SKKN Một số biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Tự nhiên và xã hội Lớp 1 - Nguyễn Thị Hiếu
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Tự nhiên và xã hội Lớp 1 - Nguyễn Thị Hiếu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_day_hoc_theo_huong_phat_trien_nang_luc.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Tự nhiên và xã hội Lớp 1 - Nguyễn Thị Hiếu
- MỤC LỤC Thứ tự Nội dung Trang PHẦN I. MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài 2 PHẦN II. NỘI DUNG 1 Đánh giá thực trạng 2,3 2 Trình bày biện pháp 3,4,5,6,7,8 PHẦN III. HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TRONG THỰC TẾ DẠY HỌC Đánh giá tác động của biện pháp 8,9 PHẦN IV. KẾT LUẬN 1 Ý nghĩa của biện pháp 9 2 Kiến nghị, đề xuất: 9,10
- 2 PHẦN I. MỞ ĐẦU Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết 88/2014- QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông đều nhấn mạnh mục tiêu đổi mới giáo dục lần này là chuyển một nền giáo dục về trang bị kiến thức sang một nền giáo dục phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực của người học. Nói cách khác, nếu như chương trình hiện hành và các chương trình khác trước đây theo định hướng trang bị kiến thức, trả lời cho câu hỏi: “Học xong chương trình này, học sinh biết được những gì?” thì chương trình năm 2018 trả lời cho câu hỏi: “ Học xong chương trình này, học sinh làm được những gì?” Chương trình lần này được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực, nghĩa là cả hoạt động dạy học các môn học lẫn các hoạt động giáo dục trong nhà trường đều phải tận dụng mọi cơ hội cho học sinh trải nghiệm, sáng tạo. Điểm khác biệt cơ bản của dạy học theo định hướng nội dung chủ yếu đạt đến hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ cho người học còn dạy học phát triển năng lực hướng đến hình thành phẩm chất và năng lực giải quyết các vấn đề áp dụng vào thực tiễn. Lực lượng giáo dục nói chung và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy nói riêng là người chèo lái con đường tri thức đến cho học sinh, sẽ là những người tự đổi mới, tự sáng tạo để đưa nền giáo dục đi đúng định hướng của đổi mới. Bản thân tôi nhận thức được rằng đối với giáo viên, quan trọng là việc thay đổi nhận thức, mỗi giáo viên phải nắm vững những nguyên tắc, định hướng chung về việc dạy học, nhất định phải chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức là chủ yếu sang dạy học phát triển phẩm chất năng lực học sinh. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, các môn học được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Thông qua hoạt động học, hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy năng lực cho HS. Để nâng cao chất lượng dạy học tôi đã sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, hôm nay tôi xin được trình bày: “Một số biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1” tại lớp 1A1 do tôi chủ nhiệm trong năm học 2020-2021. PHẦN II. NỘI DUNG 1. Đánh giá thực trạng 1.1. Thuận lợi - Giáo viên có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, nhiệt tình tâm huyết với nghề. - Trang thiết bị dạy học được đầu tư.
