nhà trường, của từng lớp, từng đối tượng học sinh. Ngoài các hoạt động trải nghiệm theo quy mô lớn như tổ chức theo trường, theo khối, tôi thấy các trải nghiệm qui mô nhỏ (theo từng lớp riêng) cũng rất cần thiết và mang lại hiệu quả cao. Bởi vì học sinh chủ yếu hoạt động trên lớp mà tổ chức trải nghiệm cho các em cũng cần có các hoạt động, thực tế, đa dạng, cần được giáo viên tổ chức thường xuyên, liên tục thì mới thành kĩ năng, phẩm chất, kĩ năng sống cho học sinh. Để hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh, tôi đã tổ chức cho các em tham gia một số hoạt động ví dụ như: chơi các trò chơi dân gian trên sân trường, nuôi heo đất giúp bạn khó khăn (mua dép có quai hậu tặng cho em Gia Hân, mua cặp tặng bạn Trâm), làm thiệp tặng mẹ nhân ngày 8/3, ... 1.7. Áp dụng phương pháp dạy học "Trò chơi học tập" trong các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Ở bậc Tiểu học, đặc biệt là lớp 1, khi các em vừa kết thúc lứa tuổi hoạt động vui chơi của mình là chính mà bước vào hoạt động chủ yếu là học tập. Vì thế, việc tổ chức trò chơi cho các em có vai trò vô cùng quan trọng phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh. Việc tổ chức trò chơi cho các em, bên cạnh việc gây hứng thú, phấn khởi học tập cho học sinh, còn giúp cho các em khắc sâu kiến thức , góp phần nâng cao hiệu quả trong giờ học. Tổ chức trò chơi giúp các em hòa nhập với tập thể, nâng cao tinh thần đoàn kết, mạnh dạn tham gia vào các trò chơi. Ví dụ: Trong môn Toán bộ sách Kết nối với tri thức, bài 1: Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5 (trang 8). Trong hoạt động khám phá, sau khi hình thành các số 0, 1, 2, 3, 4, 5. Giáo viên tổ chức cho HS chơi một trò chơi nhỏ mang tên: "Tôi cần". Giáo viên chia lớp thành 3 đội tương ứng với 3 tổ trong lớp. Khi GV đưa ra yêu cầu (cần 3 bạn nữ, cần 4 bạn nam, cần 1 bạn nữ và 1 bạn nam), đội nào thực hiện nhanh và đúng được nhận một hoa học tốt. Đội nào dành được nhiều hoa sẽ dành chiến thắng chung cuộc. Ở trò chơi này, có lúc các em sẽ dành nhau lên bảng, làm cho đội của mình thua cuộc. Lúc này, tôi sẽ nhận xét và đưa ra lời khuyên cho các em nên nhường nhau như vậy đội của mình mới thắng được. Và những lượt chơi sau tôi thấy các em thực hiện rất tốt. Một số trò chơi học tập giáo dục và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh mà tôi đã thực hiện: Trò chơi "Kết bạn", "Xếp hàng thứ tự", "Ghép tranh với từ tương ứng", "Thi đọc tiếp sức",.....
