SKKN Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn Lịch sử Lớp 4 - Nguyễn Thị Mỹ Lan
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn Lịch sử Lớp 4 - Nguyễn Thị Mỹ Lan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_day_hoc_theo_dinh_huong_phat_trien_pha.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn Lịch sử Lớp 4 - Nguyễn Thị Mỹ Lan
- MỤC LỤC PHẦN 1. MỞ ĐẦU .................................................................................................... 2 PHẦN 2. NỘI DUNG ................................................................................................. 2 I.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: ...................................................................................... 2 1. Đặc điểm chung của trường, của lớp. ................................................................... 2 2. Thực trạng dạy học môn Lịch sử lớp 4 theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực ở trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ. .......................................................... 3 II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: ....................................................................... 4 *Biện pháp 1. Phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh trong kĩ năng đọc và phân tích tư liệu:.......................................................................................................... 5 *Biện pháp 2. Phát triển năng lực của học sinh trong kĩ năng quan sát và kể lại, trình bày lại diễn biến cuộc kháng chiến qua bản đồ, lược đồ. ............................................. 7 *Biện pháp 3. Hình thành phẩm chất, năng lực trong kỹ năng lập sơ đồ tư duy: .......... 8 *Biện pháp 4. Phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh qua sử dụng phương pháp giao nhiệm vụ. ............................................................................................................. 9 * Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phân môn Lịch sử. ....... 10 *Biện pháp 6. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm. .................................................... 11 *Biện pháp 7. Dạy học kết hợp với đánh giá thường xuyên theo thông tư 22 ............. 13 PHẦN 3. KẾT LUẬN .............................................................................................. 16 I. KẾT LUẬN ........................................................................................................... 16 II. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: .................................................................................... 16 1. Đối với giáo viên: ................................................................................................. 16 2. Đối với nhà trường: ............................................................................................. 16 MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA ........................................................................ 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 21
- BIỆN PHÁP “Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn Lịch sử lớp 4” PHẦN 1. MỞ ĐẦU Thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tào, nhiệm vụ trọng tâm của ngành, cũng như của trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ trong năm học 2021-2022: “Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục”. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vừa dạy học vừa nâng cao tinh thần thần phòng chống dịch bệnh Covid-19. Yêu cầu đặt ra đối với mỗi một GV là: Dạy cách sống, dạy cách học cho HS. Trong đó trọng tâm hàng đầu là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động sáng tạo, tích hợp, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn. Đối với học sinh phải chấm dứt cách học thụ động, một chiều, máy móc, bắt chước sang phát triển năng lực vận dụng, năng lực học tập, năng lực sáng tạo. Để đạt được yêu cầu đó, dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực môn lịch sử đạt hiệu quả cao là một việc làm vô cùng quan trọng. Mục tiêu của môn Lịch sử lớp 4 là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng: Biết quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau, biết đặt câu hỏi trong quá trình học tập, trình bày diễn trình của các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử (từ đơn giản đến phức tạp), trình bày kết quả bằng lời nói, hình vẽ, sơ đồ, vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Từ đó, hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất và năng lực như: năng lực tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đồng thời giúp học sinh khám phá những kiến thức về lịch sử. Bồi dưỡng lòng tự hào về dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, giữ gìn và phát triển giá trị văn hóa của Việt Nam. Từ đó, góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và giáo dục các em về truyền thống, lòng tự hào và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi băn khoăn suy nghĩ phải làm gì và làm thế nào để các em phát triển phẩm chất, năng lực của mình, có hứng thú học tập nhất là đối với phân môn lịch sử. Và cũng là bước chuẩn bị của tôi cho việc đón nhận Chương trình giáo dục phổ thông mới. Vì vậy tôi đã nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực trong môn Lịch sử lớp 4”. PHẦN 2. NỘI DUNG I.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: 1. Đặc điểm chung của trường, của lớp. Trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ nằm trung tâm của thị trấn Cam Lộ. 2
- Trường tôi đã đạt trường chuẩn quốc gia và là ngôi trường có chất lượng giáo dục tốt, có bề dày truyền thống, đạt nhiều thành tích cao trong dạy học và giáo dục học sinh. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của nhà trường đều đạt chuẩn, có năng lực chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục học sinh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của nhà trường được trang bị tương đối đầy đủ. 2. Thực trạng dạy học môn Lịch sử lớp 4 theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực ở trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ. 2.1. Thuận lợi: * Về giáo viên: - Ban giám hiệu trường quan tâm chỉ đạo việc dạy học môn lịch sử lớp 4 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực. - Về phía nhà trường, tôi đã học tập được rất nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực qua các chuyên đề do nhà trường xây dựng. Bên cạnh đó nhà trường còn mua sắm đầy đủ các trang thiết bị dạy học hiện đại như laptop, máy projecter, để góp phần tạo môi trường vật chất cho việc dạy và học hiệu quả. * Về Học sinh: - Một thuận lợi nữa cho quá trình dạy học môn Lịch sử theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực đó là nhiều học sinh đã có ý thức hơn trong học tập, ham học hỏi, thích tìm tòi, khám phá về Lịch sử. 2.2. Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi trên, khi thực hiện dạy môn Lịch sử lớp 4 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, tôi còn gặp một số khó khăn sau: * Về giáo viên: - Khó khăn lớn nhất đối với tôi đó là còn thiếu kinh nghiệm trong việc dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Nguyên nhân, đây là năm đầu tiên lớp 4 triển khai thực hiện, tiếp cận việc dạy học theo định hướng này. * Về học sinh: Ngay từ những buổi học đầu tiên tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh, cho học sinh tự đánh giá – phản hồi, đánh giá việc học của các bạn – phản hồi, hỗ trợ – điều chỉnh ở lớp 4A2 trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ và thu được kết quả như sau: 3
- Bảng 2a. Đánh giá năng lực chung: Tốt Đạt Chưa đạt Sĩ số Năng lực SL TL SL TL SL TL Tự học 15 44,1% 19 55,9% 0 0 34 Giao tiếp và hợp tác 10 29,4% 24 70,9% 0 0 Giải quyết vấn đề, sáng tạo. 7 20,6% 27 79,4% 0 0 Bảng 2b. Đánh giá năng lực đặc thù phân môn Lịch sử: Tốt Đạt Chưa đạt Sĩ số Năng lực SL TL SL TL SL TL Nhận thức 15 44,1% 19 55,9% 0 0 34 Tìm tòi và khám phá 10 29,4% 24 70,9% 0 0 Vận dụng 7 20,6% 27 79,4% 0 0 Bảng 2c. Đánh giá phẩm chất: Tốt Đạt Chưa đạt Sĩ số Phẩm chất SL TL SL TL SL TL Chăm chỉ 15 44,1% 19 55,9% 0 0 Nhân ái 20 58,2% 14 41,2% 0 0 34 Trung thực 18 52,9% 16 47,1% 0 0 Trách nhiệm 18 52,9% 16 47,1% 0 0 Nhìn vào bảng số liệu trên, tôi thấy tỉ lệ học sinh có năng lực chung, năng lực đặc thù và phẩm chất khi học môn Lịch sử đạt tốt còn chưa cao. Nguyên nhân một phần là do học sinh năng lực nhận biết, phân tích, tổng hợp, vận dụng kiến thức còn chưa tốt, ghi nhớ còn máy móc. Năng lực thực hành trên bản đồ, lược đồ và tranh ảnh, hình ảnh, khai thác các kênh chữ, nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng khái quát hóa còn hạn chế. Một số em lại nhút nhát, rụt rè, chưa tự giác tham gia vào các hoạt động, chưa phát huy được khả năng hợp tác, sáng tạo. Bên cạnh đó, nhiều em chưa quen đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực nên các em còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Qua việc nghiên cứu, qua thực tiễn các giờ dạy Lịch sử, tôi đã suy nghĩ, tìm tòi, áp dụng “Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực trong môn Lịch sử lớp 4” ở lớp 4A2 trường tiểu học thị trấn Cam Lộ, cụ thể như sau: 4