- 3 - Các môn học trong CTGD PT 2018 đều được xây dựng theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học. - Giáo viên được tham gia tập huấn và trao đổi trong các buổi sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học. - Học sinh ngoan, tiếp thu bài nhanh. 1.2. Khó khăn - Giáo viên còn lúng túng khi thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. - Trong tiết dạy đôi lúc vẫn quan tâm vào việc học sinh đã nắm được bài chưa hơn là quan tâm đến thái độ học tập cũng như cảm nhận về bài học và suy nghĩ của các em. - HS lớp 1 còn bỡ ngỡ, chưa quen với các hoạt động học tập. 2. Các biện pháp thực hiện 2.1 Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực, xây dựng bài học hiệu quả Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 là chương trình được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực người học. Ngoài việc xây dựng và phát triển năng lực chung được quy định trong chương trình như năng lực giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo; tự chủ và tự học vừa có nhiệm vụ phát triển năng lực đặc thù của môn học là năng lực khoa học (Năng lực nhận thức khoa học; Năng lực tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh; Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học). Qua hoạt động học nhằm giúp hình thành phát triển năng lực của học sinh thì người GV phải lập kế hoạch, tổ chức giờ học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh. Cụ thể: 2.1.1. Xây dựng mục tiêu bài học Xây dựng mục tiêu bài học dựa trên yêu cầu cần đạt của bài học. Khi thiết kế mục tiêu bài học theo định hướng phát triển, phẩm chất năng lực cần: - Nêu rõ yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng. - Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hóa được. - Mục tiêu phải phù hợp với đối tượng học sinh (trình độ hiện có của học sinh). Ví dụ: Khi xây dựng mục tiêu bài “Đồ dùng trong nhà” tôi xác định: Sau bài học, hình thành ở HS những năng lực, phẩm chất sau: * Năng lực: - Đặt một số câu hỏi tìm hiểu về đồ dùng, thiết bị trong nhà (năng lực giao tiếp với bạn). - Nêu được công dụng, cách bảo quản một số đồ dùng và thiết bị đơn giản trong nhà (năng lực nhận thức khoa học). - Làm được một số việc phù hợp để giữ gìn, bảo vệ những đồ dùng, thiết bị trong nhà (vận dụng kiến thức kĩ năng đã học). - Nói được những việc làm cần thiết để giữ gìn nhà của gọn gàng, sạch sẽ. * Phẩm chất - Có ý thức giữ gìn nhà cửa sạch đẹp, yêu lao động và tôn trọng thành quả lao động của mọi người (phẩm chất chăm chỉ)
- 4 2.1.2. Lựa chọn các phương tiện dạy học phù hợp: + GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, vật thật.), các phương tiện dạy học (máy chiếu, TV, máy tính,..) và tài liệu dạy học cần thiết (sử dụng các trang giáo án điện tử, Hành trang số, các clip vui nhộn phù hợp với nội dung bài học, ứng dụng CNTT vào dạy học ) + Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (chuẩn bị tranh ảnh sưu tầm, xây dựng các sản phẩm học tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết). 2.1.3. Về tổ chức các hoạt động dạy học. Khi tổ chức các hoạt động dạy học, cần lưu ý các hoạt động dạy - học cụ thể, trong đó bao gồm các hoạt động: Khởi động, Khám phá, Thực hành, Vận dụng, Hoạt động tiếp nối. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ: - Tên hoạt động - Mục tiêu hoạt động - Cách tiến hành hoạt động Trong từng hoạt động, tôi lựa chọn các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS như: Phương pháp quan sát, Phương pháp thảo luận nhóm, Phương pháp trò chơi học tập, Phương pháp đóng vai, Phương pháp động não, và các hình thức dạy học, phát huy tối đa hoạt động nhóm như: nhóm đôi, nhóm ba, nhóm bốn, để vừa phát huy tính sáng tạo độc lập cũng như phát huy tính tương trợ lẫn nhau để em khá, giỏi giúp đỡ em yếu và cùng nhau hoàn thành mục tiêu bài học và hướng đến phát huy sở trường của học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài An toàn khi sử dụng đồ dùng trong gia đình Hoạt động 1: Khám phá Mục tiêu: Phát hiện một số đồ dùng, thiết bị nếu không sử dụng cẩn thận có thể làm bản thân hoặc người khác gặp nguy hiểm * Sử dụng Kĩ thuật động não - Yêu cầu HS kể tên một số đồ dùng, thiết bị nếu không sử dụng cẩn thận có thể làm bản thân hoặc người khác gặp nguy hiểm. - Ghi nhanh các ý kiến của HS. * Kết thúc giai đoạn động não, với sự hỗ trợ của GV, HS sắp xếp các đồ dùng, thiết bị trong nhà và phân loại chúng thành các nhóm. Ví dụ: + Những đồ dùng có thể gây đứt tay. + Những thứ có thể gây bỏng. + Những đồ dùng thiết bị có thể gây điện giật. Hoạt động 2: Thực hành Mục tiêu: HS biết được trong trường hợp nào, những đồ dùng, thiết bị trong nhà có thể gây nguy hiểm * GV chia lớp thành những nhóm nhỏ, phát cho mỗi nhóm 1 bộ tranh và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm. Ví dụ: + Nhóm 1: Tìm trong bộ tranh, những đồ dùng thiết bị nào gây đứt tay và giải thích rõ trong trường hợp nào người sử dụng có thể bị đứt tay. + Nhóm 2: Tìm trong bộ tranh, những đồ dùng thiết bị nào gây bỏng và giải thích rõ trong trường hợp nào người sử dụng có thể bị bỏng. + Nhóm 3: Tìm trong bộ tranh, những đồ dùng thiết bị nào gây điện giật và giải thích rõ trong trường hợp nào người sử dụng có thể bị điện giật.