  8. 7 2. Tính thực tiễn của sáng kiến Sáng kiến: "Hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 1" là một đề tài hoàn toàn mới lạ được tôi nghiên cứu kĩ lưỡng và áp dụng một cách khoa học dựa trên nhiều yếu tố khác nhau mà nồng cốt là chương trình điều chỉnh hành vi của bản thân và có những hành động, việc làm thiết thực xây dựng được tình đoàn kết, biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống. Nội dung nghiên cứu của biện pháp được thực hiện không chỉ lồng ghép trong các buổi sinh hoạt cuối tuần, 15 phút đầu giờ, tiết đọc thư viện mà giáo dục lòng nhân ái ở mọi nơi, mọi lúc thông qua nhiều hoạt động và đặc biệt bằng những việc làm cụ thể. Giáo dục lòng nhân ái duy trì liên tục và thường xuyên nó giúp tôi sử dụng lâu dài và đồng nghiệp có thể sử dụng để nâng cao giáo dục lòng nhân ái cho học sinh. 3. Hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến 3.1. Hiệu quả áp dụng Qua việc thực hiện các biện pháp trên, tôi thấy học sinh lớp tôi có chuyển biến rõ rệt về phẩm chất nhân ái biểu hiện cụ thể: - Học sinh đi học đầy đủ, đúng giờ, thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ học tập; thích đọc sách để mở rộng hiểu biết; Có ý thức vận dụng kĩ năng học được ở nhà trường vào đời sống hàng ngày. - Thường xuyên tham gia các công việc gia đình, các công việc của trường, lớp, cộng đồng vừa sức với bản thân. - Đa số các em hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin trong mọi hoạt động; Có trách nhiệm với bản thân như: giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, chăm sóc sức khỏe; Có trách nhiệm với gia đình như giữ gìn đồ dùng trong nhà, tiết kiệm tiền của,...; Có trách nhiệm với cộng đồng xã hội như: Thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường, tích cực tham gia các hoạt động tập thể,..; Có trách nhiệm với môi trường sống như chăm sóc, bảo vệ cây trồng, vật nuôi, giữ vệ sinh môi trường... - Yêu thiên nhiên và có những việc làm thiết thực bảo vệ thiên nhiên;Yêu quê hương, kính trọng biết ơn người lao động, người có công với nước, tham gia các hoạt động đề ơn đáp nghĩa; Yêu quý, quan tâm chăm sóc người thân trong gia đình; Yêu thương, tôn trọng bạn bè, thầy cô và những người khác, nhường và giúp đỡ em nhỏ, biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn... Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng thì đến nay đã có những kết quả đáng khích lệ. Tuy mới áp dụng trong một thời gian chưa dài nhưng đã có những kết quả rất khả quan, điều này cho thấy rằng biện pháp tôi áp dụng đã có tính khả thi, đa số các em có nhiều biểu hiện của lòng nhân ái và được chứng minh qua bảng khảo sát dưới đây: Khảo sát trước khi áp dụng biện pháp:
  9. 8 HS có biểu hiện của HS có nhiều\biểu hiện HS chưa có biểu lòng nhân ái nhưng của lòng nhân ái hiện của lòng nhân ái TSHS còn ít TS % TS % TS % 29 9 31 8 27.6 12 41.4 Khảo sát sau khi áp dụng biện pháp: HS có biểu hiện của HS chưa có biểu HS có nhiều biểu hiện lòng nhân ái nhưng hiện của lòng nhân của lòng nhân ái TSHS còn ít ái TS % TS % TS % 29 25 86.2 4 13.8 0 0 3.2. Phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Khi nghiên cứu sáng kiến này tôi cũng chỉ có một suy nghĩ nho nhỏ là làm sao mình có thể giúp giáo viên trong trường có những biện pháp hay trong việc hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. Nhưng thực sự, qua tiến hành thực nghiệm đã cho thấy hiệu quả của sáng kiến trên với kết quả tốt, tính khả thi cao, có giá trị sử dụng lâu dài. Vì vậy, tôi nghĩ có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả học sinh khối lớp 1 và các khối lớp khác của trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ đồng thời sáng kiến có thể hoàn toàn nhân rộng và áp dụng cho học sinh cấp tiểu học và các cấp học khác trên địa bàn huyện. III. KẾT LUẬN 1. Bài học kinh nghiệm: Trong quá trình hình thành và phát triển phẩm chất cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, bình tĩnh trong thời gian không phải ngày một, ngày hai mà đã làm được ngay, nó đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài và được thử nghiệm nhiều lần. Lòng nhân ái thực ra không phải thứ tình cảm đó gì xa xỉ mà đó chính là những tình cảm được xuất phát từ trái tim một cách chân thành nhất. Lòng nhân ái là sự cho đi mà không cần so đo tính toán thiệt hơn, cũng không cầu mong sẽ được nhận lại, lòng nhân ái đơn giản là những hành động chia sẻ, giúp đỡ và cảm thông lẫn nhau. Lòng nhân ái luôn có sẵn trong tâm hồn mỗi con người, có chăng là chúng ta đã đánh thức nó dậy hay chưa mà thôi, ai cũng có thể có lòng nhân ái và ai cũng có thể trao đi lòng nhân ái đó dành cho mọi người xung quanh. Không phải là những việc làm to tát mà lòng nhân ái hiển diện xung quanh cuộc sống thường ngày của chúng ta.
