SKKN Nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm theo chủ đề Lớp 1 - Nguyễn Thị Thu Hiền
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm theo chủ đề Lớp 1 - Nguyễn Thị Thu Hiền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_nang_cao_chat_luong_hoat_dong_trai_nghiem_theo_chu_de_l.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm theo chủ đề Lớp 1 - Nguyễn Thị Thu Hiền
- A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do, tính cấp thiết của vấn đề: 1. Lý do: Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.Trong đó, khái niệm “trải nghiệm” dùng để chỉ phương thức giáo dục,“Trải nghiệm” là thể nghiệm, thực nghiệm. Khi trực tiếp tham gia các hoạt động trong thực tiễn với tư cách chủ thể hoạt động, người học sẽ phát triển về kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định. Theo bộ Giáo dục & Đào tạo, Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thể hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai. Hoạt động trải nghiệm còn giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người, có quan niệm sống và ứng sử đúng đắn, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam trong một thế giới hội nhập. Ở bậc tiểu học, mục tiêu chính của Hoạt động trải nghiệm là giúp hình hành cho học sinh thói quen tích cực trong cuộc sống hằng ngày, chăm chỉ lao động; thực hiện trách nhiệm của người học sinh ở nhà, ở trường và địa phương; biết tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hình thành những hành vi giao tiếp, ứng xử có văn hoá; có ý thức hợp tác nhóm và hình thành được năng lực giải quyết vấn đề. Được trải nghiệm là cơ hội để các em ý thức được tầm quan trọng của việc học tập và quyết tâm nỗ lực cố gắng hơn nữa trong các lĩnh vực hoạt động của bản thân. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo như một trò chơi khám phá thế giới bất tận, càng đào sâu càng say mê hơn. Các nhà khoa học giáo dục cho biết: Việc gọi tên khác cho hoạt động ngoài giờ lên lớp ở Chương trình giáo dục phổ thông 2018, không chỉ là vì nội hàm triết lý giáo dục đã thay đổi, mà còn vì chúng ta muốn nhấn mạnh đến sự thay đổi nhận thức, ý thức về cái mới của hoạt động này: tránh sự hiểu nhầm rằng ngoài giờ thì không quan trọng, không có vị trí xứng đáng; hoặc là đơn giản hóa nội dung, mục đích của hoạt động này, Trong tên gọi mới, “trải nghiệm 1
- theo chủ đề” là phương thức giáo dục và “sáng tạo” là mục tiêu giáo dục, phải được làm rõ. 2. Tính cấp thiết: Từ những lý do trên cho ta thấy Hoạt động trải nghiệm góp phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh. Nếu mục tiêu chủ yếu của dạy học trên lớp là phát triển trí tuệ thì mục tiêu chủ yếu của hoạt động trải nghiệm theo chủ đề là phát triển phẩm chất. Cụ thể là: hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại thông qua những trải nghiệm thực tiễn. Vì lẽ đó Hoạt động trải nghiệm theo chủ đề trong chương trình giáo dục phố thông 2018 Bộ Giáo dục & Đào đưa vào lớp 1 là lớp đầu tiên đặt nền móng , đây là một việc làm đúng đắn, có vị trí hết sức quan trọng cho sự hình thành nhân cách con người và sự sáng tạo của học sinh. Trong quá trình tham gia Hoạt động trải nghiệm theo chủ đề, sẽ cho chúng ta thấy rõ việc thầy cô sẽ giúp các em khám phá được vốn hiểu biết đã có kết nối với những kinh nghiệm mới mà các em cần nắm được. Các em được thực hành qua việc áp dụng những kinh nghiệm mới vào vào việc giải quyết những tình huống có thể gặp trong cuộc sống , sau đó vận dụng những kinh nghiệm mới đó vào cuộc sống hàng ngày ở gia đình và xã hội để hình thành kĩ năng, hành vi, thói quen tích cực, phát triển tình cảm, niềm tin vào giá trị trong cuộc sống. Đối với học sinh tiểu học ngoài học tập thì nhu cầu chơi và được khám phá trải nghiệm là vô cùng cần thiết