- *Biện pháp 1. Phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh trong kĩ năng đọc và phân tích tư liệu: Để giúp các em ghi nhớ kiến thức cũ và tích hợp nội dung mới một cách có hệ thống, dễ hiểu, dễ nắm được những sự kiện, thời gian lịch sử, cần rèn cho học sinh kĩ năng đọc và phân tích tư liệu. Với việc làm này, đòi hỏi giáo viên có phần giới thiệu bài cuốn hút, gây được ấn tượng, gây được sự tò mò cho học sinh. GV có thể tổ chức cho học sinh trò chơi khởi động như: hát, nghe lại một bài hát, bài thơ, xem hình ảnh, video,...qua quan sát hoặc phân tích dữ liệu học sinh thấy được mối quan hệ với bài học. Ngoài việc dạy học theo chương trình môn Lịch sử tôi đã lồng ghép những kiến thức đã học vào các môn học khác giúp các em phấn khởi, không bị nhàm chán, bó buộc trong yêu cầu của giáo viên. Mặt khác, phương pháp dạy và học bây giờ là hạn chế tối đa việc học thuộc lòng. Do vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể cách khai thác kênh hình, kênh chữ thông qua hệ thống việc nhận biết các dấu hiệu, hệ thống các câu hỏi phù hợp. Cần chú trọng rèn luyện cho học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới. Hướng cho kiến thức lịch sử đến với các em bằng nhiều kênh thông tin khác nhau để học sinh am hiểu và nắm bắt kiến thức một cách vững chắc hơn chứ không phải là những bài giảng nhàm chán thiếu hấp dẫn. Muốn làm được điều này GV cần: - Lựa chọn nội dung bài học. - Đưa ra tư liệu tương ứng. - Định hướng và kích thích học sinh tìm hiểu tư liệu thông qua hệ thống câu hỏi. Ví dụ: Phần giới thiệu bài bài “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân”. GV cho học sinh xem một đoạn video về thời còn nhỏ của Đinh Bộ lĩnh. Hỏi: Các con có biết đây là nhân vật nào không? GV giới thiệu: Ngay từ khi còn nhỏ Đinh Bộ lĩnh đã có tài dùng quân, bày binh bố trận. Vậy khi lớn lên ông đã sử dụng tài đó như thế nào để giúp nước chúng ta cùng tìm hiểu qua bài “Đinh bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân” - Khi dạy bài “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng” tôi lồng ghép với bài tập đọc “Hai Bà Trưng” để học sinh tự nhớ lại các kiến thức. - Đối với các kênh chữ nhỏ trong bài, giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm, phân tích, hoặc cung cấp thêm đoạn video giúp các em hiểu những thông tin do kênh chữ nhỏ cung cấp sau khi đi vào tìm hiểu những sự kiện qua kênh chữ lớn. Giáo viên dựa vào các câu hỏi trong sách giáo khoa ở giữa bài và cuối bài chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức giúp cho các em phát huy kỹ năng nói. 5
- Ví dụ ở bài: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (năm 938)”. Các em muốn biết nguyên nhân nào có trận Bạch Đằng, thì các em phải đọc thầm kênh chữ nhỏ và nắm được thông tin ở đầu bài và theo dõi nội dung đoạn phim. Hoặc bài: “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân” . Để biết được tình hình nước ta sau khi Ngô Quyền mất, các em đọc thầm kênh chữ nhỏ sau đó trả lời câu hỏi: - Sau khi Ngô Quyền mất tình hình nước ta như thế nào ? (Sau khi Ngô Quyền mất triều đình lục đục, tranh nhau ngai vàng ..). Hay bài: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)”. Giúp học sinh ghi nhớ nguyên nhân Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Giáo viên đọc cho học sinh nghe một số câu thơ: “Giận thay Tô Định bạo tàn. Nay ta dấy nghĩa diệt loài sói lang! Một xin rửa sạch nước thù. Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba kẻo oan ức lòng chồng . Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này”. Và bài: “Thành thị ở thế kỉ XVI – XVII”. Để các em mô tả đúng ba thành thị lớn của nước ta thế kỉ XVI – XVII. Tôi yêu cầu học sinh đọc thông tin trong sách giáo khoa, bằng sự hiểu biết của mình hoàn thành bài tập sau: Đặc điểm Quy mô Dân cư Hoạt động buôn bán thành thị thành thị Thăng Đông dân Lớn bằng Những ngày chợ phiên, dân các Long hơn nhiều thành thị ở vùng lân cận gánh hàng hóa đến thành thị ở một số nước đông không thể tưởng tượng được. châu Á châu Á Buôn bán nhiều mặt hàng như áo, tơ lụa, Có nhiều dân Có hơn 2000 Là nơi buôn bán tấp nập. Phố Hiến nước ngoài nóc nhà của như Trung người nước Quốc, Hà khác đến ở. Lan, Anh, Pháp. Là dân địa Phố cảng Thương nhân ngoại quốc thường Hội An phương và đẹp và lớn lui tới buôn bán các nhà buôn nhất Đàng Nhật Bản. Trong Tôi tiến hành theo các bước sau: - Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kênh chữ SGK hoàn thành bảng thống kê. - Bước 2: Yêu cầu mỗi nhóm mô tả về một thành thị. 6