- 5 Trong khi các nhóm làm việc, GV có thể đi đến quan sát, lắng nghe các nhóm thảo luận, nếu cần có thể đưa ra gợi ý: Li thủy tinh dùng để uống nước, nhưng nếu không cẩn thận để li rơi và vỡ, nếu không thu dọn đúng cách mảnh thủy tinh sẽ làm đứt tay hoặc chân khi giẫm phải, Sau khi học sinh nhận biết được những đồ dùng, nếu sử dụng không cẩn thận có thể gây đứt tay, gây bỏng hay điện giật, tôi hướng dẫn các em sử dụng đồ dùng này đúng cách và tự tin khi sử dụng. Ngoài ra, một hoạt động thiết thực với học sinh đó là Hoạt động kết nối. Tôi thiết kế hoạt động tiếp nối để xác định xác định những việc HS cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học, khắc sâu, mở rộng bài học và ứng dụng kết quả vào thực tế cuộc sống. Ví dụ: Hoạt động tiếp nối của bài An toàn khi sử dụng đồ dùng trong nhà là gợi ý cho học sinh cùng bố mẹ mua một số đồ dùng y tế như bông, băng,... cách sử dụng băng tay cá nhân để băng bó vết thương, ghi số điện thoạn đường dây nóng để gọi điện khi cần 2.2 Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động học tập, tạo môi trường cho HS tương tác, khám phá, thực hành trong lớp học Năng lực chỉ được hình thành, phát triển trong các hoạt động học tập. Môn TNXH gắn kết với thực tế cuộc sống, với tự nhiên. Vì thế, sau mỗi bài học các em phải có được kĩ năng thực sự và cách bảo vệ bản thân, về hiểu biết thế giới xung quanh hay các mối quan hệ trong cộng đồng. Do đó việc tạo môi trường cho HS tương tác, khám phá, thực hành trong lớp học giúp các em phát huy năng lực sở trường và tạo điều kiện phát triển bản thân. 2.2.1. Phát triển năng lực cho học sinh qua các hoạt động dạy-học. Trong mỗi bài học, cần tổ chức các hoạt động tích cực có hiệu quả để tăng cường sự tham gia của học sinh vào quá trình học tập. Các hoạt động trong mỗi đơn vị bài học được xây dựng theo mô hình nhận biết, khám phá, thực hành và vận dụng tức là xây dựng quá trình tiếp thu của các em đi từ chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng của bài học để từ đó phát triển phẩm chất, năng lực cần đạt sau mỗi hoạt động, sau bài học. Ví dụ: Lớp học của em (tiết 2) Hoạt động Khám phá Mục tiêu: HS nói được nhiệm vụ của GV, HS trong lớp học và mối quan hệ giữa GV với HS, giữa các HS với nhau. Bước 1: GV hướng dẫn HS quan sát hình trong SGK rồi thảo luận cặp đôi để trả lời câu hỏi gợi ý: + Tranh vẽ gì? + Trong lớp có những ai? + Nhiệm vụ của từng thành viên là gì? Qua bước 1 này học sinh biết cách quan sát và hiểu được nội dung của hình, hoạt động dạy của cô giáo, hoạt động học của học sinh và mối quan hệ giữa các bạn học sinh với nhau. - Bước 2: Đại diện các nhóm trình bày. + GV hướng dẫn HS nêu nhiệm vụ của từng thành viên trong lớp học.