với các em sau những giờ học căng thẳng và được các em tiếp nhận một cách tích cực. Chúng ta thử tưởng tượng nếu học sinh đến trường chỉ làm mỗi nhiệm vụ học tập, một điều tất yếu xảy ra khi vào giờ học các em sẽ không tập trung học tập, khả năng tiếp thu bài giảm sút. Được tham gia các hoạt động trải nghiệm trên lớp thông qua hoạt động trải nghiệm theo chủ đề, các em sẽ trau dồi thêm cho mình một số kiến thức về xã hội, về ứng xử trong cuộc sống cũng như tạo được cho mình đức tính khiêm tốn, giản dị, mạnh dạn, sự gần gũi thương yêu, tạo ra mối đoàn kết gắn bó, giúp đỡ nhau trong học tập, tự tin trong cuộc sống sau này đồng thời tạo được khí thế thi đua sôi nổi trong học sinh. Hoạt động trải nghiệm theo chủ đề tạo cơ hội cho học sinh khám phá bản thân về thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người qua đó hình thành phát triển những phẩm chất năng lực của người học như: có quan điểm sống và ứng xử đúng đắn, đồn thời bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam trong thế giới hội nhập. Lâu nay Hoạt động trải nghiệm là một thuật ngữ chưa tồn tại trong chương trình giáo dục cũ của chúng ta. Nó mới xuất hiện trong đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông và hiện nay chúng ta đang tích cực thể nghiệm. Trong thực tế dạy học - giáo dục lâu nay, chúng ta đã thực hiện, tuy nhiên, ta vẫn chưa định hình rõ về vai trò, đặc trưng, mục đích giáo dục,... của 2
- nó. Vậy bản chất của hoạt động này là gì? nó có vai trò, ưu thế gì trong nền giáo dục? để tổ chức tốt hoạt động này cần lưu ý những yêu cầu nào? v..v.. Qua kinh nghiệm thực tế trong quá trình làm Tổng phụ trách và hiện nay được nhà trường phân công giảng dạy lớp 1 chương trình giáo dục phổ thông mới. Bản thân thấy rõ được tầm quan trọng của việc dạy học trải nghiệm theo chủ đề, qua quá trình hoạt động các em được cải thiện rất nhiều về các kĩ năng nói, chia sẽ, trao đổi, nhận xét, tương tác với bạn và thầy cô, ngoài ra còn phát triển nhiều năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua hoạt động. Tuy nhiên, đây là một nội dung mới nên trong quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh, vẫn còn một số ý kiến băn khoăn về yêu cầu, cách thức tổ chức thực hiện, về khả năng của học sinh... Từ thực tế kinh nghiệm sẵn có, tôi chỉ xin được chia sẻ những “Kinh nghiệm” trong quá trình làm việc của mình và thời gian 1 năm nghiên cứu lí thuyết và đối chiếu nó với thực tiễn, tổ chức hoạt động trải nghiệm theo chủ đề ở trường tôi thông qua sáng kiến “Nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm theo chủ đề lớp 1”. 3
- B. NỘI DUNG I. Thực trạng của vấn đề: 1.Thực trạng chung: Trước đây, nhìn chung hoạt động trải nghiệm cũng được các trường cũng đã triển khai theo loại hình hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Các hoạt động được tổ chức đang còn rập khuôn, chủ yếu là dựa trên hướng dẫn chỉ đạo của ngành, kế hoạch hoạt động năm học của trường và chương trình hoạt động của đội Thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh. Khi tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, đa số giáo viên làm thay học sinh ở hầu hết các khâu: lựa chọn nội dung, xây dựng kế hoạch, chuẩn bị. Học sinh chỉ tham gia thực hiện với số ít học sinh trong lớp. Các hoạt động đó chủ yếu được tổ chức dựa trên các chủ đề đã được quy định trong chương trình với các hình thức còn chưa phong phú; học sinh thường được chỉ định, phân công tham gia một cách bị động, các em chưa được chủ động tham gia tất cả các khâu trong tiến trình hoạt động. Giáo viên tổ chức hoạt động cho học sinh nhưng chưa xác định rõ hoạt động đó sẽ hướng tới hình thành những năng lực gì của các em. Điều đó không phù hợp với một chương trình định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, cần