- - Bước 3: Nhận xét, tuyên dương nhóm mô tả đúng. Cách học này giúp các em mô tả đúng về thành thị và ghi nhớ kiến thức đã học. Qua kênh hình, kênh chữ, tư liệu Học sinh tự học, tự làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập, có thể nhận biết, trình bày ý kiến cá nhân (viết hoặc nói), cũng có thể trao đổi, thảo luận để rút ra những ý kiến chung. Các em hứng thú học tập, nắm bài chắc chắn và các em rất tự tin khi trình bày ý kiến của mình. *Biện pháp 2. Phát triển năng lực của học sinh trong kĩ năng quan sát và kể lại, trình bày lại diễn biến cuộc kháng chiến qua bản đồ, lược đồ. Giúp phát triển năng năng lực quan sát và đọc, trình bày, so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa, thông qua làm việc với bản đồ, lược đồ quan sát và kể lại, trình bày lại diễn biến cuộc kháng chiến. Học sinh được thể hiện dưới hình thức ngôn ngữ nói và viết. Để hình thành được năng lực này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh: a. Chuẩn bị: -Trong việc chuẩn bị bài ở nhà: - Cần nghiên cứu bài chi tiết, đầy đủ và sưu tầm các tư liệu có liên quan đến nội dung bài học trong quá trình học tập trên lớp. - Tích cực tham gia vào các hoạt động học - Hăng hái xây dựng ý kiến. - Luôn nghiêm túc, có ý thức học tập . - Hợp tác, chia sẻ với bạn trong quá trình tìm hiểu nội dung bài học. * Đối với Giáo viên: Chuẩn bị một hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức, giúp các em phát huy kĩ năng nói, kĩ năng diễn đạt khi kể hoặc trình bày, diễn biến theo bản đồ hoặc lược đồ. Qua 3 bài đầu của môn Lịch sử - Địa lí đã hướng dẫn cho các em kĩ năng quan sát, chỉ, mô tả, kể những sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Vì vậy, một số bài có bản đồ, lược đồ, giáo viên cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, dễ cho học sinh quan sát, phóng to để hấp dẫn, thu hút sự chú ý, giúp các em có ấn tượng sâu sắc và không bị quên lãng khi học xong. Để học sinh biết sử dụng bản đồ, lược đồ để trình bày một vấn đề giáo viên cần: - Lựa chọn nội dung bài học - Đưa ra hệ thông câu hỏi. - Chiếu bản đồ, lược đồ. - Yêu cầu học sinh, xem phần chú thích, các kí hiệu trên bản đồ, lược đồ, thảo luận nhóm, sau đó trình bày và giao lưu với các nhóm khác . Ví dụ bài: “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất (năm 981)”. Để học sinh trình bày được diễn biến cuộc kháng chiến, tôi xây dựng câu hỏi như sau: 7
- 1. Quân Tống xâm lược nước ta vào thời gian nào? 2. Chúng tiến vào nước ta theo mấy đường, là những đường nào? 3. Lê Hoàn chia quân thành mấy cánh và đóng quân ở những đâu để đánh giặc? 4. Kể lại hai trận đánh lớn giữa quân ta và quân Tống? 5. Kết quả của cuộc kháng chiến như thế nào? Các bước tiến hành: - Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kênh chữ SGK thảo luận nhóm đôi trả lời các câu hỏi. - Bước 2: Yêu cầu trình bày các câu hỏi: một học sinh nêu câu hỏi, học sinh khác trả lời, vừa trình bày vừa chỉ lược đồ, nhóm khác nhận xét. - Bước 3: Gọi một số em trình bày toàn bộ diễn biến cuộc kháng chiến. - Bước 3: Nhận xét, tuyên dương nhóm trình bày đúng. Lịch sử là kiến thức có thật đã được xảy ra trong nước hay trên thế giới, học sinh không thể tưởng tượng, suy luận hay phán đoán lịch sử mà muốn nhớ được thì phải thấy được những sự kiện đã xảy ra và được tiếp cận với những “dấu tích” – chứng cứ lịch sử. Nhưng sự kiện đã xảy ra thì không thể dựng lại cho học sinh thấy được ở trên lớp. Vì vậy hình ảnh, tư liệu lược đồ, bản đồ chính là những kiến thức lịch sử mà chúng ta dựng lại cho học sinh thấy và từ đó giúp các em ghi nhớ kiến thức lâu hơn, biết lưu giữ và bảo tồn những chứng tích lịch sử của dân tộc, biết công lao to lớn của các bậc tiền bối, cha ông đã dựng nước và giữ nước. - Khi áp dụng phương pháp này, GV sẽ hình thành ở HS năng lực quan sát, phân tích, tổng hợp, hợp tác, giải quyết vấn đề, đồng thời có các kĩ năng : giao tiếp, chia sẻ trong quá trình hoạt động. *Biện pháp 3. Hình thành phẩm chất, năng lực trong kỹ năng lập sơ đồ tư duy: Việc học lịch sử vốn rất khó, do đặc thù môn học có nhiều kiến thức dàn trải, có rất nhiều mốc thời gian và sự kiện cần nhớ. Học sinh thường không thích và dễ chán nếu giáo viên không sử dụng phương pháp gây hứng thú cho học sinh.Vậy phải làm gì để học sinh tích cực, chủ động học lịch sử? Muốn dạy tốt môn Lịch sử phải làm sao để xâu chuỗi các sự kiện, các mốc thời gian cho logic dễ nhớ? Người thầy phải làm sao để giúp học sinh chủ động khám phá, tìm tòi ra kiến thức, trình bày một cách khoa học, dễ hiểu, dễ nhớ, để học sinh mới hứng thú học lịch sử? Và sơ đồ tư duy chính là nút thắt cho hàng loạt câu hỏi trên. Sử dụng sơ đồ tư duy nhằm phát triển năng lực riêng của từng học sinh về trí tuệ (vẽ, viết gì trên Bản đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua 8