- 6 + Các nhóm trao đổi, nhận xét để từ đó rút ra được kết luận nhiệm vụ của từng thành viên trong lớp học: GV hướng dẫn HS học tập, HS tham gia các hoạt động theo sự hướng dẫn của GV để khám phá kiến thức mới và HS biết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Qua bước 2 HS biết cách trao đổi, tương tác để nhận ra được nhiệm vụ của GV, HS trong lớp học (năng lực giao tiếp, hợp tác). - Bước 3 Liên hệ + HS liên hệ với lớp mình để thấy điểm khác nhau, giống nhau và kể được những điểm khác và giống nhau đó. + HS kể được những việc làm tốt trong học tập cũng như trong giúp đỡ bạn bè. Bước này HS liên hệ để khám phá mối quan hệ của HS với nhau. - Bước 4 Vận dụng Ngoài hoạt động kể về nhiệm vụ của các thành viên trong lớp học và tính đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau của các bạn trong lớp, tôi còn hướng các em đến kể các việc làm, hoạt động hợp tác, hỗ trợ thầy cô trong quá trình dạy học. Tôi nhận thấy sự ngỡ ngàng của các em vì chắc trong suy nghĩ của học sinh chỉ giúp đỡ bạn bè, bố mẹ, tuy vậy các em vẫn tập trung suy nghĩ và lần lượt kể ra được: em phải tích cực học, em phải luyện chữ, em phải trao đổi với bạn trong làm việc nhóm, em phải chuẩn bị màu vẽ trong giờ Mĩ thuật, em phải ôn lại động tác trong môn Giáo dục thể chất. - GV kết luận: Trong hoạt động dạy của thầy, cô và hoạt động học của các em đều cần có sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Theo cách làm của tôi, GV phải có kết luận về kiến thức, kĩ năng và thái độ HS cần có sau hoạt động. Từ đó các em rút ra ý kiến của bản thân mình, suy nghĩ của bản thân mình cũng như hiểu biết để so sánh xem là mình nói đã đúng chưa và gần đúng ở mức độ nào so với kết luận của thầy, cô giáo. Khi HS có các nội dung chưa đúng, chưa đủ thì GV hướng dẫn cho các em hiểu và sửa chữa những sai sót thường gặp. Từ đây, học sinh tự lập kế hoạch tự học để điều chỉnh hành vi của bản thân. (hình thành năng lực tự học và tự chủ). Khi HS hoạt động tôi thường quan sát học sinh làm việc một cách cụ thể (nhìn được, nghe được các nhóm thảo luận gì, câu trả lời, các lời đánh giá của nhóm khác và phản biện của nhóm về đánh giá của nhóm bạn). Khuyến khích các em diễn đạt câu trả lời lưu loát, rõ ràng. Trong quá trình học sinh tham gia các hoạt động học tâp, tôi kết hợp theo dõi, đánh giá thường xuyên kết quả học tập của các em. Kịp thời khen ngợi, động viên kết quả học tập tốt của các em, chỉ ra những điểm cần khắc phục bằng những lời nhắc nhở nhẹ nhàng kèm theo lời động viên về thái độ học tập hay khen về sự hăng hái, sôi nổi xây dựng bài của các em. Từ đó, bản thân tôi có thể theo dõi sự tiến bộ của HS và cải tiến phương pháp dạy học trên lớp của bản thân. Tôi nhận thấy: Nếu đánh giá kịp thời, đúng mức có thể động viên và giúp học sinh có động cơ, hứng thú học tập môn học. Từ cách làm trên, tôi nhận ra được rằng muốn phát triển năng lực học tập
- 7 cho các em, chúng ta phải tổ chức cho các em tham gia tích cực vào từng hoạt động, chuỗi hoạt động và luôn có sự đồng hành của GV để quá trình hình thành và phát triển năng lực của các em hoàn chỉnh hơn. 2.2.2 . Tạo cảm giác thoải mái, hứng thú trong học tập cho học sinh cũng như dạy học gắn với thực tế cuộc sống của các em. Trong khi tổ chức hoạt động luôn tạo không khí thoải mái trong giờ học. Tôi hướng dẫn học sinh biết cách lắng nghe chia sẻ của các bạn. Luôn tạo sự thân thiện với các em để các em thấy được sự tin tưởng, sự tôn trọng để phát huy được sở trường của bản thân tốt hơn. Sau khi các em tự chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng cơ bản của bài học, tôi thường hướng dẫn các em vận dụng vào chính thực tế