phải thay đổi. Trong Chương trình mới, các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ, kể cả dạy học trên lớp sẽ phong phú hơn cả về nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động, đặc biệt, mỗi hoạt động phải phù hợp với mục tiêu phát triển những phẩm chất, năng lực nhất định của học sinh; nghĩa là học sinh được học từ trải nghiệm - nhưng không đơn giản chỉ là “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” mà còn cao hơn nữa. Ví dụ: thử so sánh “học qua trải nghiệm” (hoạt động trải nghiệm) với “học thông qua làm” (tức: thực hành, thí nghiệm) ta sẽ thấy giống và khác nhau như thế nào?Hai cách học trên gần giống nhau - giống ở chỗ: người học đều trực tiếp tham gia vào hoạt động và ở tư cách chủ thể hoạt động. Tuy nhiên, “học qua làm” là nhấn mạnh về thao tác kỹ thuật còn “học qua trải nghiệm” giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý khác. “Học qua làm” người học nhưng “học qua trải nghiệm” lại chú ý tới kinh nghiệm, sự sáng tạo và cảm xúc cá nhân. Các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè, Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết. Hoạt động trải nghiệm về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Một thực trạng nữa một số phụ huynh còn có những quan niệm chưa đúng về hoạt động giáo dục thông qua tiết trải nghiệm theo chủ đề.. Nhiều phụ huynh không muốn cho con em mình tham gia vào hoạt động này vì sợ mất nhiều quỹ thời gian học tập của trẻ và ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả, thành tích học tập 4
- của các em. Chính những suy nghĩ, nhìn nhận sai lầm ấy đã chi phối đến cách nhận thức của trẻ đối với Hoạt động ngoài trải nghiệm. Do vậy nhiều trẻ không có ý thức tự nguyện, tự giác, tích cực khi tham gia hoạt động. Nhiều em tham gia lấy lệ, chưa phát huy hết năng lực sở trường của bản thân, chưa thể hiện được bản lĩnh của mình trước tập thể. II.Áp dụng các giải pháp vào sáng kiến: 1. Xây dựng chu trình học tập: 1. Khởi động: tạo không khí thoải mái để vào học, kết nối vào bài mới. 2. Khám phá – Kết nối: Khám phá nhằm khai thác kinh nghiệm đã có của học sinh, xem các em đã hiểu biết như thế nào về vấn đề đặt ra. Kết nối là giáo viên phân tích, tổng hợp những kinh nghiệm đã có của học sinh để kết nối kinh nghiệm mới chứa đựng trong nội dung của chủ đề. Ví dụ : Dạy chủ đề: Em bảo vệ môi trường – Bài : Giữ gìn môi trường sach, đẹp. Hoạt động1: Kể về những địa điểm sạch đẹp. Bước 1:Học sinh làm việc cá nhân - Giáo viên cho học sinh, nhớ lại điểm sạch đẹp ở địa phương. Bước 2: Làm việc chung toàn lớp - Cho học sinh kể về những điểm sạch đẹp ở địa phương em. Sau đó cho học sinh xem video về môi trường sạch đẹp và chưa sạch đẹp. Hoạt động 2: Nêu tác hại của việc vứt rác và chất thải bừa bãi. Giáo viên cho học sinh nêu tác hại của việc vứt rác và chất thải bừa bãi ở nơi em sống. 3. Thực hành: Là vận dụng kinh nghiệm mới thu hoạch được vào giải quyết các tình huống giả định. Ví dụ : Với chủ đề: An toàn cho em – Bài : Phòng tránh bị bắt nạt. Phần thực hành giáo viên cho học sinh thực hành xử lý các tình huống bị bắt nạt bằng cách đóng vai. Cho các em tự đưa ra các tình huống, thảo luận cách xử lý tình huống, sau đó đóng vai. Các nhóm khác sẽ nhận xét và đưa ra phương án bổ sung cho nhóm bạn. Thông qua hình thức thực hành các em nhận ra được cái đúng, sai trong tình huống mà rút kinh nghiệm cho bản thân mình. 4. Vận dụng: Bước vận dụng được thực hiện như phần ví dụ họa ở trên lớp. Ví dụ: Với chủ đề : Chào năm học mới - Bài Làm quen với bạn mới. Vận dụng cách thức làm quen với bạn mới. Trước tiên các em phải hoạch định mình nên làm gì, làm thế nào em làm quen được bạn. Giáo viên nên cho các em tự chủ động trong các vai của mình không có định hướng, nhằm phát huy sự sáng tạo và tư duy trở thành những người lịch thiệp thông qua vai mình đóng. Khi các em đã sắm vào vai, giáo viên nên theo dõi, từ đó giáo viên hướng dẫn, giáo dục thêm cho các em cách nói và hành động của một người lịch thiệp có văn hóa khi muốn làm quen ai đó. Sau đó cho các em đánh giá làm quen với các bạn theo các mức độ: mặt cười, mĩm cười, mặt mếu. 2. Xây dựng các hình thức tổ chức, quy trình thực hiện: * Hình thức tổ chức: 5