- sách vở vào cuộc sống. Ví dụ: Bài : “Nước Âu Lạc” sau khi học xong các em có thể khái quát nội dung qua sơ đồ tư duy. Sau đó trình bày lại nội dung bài qua sơ đồ đó trước lớp. Chẳng hạn: Giáo viên nêu câu hỏi, học sinh hoàn thành nội dung trên phiếu bài tặp. Qua bài học này, em biết được những điều gì về nước Âu Lạc? - Học sinh suy nghĩ tái hiện lại những điều mình đã học ghi lại vào phiếu bài tập. Sau một thời gian ngắn các em đã hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình. Nhìn chung các em đẫ tai hiện lại được những kiến thức về tổ chức bộ máy nhà nước Âu Lạc. ( Tranh minh họa ). - Khi học sinh đã thiết kế Bản đồ tư duy và tự “ghi chép” phần kiến thức như trên là các em đã hiểu sâu kiến thức và biết chuyển kiến thức từ SGK theo cách trình bày thông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của mình. Học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh. Phát triển năng lực riêng của từng học sinh về trí tuệ (vẽ, viết gì trên Bản đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. *Biện pháp 4. Phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh qua sử dụng phương pháp giao nhiệm vụ. Nếu như phương pháp cũ học sinh chỉ thụ động tiếp thu kiến thức, không biết tìm kiếm tài liệu ở đâu, còn phụ huynh cũng không được thu hút vào việc học tập của con thì với phương pháp này học sinh được chủ động tìm ra kiến thức bằng việc sưu tầm tranh ảnh, thông tin,... (như qua mạng internet, đọc sách thư viện, hỏi người thân,..). Các em không chỉ sử dụng vốn sống của bản thân mà trong quá trình tham gia đi tìm kiếm thông tin giúp các em tự gây dựng thêm vốn sống cho mình. Giáo viên tránh được lối truyền đạt thụ động, không gây hứng thú cho học sinh. Ngoài ra nó còn giúp tạo được mối liên kết cũng như có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong quá trình giáo dục các em, gây cho học sinh sự đam mê, sự khám phá. Rèn năng lực chủ động trong việc nắm bắt kiến thức và giúp cho các em khắc sâu kiến thức hơn, biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. Giáo viên giao cho các em một nhiệm vụ cụ thể nào đó và yêu cầu các em phải thực hiện trong một thời gian nhất định. Qua đó, học sinh có thể sẽ có điều kiện để thể hiện những kinh nghiệm vốn có của mình, hình thành được những hành vi phù hợp với công việc được giao, thu nhận kiến thức phù hợp. 9
- Tuy nhiên, giáo viên cần lưu ý khi sử dụng phương pháp này: - Cần có sự trao đổi trực tiếp với phụ huynh trong các buổi họp để có sự hỗ trợ, chia sẻ từ họ trong việc thực hiện phương pháp này. - Cần xây dựng kế hoạch giảng dạy cụ thể, chi tiết trong việc phân công nhiệm vụ cho từng nhóm: - Giúp học sinh trong quá trình tìm tòi kiến thức. Phải kiểm tra thường xuyên tiến độ làm việc từng nhóm. Định hướng cho các em tìm kiếm đúng trọng tâm kiến thức. -Yêu cầu các nhóm trình bày thử cho giáo viên sau khi hoàn thành. GV sẽ gợi ý giúp các em trình bày lưu loát hơn. - Khi giao việc GV cần lưu ý đến đặc điểm của từng học sinh như: Tính cách, điều kiện sống, nơi ở ...để tránh giao những nhiệm vụ không phù hợp, quá sức đối với học sinh. Khi thực hiện biện pháp này, đòi hỏi người giáo viên cần: - Lựa chọn bài dạy phù hợp với phương pháp giao việc. - Xây dựng kế hoạch: Căn cứ vào mục tiêu của bài, điều kiện, phương tiện dạy học cũng như đặc điểm, trình độ nhận thức của học sinh trong lớp và kinh nghiệm của bản thân mà GV sẽ lập ra hệ thống các câu hỏi và phân chia công việc cho từng nhóm (cá nhân). Ví dụ: Trước khi học bài “Nhà Nguyễn thành lập” GV giao nhiệm vụ cho các nhóm về sưu tầm tranh ảnh và thông tin liên quan đến bài như: - Chia nhóm: Chia lớp thành 4 nhóm - GV đưa ra nhiệm vụ cho các nhóm. Nhóm 1: Tìm thông tin về sự ra đời của nhà Nguyễn Nhóm 2: Tìm hiểu về cách tổ chức quân đội nhà Nguyễn. Nhóm 3: Tìm hiểu các bộ luật mới của nhà Nguyễn. Nhóm 4: Tìm hiểu thông tin về các đời vua