  10. 9 Khi lòng nhân ái thật sự được hình thành ở mỗi cá nhân học sinh thì lớp học sẽ trở thành ngôi nhà chung của mọi tính cách, mọi năng lực học tập. và mỗi ngày đến lớp sẽ là một ngày vui của các thành viên trong lớp học. Những học sinh kiêu căng, ích kỷ cũng dần thay đổi tính cách để phù hợp với bạn bè trong lớp. Tôi thấy, giáo dục lòng nhân ái không chỉ có ý nghĩa về mặt giáo dục đạo đức mà góp phần quan trọng trong việc nâng cao kết quả học tập. Tôi đã làm công tác chủ nhiệm bằng cả trách nhiệm của một giáo viên nhiệt tình và bằng tất cả tình cảm của một người mẹ. Tôi biết con cái và sự thành đạt của chúng là niềm hạnh phúc lớn nhất của bố mẹ. Những học sinh có lòng nhân ái sẽ không chỉ là những đứa con ngoan, hiếu thảo, những người bạn tốt biết chia sẻ mà hơn hết các em sẽ trở thành những học sinh luôn biết phấn đấu trong học tập và tu dưỡng để làm hài lòng thầy cô và bố mẹ. Sự thành công trong việc hình thành lòng nhân ái cho học sinh sẽ đem lại hiệu quả to lớn về nhiều mặt giáo dục. Các em học sinh sẽ tự hoàn thiện mình; Nhà trường sẽ có một không gian văn hóa đúng mực; Phụ huynh học sinh sẽ luôn có niềm tin với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường, góp phần làm giảm bớt tệ nạn ngoài xã hội 2. Kiến nghị, đề xuất Để việc hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh đạt được hiệu quả cao hơn tôi có một số đề xuất sau 2.1. Đối với nhà trường: Tăng cường chỉ đạo giáo viên thường xuyên thực hiện và duy trì việc hình thành và phát triển phẩm chất cho học sinh. Triển khai những giải pháp trong việc tăng cường chỉ đạo hình thành và phát triển phẩm chất, kĩ năng sống cho học sinh đến đội ngũ giáo viên, công nhân viên nhà trường để thực hiện một cách đồng bộ. 2.2. Đối với đội ngũ giáo viên: Tìm tòi và bổ sung thêm những giải pháp của từng cá nhân để thực hiện tốt và có hiệu quả nhiệm vụ hình thành và phát triển phẩm chất cho học sinh. Theo dõi, kiểm tra, tư vấn và động viên khuyến khích học sinh chủ động, tích cực tham gia các hoạt động, thực hiện tốt nề nếp, ý thức kỉ luật nội quy của lớp, của nhà trường. GVCN cần phải phối kết hợp chặt chẽ thường xuyên với phụ huynh học sinh trong việc giáo dục phẩm chất cho học sinh. 2.3. Đối với liên đội:
  11. 10 Phối kết hợp với nhà trường, với GVCN xây dựng những sân chơi bổ ích, mô hình ngoại khóa, trò chơi dân gian... dưới nhiều hình thức để học sinh tham gia vui chơi, giải trí sau những tiết học căng thẳng. Liên đội nhân rộng mô hình nêu gương, tuyên dương khen thưởng những tập thể, cá nhân làm tốt phong trào người tốt việc tốt. Trên đây là một vài biện pháp mà tôi đã rút ra từ thực tế của việc hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. Do kinh nghiệm nghiên cứu và kĩ năng diễn đạt của bản thân còn hạn chế. Vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các quý cấp lãnh đạo để tôi có thêm kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục phẩm chất cho học sinh Tôi xin chân thành cảm ơn. XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN Hồ Thị Hải Thanh Võ Thị Kim Oanh XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
  12. 11 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT GV Giáo viên HS Học sinh GDPT Giáo dục phổ thông PPDH Phương pháp dạy học GVCN Giáo viên chủ nhiệm
  13. 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách đánh giá năng lực phẩm chất học sinh theo chương trình GDPT 2018 2. Tài liệu rèn luyện phẩm chất dành cho học sinh Tiểu học của TS Vũ Đình Bảy, TS Đặng Xuân Điệu, ThS Trần Thị Hằng Mơ. 3. Giáo dục kĩ năng sống của TS Huỳnh Lâm Anh Chương.