- - Hình thức có tính khám phá: thực địa, thực tế, tham quan, dã ngoại, cắm trại,... - Hình thức có tính triển khai: dự án và nghiên cứu khoa học, sáng tạo khoa hoc kĩ thuật, hội thảo, câu lạc bộ, ... - Hình thức các hội thi, cuộc thi: thi viết, thi vẽ, thi tìm hiểu, đố vui, giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thiết kế thời trang, kể chuyện, chụp ảnh, thuyết trình, tạo video clip,... về một chủ đề nào đó - Hình thức có tính trình diễn: diễn đàn, giao lưu, sân khấu hóa, tổ chức trò chơi,... Ví dụ: Với chủ đề "An toàn khi vui chơi" - tuần 4, bài học đã giúp các em biết những hoạt động vui chơi an toàn và không an toàn, biết cách ứng xử phù hợp trong một số tình huống, hoàn cảnh quen thuộc để đảm bảo an toàn cho bản thân và những người xung quanh khi tham gia vui chơi trong một số trò chơi cụ thể. Thông qua việc xử lí các tình huống, tìm hiểu các hoạt động chơi, các em cũng có thêm kỹ năng tự điều chỉnh hành vi và tự bảo vệ bản thân, thể hiện cách ứng xử phù hợp khi tham gia vui chơi an toàn. - Hình thức có tính cống hiến, tuân thủ: thực hành lao động việc nhà, việc trường, lao động công ích, tổ chức sự kiện, hoạt động chiến dịch, hoạt động nhân đạo – hoạt động tình nguyện vì xã hội,...v..v.. - Trong họa động trải nghiệm dạy theo chủ đề lớp 1, các hình thức tổ chức được thiết kế ở mức đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1. Hoạt động trải nghiệm theo chủ đề lớp 1 là hoạt động hướng vào bản thân là hoạt động trọng tâm. * Quy trình thực hiện: Loại hình dạy học trải nghiệm theo chủ đề là loại hình hoạt động cơ bản nhất trong việc hình thành các phẩm chất và năng lực; các kỹ năng hay thói quen cần có. Hoạt động này thể hiện rõ nhất quy trình trải nghiệm cần phải thực hiện như: 1.Xác định chủ đề 2. Xác định mục tiêu: Nêu yêu cầu cần đạt sau khi học sinh tham gia các hoạt động chủ đề (yêu cầu này được lấy từ "yêu cầu cần đạt" của chương trình đã quy địnhvà được cụ thể hóa thành các chỉ số báo cáo) 3.Chuẩn bị: Chỉ ra những nguyên vật liệu mà giáo viên và học sinh cần chuẩn bị. 4.Tổ chức hoạt động: Khi tổ chức các hoạt động để đạt được các mục tiêu của chủ đề cần lưu ý thiết kế các nhóm hoạt động với các mục tiêu. Nhóm hoạt động thứ nhất: Hoạt động mang tính khám phá Nhóm hoạt động thứ 2: Hoạt động liên quan đến chiêm nghiệm, kết nối kinh nghiệm. Nhóm hoạt động thứ ba: Hoạt động rèn luyện kỹ năng. Nhóm hoạt động thứ 4: Họt động vận dụng/ mở rộng. Nhóm hoạt động thứ 5: Hoạt động đánh giá. 6
- 3. Tăng cường phát triển các năng lực cho học sinh: Qua loại hình hoạt động trải nghiệm theo chủ đề cho học sinh, cần phát triển các năng lực cho học sinh như: - Năng lực thích ứng với cuộc sống. - Năng lực tự nhận thức bản thân - Năng lực thể hiện cảm xúc. - Năng lực thiết kế và tổ chức các hoạt động - Năng lực ứng xử với bạn bè, người thân. - Năng lực chăm sóc bản thân. - Năng lực làm việc nhóm. - Năng lực tìm kiếm sự hỗ trợ. - Năng lực thích ứng với cuộc sống. Ví dụ: Năng lực thích ứng với cuộc sống - Chủ đề: Truyền thống trường em - Bài 5 "Thân thiện với bạn bè". Năng lực thích ứng khi học bài này các em sẽ rút ra được, là ở bất cứ môi trường nào, các em biết được những biểu hiện thân thiện với bạn bè và có những hành động thân thiện, hòa động với bạn thì chúng ta sẽ được các bạn yêu quý, chiếm được cảm tình của các bạn. Ví dụ: Năng lực thiết kế và tổ chức các hoạt động - Chủ đề: Truyền thống trường em - Bài: "Kính yêu thầy cô". Bước 1. Giúp học sinh xây dựng ý tưởng Ví dụ: Kết thúc hoạt động tháng 10, chuẩn bị cho hoạt động của tháng 11, giáo viên có thể gợi ý nhiều cách để học sinh xây dựng ý tưởng như sau: + Theo các em, tháng 11 có ngày lễ nào lớn nhất ? (20/11). Vậy các em có suy nghĩ gì về ngày đó ? Học sinh sẽ trả lời nhiều ý khác nhau. Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ hướng cho học sinh thực hiện một hoạt động có ý nghĩa để chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. Bước 2. Đối với học sinh lớp 1 giáo viên phải định hướng, hướng dẫn học sinh những công việc cần làm làm là gì ? Ở bước này, đối với học sinh lớp Một, giáo viên có thể gợi mở giúp học sinh kế hoạch. Như vậy, ngay từ hoạt động này, các em được bộc lộ nhiều khả năng: Ngôn ngữ, giao tiếp, phân tích, phán đoán, lắng nghe, cách trình bày, tổng hợp, tính toán Đó là cái đích mà giáo viên đang rất cần ở các em. Vì thế phát huy vài trò của học sinh từ bước 2 là quan trọng để các em làm tốt các bước tiếp theo. Bước 3. Trong quá trình học sinh thực hiện bước này, giáo viên cần theo dõi, giúp đỡ học sinh việc chuẩn bị thực sự phải an toàn về mọi mặt: Sức khỏe, tác phong, lời nói, ăn mặc, đồ dùng, dụng cụ, ...phục vụ cho hoạt động. Đặc biệt giáo viên có thể tập huấn, hướng dẫn cho các em các kĩ năng nền cần thiết: nói, phỏng vấn hoặc dự đoán tình huống nảy sinh khi thực hiện, cách giải quyết Bước 4. Học sinh tiến hành thực hiện công việc. Trong quá trình các em thực hiện, giáo viên cần giúp đỡ và theo dõi. GV cần quan tâm đến những tình huống nảy sinh và sự sáng tạo trong cách giải quyết của các em. Điều này giúp giáo viên có thể đánh giá đúng những phẩm chất năng lực của các em. 7
- Bước 5. Đây là bước cuối cùng của hoạt động, học sinh tự đánh giá lại quá trình hoạt động. Tổ chức cho học sinh bình chọn đánh giá quá trình hoạt động của bạn và bản thân mình. Ví dụ: Năng lực tìm kiếm sự hỗ trợ.Chủ đề: Truyền thống trường em - Bài: "Kính yêu thầy cô" có hoạt động làm thiệp tặng thầy cô .Trong quá trình thực hiện có một số công đoạn khó lúc đó các em biết chủ động tìm bạn hỗ trợ khi cần thiết. Tăng cường các năng lực trên của hoạt động trải nghiệm theo chủ đề sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. 4. Áp một số phương pháp được sử dụng khi tổ chức hoạt động trải nghiệm dạy học theo chủ đề: -Trò chơi: Truyền tải nội dung thông điệp của các hoạt động thông qua các trò chơi quen thuộc – điều này phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lớp 1. - Động não: Nhằm khai thác tối đa nhưng hiểu biết, kinh nghệm, cảm xúc của học sinh do trải nghiệm mang lại. - Thảo luận theo cặp: nhằm tạo cơ hội tối đa để học sinh rèn kĩ năng lắng nghe tích cực và kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, tư duy phản biện. ...đồng thời học sinh chia sẽ được những ý kiến về vấn đề đặt ra và chia sẽ cảm xúc của mình với bạn. - Thảo luận theo nhóm: Nhằm rèn tính trách nhiệm cá nhân, các kĩ năng lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ ý tưởng, thừa nhận ý tưởng hợp lý của bạn, kĩ năng quản lý thời gian, kĩ năng giải quyết bất đồng về quan điểm, kĩ năng giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong hợp tác nhóm ....trên cơ sở đó, phát triển năng lực hợp tác, đồng thời rèn kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề cho học sinh. - Sắm vai: nhằm rèn tính tự tin, kĩ năng thể hiện suy nghĩ, ý tưởng và kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề cho học sinh. - Thực hành: để học sinh rèn luyện, phát triển các kĩ năng qua thực hiện các công cụ thể. Ví dụ: thực hành vẽ, cứt, dán, xé,.....nhằm phát triển trí tửng tượng