nhà Nguyễn. - Trong từng hoạt động các nhóm sẽ lần lượt trình bày sản phẩm hay thông tin thu thập được theo điều hiện của GV. Các nhóm khác sẽ nhận xét, bổ sung. GV sẽ là người nhận xét đúc kết kiến thức của hoạt động. * Biện pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phân môn Lịch sử. Nguyên tắc dạy học quan trọng của lịch sử là luôn sử dụng phương tiện dạy học với các yêu cầu cơ bản: Đảm bảo phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học, đúng lúc, phối hợp nhiều loại khác nhau, đủ cường độ và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. phương tiện dạy học lịch sử có hai chức năng cơ bản là trực quan và nguồn tri thức, trong đó chức năng nguồn tri thức đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động nhận thức của học sinh. Bản thân 10
- phương tiện dạy học lịch sử chứa đựng các kiến thức lịch sử. Để sử dụng có hiệu quả các phương tiện dạy học, trong quá trình dạy học giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, khám phá, khai thác và chiếm lĩnh kiến thức từ các phương tiện dạy học lịch sử; qua đó, học sinh vừa có được kiến thức, vừa được rèn luyện các kĩ năng và biết cách thức vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn. Công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong dạy học. Giáo viên cần khuyến khích và tạo điều kiện, môi trường học tập thuận lợi cho học sinh khai thác thông tin từ internet để phục vụ học tập như khai thác kiến thức từ các bài hát, bài thơ, bộ phim tư liệu có liến quan đến nội dung bài học. Ví dụ : khi dạy bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ 2( 1075-1077) Lịch sử lớp 4 Tôi cho học sinh xem bộ phim hoạt hình ‘ Rạng ngời trang sử Việt” tập 16 ( Lỹ Thường Kiệt) Dạy bài “ Chiến thắng Bạch đằng do Ngô Quyền lãnh đạo ( 938). Học sinh sẽ xem bộ phim hoạt hình “ Đại chiến Bạch Đằng”. Trên kênhYouTube » chiếu bộ phim :« Huyền sử Thiên Đô » nói về thời vua Lý Công Uẩn, các em và người thân trong gia đình nên xem để hiểu rõ hơn về lịch sử nước nhà và càng có trách nhiệm, lòng yêu quê hương đất nước.Sau đó yêu cầu học sinh thuật lại tóm tắt bộ phim đó. Hoặc: Ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm là ngày giỗ tổ Hùng Vương (nhân dân tổ chức hội đền Hùng ở Huy Chương, Lâm Thao, Phú Thọ). Giáo viên đọc cho học sinh nghe một số câu thơ : « Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba. Dù ai buôn bán gần xa. Nhớ ngày giổ Tổ tháng ba mồng mười ». Có thể nói đây là tư liệu trục qua sinh động nhất và cũng có tác động mạnh đến sự hứng thú của học sinh trong giờ học. Khi quan sát có chủ đích, lại hiểu rõ vấn đề thì những kiến thức mà được các em tiếp nhận một cách rất tự nhiên. Như vậy ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học một cách hợp lý trong từng tiết dạy sẽ giúp bài học trở nên sinh động và thu hút sự chú ý của học sinh. Các em học tập sôi nổi hơn, tích cực hơn và ghi nhớ bài học chính xác hơn, lâu hơn. *Biện pháp 6. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo 11
- của cá nhân mình. Tổ chức hoạt dộng trải nghiệm, trong môn Lịch sử còn góp phần cụ thể hoá, làm sâu sắc, phong phú, sinh động kiến thức môn học; là cơ hội để học sinh rèn luyện kĩ năng bộ môn. Đồng thời, bồi dưỡng cho HS tinh thần chủ động, ý thức tự giác, trách nhiệm trong học tập và cuộc sống, say mê, hứng thú học tập bộ môn. Qua đó, góp phần phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực thực tiễn, năng lực tư duy, sáng tạo, giải quyết vấn đề học sinh. Hoạt động trải nghiệm là hình thức học tập gắn lí thuyết với thực tiễn, gắn giáo dục trong nhà trường với giáo dục ngoài xã hội, nó “phá vỡ” không gian lớp học, tạo điều kiện cho học sinh có môi trường mới để khám phá kiến thức một cách tích cực, chủ động và sáng tạo, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày. Để thực hiện hoạt động này giáo viên sẽ phải thực sự nghiên cứu tài liệu, tư liệu và trau dồi kiến thức thì mới có thể truyền đạt được cho học sinh. Qua mỗi bài lịch sử các em sẽ thấy các câu chuyện, sự kiện, nhân vật lịch sử có sự liên quan gần gũi với cuộc sống của các em. Vì vậy, cần thường xuyên gắn nội dung lịch sử với tên đường phố, tên quê hương, tên liên đội thiếu niên, chi đội, hiểu được vì sao lại kỉ niệm các ngày lễ lớn. Để hoạt động trải nghiệm, trong dạy học Lịch sử lớp 4 đạt hiệu quả tốt, GV cần lựa chọn nội dung kiến thức tiêu biểu trong sách giáo khoa; cần xác định địa điểm và thời gian tổ chức phù hợp (tốt nhất là những địa điểm gần với trường học); cần có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, hình thức, cách thức tổ chức tiến hành. Bước 1: Lập kế hoạch trải nghiệm Bước 2: Thiết kế kế hoạch hoạt động trải nghiệm. Bước 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm. Bước 4: Đánh giá hoạt động trải nghiệm. Ví dụ : Trên kênhYouTube » chiếu bộ phim :« Huyền sử Thiên Đô » dài hơn 30 tập, nói về thời vua Lý Công Uẩn, các em và người thân trong gia đình nên xem để hiểu rõ hơn về lịch sử nước nhà và càng có trách nhiệm, lòng yêu quê hương đất nước.Sau đó yêu cầu học sinh thuật lại tóm tắt bộ phim đó. Ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm là ngày giỗ tổ Hùng Vương (nhân dân tổ chức hội đền Hùng ở Huy Chương, Lâm Thao, Phú Thọ). Giáo viên đọc cho học sinh nghe một số câu thơ : « Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba. Dù ai buôn bán gần xa. Nhớ ngày giổ Tổ tháng ba mồng mười ». Hằng năm trường tôi thường tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa một năm hai lần tới các bảo tàng gắn với lịch sử hoặc các khu di tích lịch sử Thành Tân Sở ( Vua Hàm Nghi), Nhà Tằm Tân Tường, Khu cách mạng 12
- chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam . Qua hoạt động đó giáo viên lên kế hoạch để các em được trải nghiệm những kiến thức thực tế. - GV đưa ra định hướng cho các em như chụp ảnh lại, ghi chép lời giới thiệu qua hướng dẫn viên du lịch ; phỏng vấn hướng dẫn viên hoặc những người có hiểu biết về nơi đó,... - Sau khi kết buổi hoạt động ngoại khóa giáo viên yêu cầu học sinh chia sẻ thông tin với lớp hoặc gắn sản phẩm của mình lên bảng tin của lớp. - GV kiểm tra, đánh giá, khen ngợi *Biện pháp 7. Dạy học kết hợp với đánh giá thường xuyên theo thông tư 22 Trong quá trình dạy học, chúng ta không chỉ đổi mới phương pháp dạy học mà cần phải đổi mới cách đánh giá học sinh, không nên chỉ chăm chăm vào vào kết quả thi, bài kiểm tra của các em mà nên nhìn vào quá trình học của các em. Chúng ta nên xem các em có có thái độ học tập như thế nào với môn học, các em có yêu thích giờ học không, tích cực trong giờ học không và quan trọng có khả năng tự học, tự tìm tòi, khai thác kiến thức hay không. Việc đánh giá không nên chỉ là xem học sinh đó đạt loại gì? có được khen không mà quan trọng là dể giúp giáo viên có thể điều chỉnh của mình lên học sinh một cách hiợp lý. Tìm cách động viên khích lệ các em tham gia học tập tích cực tự giá hơn đó mới là điều quan trọng. Chính vì thế mà việc đánh giá thường xuyên trong dạy học được coi trọng. Bỡi vậy, trong quá trình tổ chức, điều hành các hoạt động, giáo viên luôn quan sát, theo dõi, giúp đỡ hoạt động học tập của học sinh, đánh giá đúng mức độ hoàn thành của học sinh đối với từng yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cần đạt. Sau khi HS hoàn thành nhiệm vụ, động viên các em tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn sau đó GV đánh giá nhằm chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng để động viên, khen ngợi nhằm động viên, khuyến khích học sinh , chỉ ra chỗ chưa đúng để kịp thời sửa chữa. Quá trình đánh giá diễn ra thường xuyên trong suốt quá trình tiết học. Chẳng hạn: Để giúp học sinh tự đánh giá, giáo viên dùng những câu hỏi gợi ý: “Em thấy những ý kiến của nhóm ưa ra em như thế nào? Đã hài lòng chưa? Em cảm thấy như thế nào về phần trình bày của mình?” Hoặc “Em có hài lòng về phần trình bày của mình không?” Để tổ chức cho học sinh đánh giá lẫn nhau, giáo viên yêu cầu cả lớp cùng lắng nghe phần trình bày của bạn, của nhóm bạn để đánh giá, sau khi các cá nhân, nhóm trình bày kết quả làm việc, giáo viên đặt câu hỏi: “Em thấy ý kiến và phần trình bày của bạn, của nhóm bạn thế nào?” Hoặc “Em có nhận xét gì về phần trình bày của bạn, của nhóm bạn?” . 13
- Cuối cùng, giáo viên dùng lời nói để đánh giá học sinh nhằm khích lệ, động viên với những cố gắng của học sinh, kịp thời sửa chữa, bổ sung những thiếu sót. Có thể nói rằng việc áp dụng những biện pháp dạy học trên rất thiết thực, gắn với thực tế dạy học và mang lại hiệu quả rất cao. HIỆU QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN GIẢI PHÁP TRONG THỰC TẾ DẠY HỌC: Bằng những biện pháp cụ thể đã áp dụng như vừa nêu trên, sau một năm học, với sự nỗ lực không ngừng của giáo viên và học sinh, tôi thấy năng lực chung và năng lực học tập môn Lịch sử của học sinh lớp 4A2 đã được nâng cao rõ rệt. Học sinh yêu thích môn học hơn, hầu hết các em đều rất hào hứng tham gia vào các tiết học, tích cực tham gia