cuộc sống của các em bằng nhiều hình thức như tư vấn, tuyên truyền bằng clip vui nhộn,... khiến các em thấy mình cũng sẽ làm được ngay những điều đã học, tránh được ngay những rủi ro mà mình có thể gặp phải,... Ví dụ: Khi dạy bài Ôn tập chủ đề Trường học (Tiết 2), trong hoạt động 2 Hoạt động vận dụng, tôi tiến hành tổ chức như sau: * Mục tiêu: Giúp HS biết cách xử lí tình huống và thể hiện được cách ứng xử phù hợp với tình huống đó. * Cách tiến hành: - HS quan sát 3 tình huống trong SGK - Yêu cầu HS thảo luận về nội dung theo câu hỏi gợi ý của GV: + Nhìn vào hình một bạn HS bị ngã trong khi những bạn khác chỉ đứng nhìn vẻ sợ hãi, nếu là em, em có hành động gì? + Nhìn vào hình bạn HS vứt rác bừa bãi, em có làm như bạn không? + Em sẽ nhắc nhở bạn như thế nào? + Nhìn vào hình nhóm HS nghịch ngợm, lãng phí nước, em thấy các bạn làm như thế có đúng không? + Em sẽ nhắc nhở các bạn như thế nào? - GV tổ chức HS làm việc theo nhóm, nhận xét về đóng vai nêu cách ứng xử trong từng tình huống, + Sau mỗi tình huống GV tổ chức cho HS liên hệ: Tình huống 1: Theo em, nguyên nhân gây ra việc các em bị ngã khi tham gia hoạt động ở trường: + Chạy nhanh, vấp ngã + Các bạn mải chơi xô đẩy lẫn nhau. + Trơn trượt + Hiện nay, trong khuôn viên trường đang có công trình xây nhà vệ sinh, các em vui chơi tránh xa khu vực này để khỏi bị nguy hiểm. GV liên hệ để HS biết cách tự bảo vệ bản thân: Em chơi cẩn thận, không chen lấn, xô đẩy trong khi chơi, không đến chơi tại những nơi không an toàn. Tình huống 2: HS liên hệ được: - Làm xấu cảnh quan của nhà trường. - Tập thói quen giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. - Cho HS xem clip thông điệp tuyên truyền.
- 8 GV kết luận: Khi tham gia các hoạt động ngoài lớp học, cũng như hoạt động vui chơi ở trường học các em phải chơi sao cho đúng và an toàn. Ngoài ra chúng ta còn phải biết cách phòng tránh và xử trí khi gặp sự cố xảy ra. Như vậy, sau giờ học các em biết cách vui chơi an toàn ở trường, cũng như biết nhắc nhở các bạn khác an toàn khi chơi. Học sinh phải nhận ra được các em phải thực hiện được nội dung: “ Bây giờ em có thể: Biết cách vui chơi an toàn ở trường.” được đóng khung ở cuối bài. Ngoài ra, để tạo cảm giác thoải mái, hứng thú trong học tập cho học sinh, tôi thường thiết kế các trò chơi học tập để các em có thể tiếp thu và thực hành nội dung bài học tốt hơn. Tôi thường tổ chức các trò chơi trong các hoạt động học tập như: Hái táo, Vượt chướng ngại vật, Đố bạn, Ô cửa bí mật, Mảnh ghép sắc màu,... Như vậy, đứng trước thách thức đổi mới sáng tạo trong dạy học, mỗi chúng ta phải tự “đốt cháy” mình để tạo sáng cho học sinh. Người thầy thành công không chỉ là người thầy biết truyền thụ tri thức mà còn biết khơi nguồn sáng tạo, biết truyền cảm hứng, biết gợi dậy sự tò mò... để người học tự tìm tòi mọi vấn đề và tự khám phá năng lực bên trong của mình. 2.3. Biện pháp 3: Tạo thói quen làm việc theo nhóm Học sinh lớp 1 còn bỡ ngỡ trong việc học, trong cách suy nghĩ cũng như thiếu chú ý trong giờ học nên tôi luôn chú trọng phát huy trí tò mò khoa học để hướng các em đến với bài học một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, hướng đến sự phát triển các mối quan hệ tích cực của học sinh với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh thông qua các hoạt động theo nhóm. Ngay từ đầu năm, trong các tiết dạy tôi đã hướng dẫn học sinh cách chia nhóm, chỉ dẫn cho học sinh biết vai trò, công việc của từng em trong nhóm một cách rõ ràng, cặn kẽ, chi tiết, tỉ mỉ. Có như vậy các nhóm mới hoạt động tốt. Cụ thể tôi đã thực hiện: + Chia nhóm + Đặt tên nhóm. Ví dụ: nhóm Vành Khuyên, nhóm Sơn Ca, nhóm Hải