sáng tạo cho học sinh, đồng hời rèn cho học sinh cách thể hiện cảm xúc, ý tưởng của mình qua các biểu tượng, hình ảnh được thể hiện qua sản phẩm vẽ, cắt, dán, xé ...của các em. - Trải nghiệm thực tiễn: qua hoạt động thực hành, vận dụng, hội thi và nhằm phát triển năng lực, cảm xúc, giáo dục giá trị, phẩm chất cho học sinh qua các hoạt động. - Suy ngẫm: yêu cầu học sinh suy ngẫm xem mình đã thu hoạch được điều gì qua hoạt động. Ví dụ: Tiết chuyên đề cấp tỉnh dạy học theo chủ đề: Em biết yêu thương. Bài 4: Yêu thương con người. Tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp trên như sau: 1. Khởi động: Cho học sinh hát múa bài : Gia đình yêu thương - 2. Phần thực hành: Hoạt động 3: Xử lý tình huống - Quan sát kĩ 4 tranh trong sách giáo khoa để nhận rõ các tình huống trong tranh. 8
- - Thảo luận theo nhóm đôi về cách xử lý tình huống và lần lượt sắm vai các bạn trong tình huống thể hiện hành động yêu thương. - Gv mời 1 số nhóm đóng vai trước lớp, cả lớp theo dõi lắng nghe, tích cực học tập, nhận xét, góp ý.. - Gv phân tích chốt cách giải quyết phù hợp. - Đánh giá bình chọn nhóm thực hiện các hoạt động bằng thẻ. Hoạt động 4: Làm sản phẩm tặng người phụ nữ em yêu quý - Gv yêu cầu mỗi hs xác định sẽ làm sản phẩm tặng ai là người phụ nữ mà em yêu quý. - Giới thiệu 1 số sản phẩm để các em lựa chọn - Phát dụng cụ để làm cho hs - Chia sẽ những điều mà mình dành cho người phụ nữ mà mình yêu quý với bạn. 5. Xây dựng hình thức đánh giá: - Khâu đánh giá là khâu hết sức quan trọng tạo hứng thú và tạo nhiệt huyết cho các em khi tham gia trải nghiệm theo chủ đề, thúc đẩy quá trình trải nghiệm được hiệu quả hơn. Có 2 hình thức đánh giá : Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì. Giáo viên phải biết kết hợp các dữ liệu để đánh giá trong quá trình diễn ra hoạt động: - Thái độ, sự tham gia vào quá trình hoạt động của học sinh. - Cảm xúc của các em sau khi tham gia các hoạt động. - Kết quả thực hiện các nhiệm vụ/bài tập của hoạt động tiếp nối. - Kết quả đánh giá đồn đẳng (đánh giá lẫn nhau) của học sinh trong tổ/ nhóm. - Quan sát của giáo viên. - Ý kiến nhận xét của phụ huynh học sinh. III. Những điểm mới : Những điểm mới được thấy rõ trong quá trình thực nghiệm loại hình trải nghiệm theo chủ đề là: Đây là loại hình hoạt động mới được đưa vào chương trình. Nội dung các họat động của loại hình trải nghiệm theo chủ đề được thiết kế trên cơ sở những hiểu biết, kinh nghiệm học sinh đã thu nhận được qua các môn học như môn Tự nhiên và Xã hội, môn Đạo Đức, môn Âm Nhạc....và từ thực tiễn cuộc sống. Đặc biệt nhiều nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được lồng ghép vào nội dung giáo dục theo chủ đề như: Kĩ năng tự nhận thức bản thân, kĩ năng thể hiện cảm xúc, kĩ năng ứng xử với bạn bè, người thân, kĩ năng chăm sóc bản thân, kĩ năng thể hiện hành vi, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng khen và nhận lời khen, kĩ năng bảo vệ môi trường....do đó nếu thực hiện tốt các nội dung của Hoạt động trải nghiệm theo chủ đề sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Việc tổ chức thực hiện các nội dung đều theo chu trình học tập 4 bước: Khám phá - Kết nối - Thực hành - Vận dụng với nhiều phương pháp hấp dẫn như: trò chơi, kể chuyện, sắm vai, nêu gương, xử lý tình huống, học tập theo dự 9
- án ...trong mối hoạt động, giáo viên nắm vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, học sinh nắm vai trò là chủ thể của hoạt động và chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động để qua đó hoàn thành được các mục tiêu của hoạt động. IV. Tính thực tiễn của sáng kiến: Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhủ nhiệm lớp 1, qua khảo sát tình hình và thực tế được biết đa số các em khi mới vào học đang còn sự bảo bọc của bố mẹ, các em còn nhỏ, phụ huynh nuông chiều con nên khi đến lớp các em rất sợ sệt không muốn đi học, không muốn rời xa bố mẹ. Nhìn các bạn ai cũng xa lạ, rất nhiều em thiếu tự tin khi tham gia các hoạt động cùng với bạn, các em thu mình trong sự rụt rè, thiếu tự tin. Khi tham gia các hoạt không các em không tự chủ, hoạt bát, cô giao gì làm đó, đến lớp uể oải không muốn tham gia hoạt động với bạn. Qua 1 năm tổ chức hoạt động trải nghiệm theo loại hình chủ đề, kết hợp với các biện pháp đề ra của bản thân tôi thấy có sự chuyển biến rõ rệt trong học sinh như: Về học sinh: Các em đã biết tự chăm sóc bản thân, biết cách làm quen với bạn mới. Biết thực hiện những việc nên làm hay không nên làm trong giờ học giờ chơi: kĩ năng kiên định, từ chối thực hiện những việc nên làm trong giờ học, giờ chơi của bản thân. Tự tin khi giao tiếp với bạn bè, thầy cô, tự tin khi trình bày hay giải quyết vấn đề. Đưa ra được cách ứng xử đúng và đẹp trong 1 số tình huống (biết nói lời hay, ứng xử có ý nghĩa với bạn bè, thầy cô, người thân và những người xug quanh). Biết được những việc làm giúp đỡ gia đình bạn bè, thầy cô và những người gặp khó khăn, thực hiện được “Nói lời hay làm việc tốt” ở mọi nơi. Thực hiện được lời nói, việc làm thể hiện tình yêu thương với người thân trong gia đình phù hợp với lứa tuổi. Biết cảm thông chia sẽ giúp đỡ bạn có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, hình thành phẩm chất nhân ái. Thói quen tiết kiệm, tôn trọng bạn bè, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm để hoàn thành công việc chung. Về giáo viên: Trong qua trình giảng dạy bản thân thấy có nhiều tác động rõ rệt về nhận thức. Là người giáo viên không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà còn là người hướng dẫn, huấn luyện viên tổ chức lớp học. Qua những buổi áp dụng thực tế vào giảng dạy giúp tôi thấy mình luôn yêu và tâm huyết với nghề hơn. Có những cảm xúc, những điều mới mẻ trong giảng dạy mà chỉ bằng việc dạy học gắn liền với cuộc sống mới có được. Trong năm học 2020-2021 bản thân tự phấn đấu nổ lực, được nhà trường tín nhiệm giao cho thực hiện chuyên đề cấp tỉnh về mô hình dạy học trải nghiệm theo chủ đề lớp 1 đạt hiệu quả và có tính ứng dụng cao. V. Tính hiệu quả của sáng kiến: 10
- Qua quá trình thực hiện loại hình hoạt động trải nghiệm theo chủ đề này đa số các em đã phát triển được năng lực phẩm chất theo mục tiêu đề ra của chương trình. Sau môt thời gian thực hiện kết quả thu được như sau: ĐẦU NĂM NỘI DUNG ĐIỀU SĨ STT TỐT ĐẠT CẦN CỐ GẮNG TRA SỐ SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) 1 Kỹ năng hợp tác 34 8 23,5 14 41,2 12 35,3 với thầy cô và các bạn 2 Kỹ năng chăm 34 7 20,6 13 38,2 14 41,2 sóc bản thân 3 Kỹ năng ứng xử 34 6 17,6 15 44,1 13 38,2 với bạn bè với người thân. CUỐI NĂM NỘI DUNG ĐIỀU SĨ CẦN CỐ GẮNG STT TỐT ĐẠT TRA SỐ TL( SL TL(%) SL SL TL(%) %) 1 Kỹ năng hợp tác 34 18 52.9 16 47,1 0 14,7 với thầy cô và các bạn 2 Kỹ năng chăm 34 23 67,6 11 32,4 0 sóc bản thân 3 Kỹ năng ứng xử 34 32 94,1 2 5,9 0 với bạn bè với người thân. C. KẾT LUẬN 1.Kết luận: Sáng kiến này đã tập trung đi sâu vào các vấn đề: Bồi dưỡng và phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh thông qua loại hình Hoạt động trải nghiệm theo chủ đề. Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, hoạt động trải nghiệm là các hoạt động giáo dục có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường nhằm phát triển, nâng cao các tố chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, đồng thời quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh. Các em được tham gia vào tất cả các khâu của quá trình học tập, từ khâu nhận đề tài, chuẩn bị, thực hành và đánh giá kết quả. Các em cũng tự rút ra thêm những kinh nghiệm cho bản thân, có thêm động lực để học hỏi, phát triển bản thân mình. Qua thời gian nghiên cứu và nhận được kết quả , sáng kiến này có ý nghĩa rất lớn đối với chính bản thân, gia đình, thầy cô và học sinh. 11