Âu, nhóm Vàng Anh, nhóm Chích Bông, nhóm Họa Mi,... + Tập cho các em năng lực điều hành, quyết định vấn đề khi được cử làm nhóm trưởng. + Tập cho các em cách thảo luận, trao đổi và trình bày kết quả. + Cách trình bày thuyết phục, phản biện,... + Cách đánh giá hoạt động của nhóm mình, nhóm bạn. Như vậy việc tổ chức các hoạt động theo nhóm đôi, nhóm ba, nhóm bốn, vừa phát huy tính sáng tạo độc lập cũng như phát huy tính tương trợ lẫn nhau để em khá, giỏi giúp đỡ em yếu để cùng nhau hoàn thành mục tiêu bài học và hướng đến phát huy sở trường của học sinh. Điều đó làm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cũng như việc phối hợp với các bạn khác. PHẦN III. HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CỦA VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TRONG THỰC TẾ DẠY HỌC Bằng những biện pháp cụ thể đã áp dụng như vừa nêu trên, sau một 4 tháng áp dụng, với sự nỗ lực không ngừng của giáo viên và học sinh, tôi thấy năng lực chung và năng lực học tập môn Tự nhiên và Xã hội của học sinh đã được chuyển biến rõ rệt. Học sinh yêu thích môn Tự nhiên và Xã hội hơn, hầu hết các em đều
- 9 rất hào hứng tham gia vào các tiết học, chăm chú lắng nghe cô giáo giảng bài và tích cực tham gia các hoạt động. Nhiều em biết vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào cuộc sống hằng ngày. Điều này có thể thấy rõ với bảng số liệu sau: 1. Đánh giá mức độ tích cực, hứng thú trong việc học tập môn Tự nhiên và Xã hội: TS Rất Không Tích cực Bình thường HS tích cực quan tâm Đầu năm học 30 5/30 10/30 11/30 4/30 Sau khi áp 30 12/30 9/30 8/30 1/30 dụng biện pháp 2. Đánh giá sự yêu thích môn học: TS Rất Không Tích cực Bình thường HS tích cực quan tâm Đầu năm học 30 7/30 8/30 9/30 6/30 Sau khi áp 30 16/30 9/30 5/30 0 dụng biện pháp PHẦN IV. KẾT LUẬN 1. Ý nghĩa của biện pháp Khi thực hiện biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tôi nhận thấy: 1.1. Đối với học sinh: - Truyền được cảm hứng học tập cho học sinh. - Biện pháp này đã thể hiện được rõ nét việc dạy học phát huy năng lực học sinh trong môn TN và XH lớp 1 1.2. Đối với giáo viên: - Đổi mới cách dạy, cách học một cách rõ nét. - Giáo viên năng động, linh hoạt hơn trong dạy học, áp dụng hiệu quả tính mở, tính linh hoạt, hiện đại mà vẫn vừa sức của chương trình. 1.3 Biện pháp còn thể hiện sự nổ lực, quyết tâm của chuyên môn và giáo viên trong việc tiếp cận dạy học theo chương trình SGK mới. 1.4 Ngoài ra biện pháp còn thể hiện tính phát triển, tiếp nối để đạt được trong thời gian lâu dài. - Các biện pháp đã nghiên cứu và thực hiện một cách bài bản, khoa học. - Nghiên cứu bổ sung để thực hiện dạy học môn TN&XH cũng như các môn học khác đối với học sinh lớp 1 và phát triển lên các lớp cao hơn (lớp 2, 3, 4, 5). 2. Kiến nghị, đề xuất: - Các cơ sở giáo dục, ngành giáo dục tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiệm dạy học. - Có sự kết nối với các chuyên gia để giáo viên có thể nhận được sự hỗ trợ tích cực trong đổi mới dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực.
- 10 - Quan tâm đầu tư về Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện đại để đáp ứng với xu đổi mới giáo dục hiện nay. Trên đây là một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác giảng dạy của tôi. Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng chắc rằng vẫn còn nhiều thiếu sót. Kính mong sự góp ý của các cấp, các đồng chí đồng nghiệp để tôi nâng cao hơn nữa công tác giảng dạy lớp của mình trong năm học 2020 - 2021. Tôi xin chân thành cảm ơn! Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Cam Lộ, ngày 25 tháng 12 năm 2020 Người báo cáo Nguyễn Thị Hiếu Hồ Thị Hải Thanh