- Qua thực tế dạy học, tôi thấy lớp tôi chủ nhiệm có tiến bộ rõ rệt về kĩ năng giao tiếp, hợp tác nhóm, các em mạnh dạn tự tin trao đôi ý kiến với thầy cô, bạn bè. Chủ động tốt trong các hoạt động, đạt kết quả cao trong học tập. Phụ huynh tin tưởng hơn về kết quả trong quá trình học tập của các con như: Giúp các em được trải nghiệm thiên nhiên, trải nghiệm giá trị văn hóa: Thông qua những buổi học về môi trường, buổi học lịch sử tại bảo tàng, các em được vun đắp thêm tình yêu đối với thiên nhiên, yêu hơn những giá trị văn hóa ngàn năm văn hiến của dân tộc ta; tiếp thu, học hỏi những nét đẹp văn hóa của các nước trên thế giới. Các em thường xuyên được rèn luyện kỹ năng làm việc như: Làm việc nhóm, lập kế hoạch, quản lý tiến độ công việc, phân công công việc Thông qua những buổi học trải nghiệm và thực tế các em còn được học hỏi, phát huy giá trị của bản thân, biết tôn trọng, lắng nghe, có tinh thần trách nhiệm, dũng cảm và cầu thị. Luôn hào hứng khi thấy được thành quả của mình. Giúp giáo viên luôn cảm thấy hứng thú và tâm huyết với sự nghiệp trồng người: Áp dụng việc dạy học qua trải nghiệm và thực tế, vai trò người thầy lúc này không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà còn là người hướng dẫn, huấn luyện viên tổ chức lớp học. Qua những buổi áp dụng thực tế vào giảng dạy giúp tôi thấy mình luôn yêu và tâm huyết với nghề hơn. Có những cảm xúc, những điều mới mẻ trong giảng dạy mà chỉ bằng việc dạy học gắn liền với cuộc sống mới có được. Giúp giáo viên hiểu học sinh nhiều hơn: Trong quá trình giảng dạy, các thầy cô có cơ hội tương tác với các em nhiều hơn. Biết được điểm mạnh, điểm yếu của các em để giúp các em phát huy điểm mạnh, có ngay phương án khắc phục điểm yếu của các em. Rất nhiều bạn trên lớp thường nhút nhát, chưa mạnh dạn tham gia vào giờ học, nhưng áp dụng những bài giảng thông qua trải nghiệm thực tế thì các em lại tỏ ra rất hào hứng, tự tin, thể hiện bản thân. Điều này giúp cho chúng tôi nhận ra rằng; dù ở khía cạnh nào thì mỗi em cũng sẽ có điểm mạnh cho riêng mình. Các em đều cần được ghi nhận. Giúp ba mẹ và các con hiểu nhau hơn: với cách dạy và học như vậy phụ huynh dễ dàng nhận thấy mức độ tiến bộ trong hiểu biết của con: thông qua thực tiễn cuộc sống hàng ngày, các phụ huynh nhận thấy ngay được sự tiến bộ của con mình thông qua kết quả, trải nghiệm, những thí nghiệm con làm, báo cáo thành quả của con đã đạt được thông qua mỗi bài hoc. Ba mẹ có thể tìm hiểu và áp dụng giảng dạy cho con tại nhà như cách quan sát mọi vật xung quanh, đưa ra phương án giải quyết vấn đề như vậy các con thấy được ba mẹ tin tưởng hơn và tôn trọng ý kiến của mình. Điều này giúp con cái tự tin hơn, luôn thấy được sự tin tưởng của bố mẹ dành cho mình. 2. Các đề xuất và kiến nghị: Đối với nhà trường: Bổ sung thêm đồ dùng học tập phục vụ cho việc tổ chức hoạt động trải nghiệm lớp của 2 điểm trường. Đối với phòng giáo dục: 12
- Triển khai nhiều chuyên đề trải nghiệm theo loại hình hoạt động trải nghiệm theo chủ đề giúp giáo viên có nhiều kênh thông tin và kinh nghiệm trong quá trình tổ chức hoạt động. Trên đây là sáng kiến nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm thông qua loại hình trải nghiệm dạy học theo chủ đề trong chương trình giáo dục phổ thông mới.Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, đồng nghiệp. Tôi xin trân trọng cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Cam Lộ, ngày 10 tháng 5 năm 2021 ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Nguyễn Thị Thu Hiền 13
- MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 14