các hoạt động. Nhiều em biết vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào cuộc sống hằng ngày. Các em đã hình thành được một số năng lực, phẩm chất như: Tự học, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Biết quan tâm chia sẽ với mọi người xung quanh, biết vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống. Biết yêu quê hương, đất nước, tự hào về dân tộc, chăm chỉ trung thực và có trách nhiệm. Điều này có thể thấy rõ với bảng số liệu sau: Bảng a. Đánh giá năng lực chung Tốt Đạt Chưa đạt Sĩ số Năng lực SL TL SL TL SL TL Tự học 30 88,2% 4 11,8% 0 0 Giao tiếp và hợp tác 25 73,5 9 26,5% 0 0 34 Giải quyết vấn đề, sáng 20 58,8% 14 41,2% 0 0 tạo. Bảng b. Đánh giá năng lực đặc thù trongphân môn Lịch sử. Tốt Đạt Chưa đạt Sĩ số Năng lực SL TL SL TL SL TL Nhận thức 30 88,2% 4 11,8% 0 0 34 Tìm tòi và khám phá 25 73,5% 9 26,5% 0 0 Vận dụng 20 58,8% 14 41,2% 0 0 Bảng c. Đánh giá phẩm chất Tốt Đạt Chưa đạt Sĩ số Phẩm chất SL TL SL TL SL TL Chăm chỉ 25 73,5% 9 26,5% 0 0 Nhân ái 30 88,2% 4 11,8% 0 0 34 Trung thực 28 82,3% 6 17,7% 0 0 Trách nhiệm 28 82,3% 6 17,7% 0 0 14
- Bản HTT Hoàn thành Chưa hoàn thành g d: SL TL SL TL SL TL Kết 82,4% 34 28 6 17,6% 0 0 quả học tập môn Lịch sử cuối năm học : Kết quả trên là một minh chứng cho thấy chất lượng học tập môn Lịch sử của học sinh lớp tôi được nâng lên rất nhiều. Điều này được đánh giá không chỉ qua kết quả học tập của các em mà thể hiện qua thái độ học tập của các em, bỡi thái độ học tập của các em để lại kết quả lâu dài trong tư tưởng, nhận thức của các em, trong tình cảm của các em với môn học, với thầy cô, với nhà trường. Đây là thành công của tôi trong quá trình giảng dạy môn môn Lịch sử theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Với các biện pháp trên đưa vào vận dụng trong dạy học phân môn lịch sử lớp 4. Hầu như cả lớp đều rất hứng thú khi học môn Lịch sử. Thậm chí có học sinh còn mong ngóng từng ngày đến tiết học. Ngay cả gia đình các em cũng có những phản hồi tốt như nói rằng các em ham tìm hiểu hơn, hào hứng kể cho bố mẹ nghe những kiến thức lịch sử đã khám phá được. Trong suốt quá trình học tập từ đầu học kì một đến nay, qua kiểm tra, đánh giá kết quả ở các tháng được nâng lên rõ rệt. Các em tiếp thu bài nhanh và nhớ lâu, có tinh thần học tập tốt. Đó cũng là nền tảng để các em bước vào bậc học của các lớp cao hơn. Những biện pháp mà tôi nêu trên không chỉ được kiểm nghiệm qua thực tế dạy học trên lớp của tôi, mà đã được phổ biến trong tổ chuyên môn tổ 3 - 4- 5 Âm nhạc, Tin học và các khối lớp khác tham khảo, được các bạn đồng nghiệp đánh giá cao và hiện nay biện pháp này đã được phổ biến thực hiện rộng rãi trong toàn trường. Biện pháp này đã góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy – học trong nhà trường, góp một phần không nhỏ trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2021-2022 của Trường Tiểu học thị trấn Cam Lộ. 15
- PHẦN 3. KẾT LUẬN I. KẾT LUẬN Dạy học Lịch sử là dạy cho học sinh hiểu về cội nguồn đất nước, về những vị anh hùng dân tộc, Từ chỗ hiểu rồi các em mới thêm yêu đất nước. Vì vậy, môn học này có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông cho nên tôi đã vận dụng những biện pháp nhằm phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Qua những biện pháp trên, tôi thấy các em đã có hứng thú trong học tập và ghi nhớ kiến thức lịch sử một cách có hệ thống. Mặc dù chưa được hoàn thiện nhưng chứng tỏ trong các môn học, môn Lịch sử cần có sự đổi mới về phương pháp, hình thức dạy học giúp học sinh phát triển hết được các phẩm chất và năng lực của mình.Từ đó phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện. Dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực môn lịch sử đạt hiệu quả cao là một việc làm vô cùng quan trọng. Nó giúp cho học sinh thấy rằng mỗi tiết học lịch sử “tẻ nhạt” trở nên sôi nổi và hấp dẫn hơn, thu hút được niềm đam mê nghiên cứu những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cũng như ông cha ta đã từng dạy “Dân ta phải biết sử ta”. Chính điều đó đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài nghiên cứu. II. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: Để thục hiện tốt đề tài, bản thân tôi có một số đề xuất như sau: 1. Đối với giáo viên: - Giáo viên phải biết liên hệ thực tế chuyển từ kiến thúc cũ giúp học sinh khai thác kiến thức mới một cách khoa học, hấp dẫn. - Giáo viên cần gần gũi với học sinh hơn nữa và có sự linh hoạt trong cách tổ chức hướng dẫn học sinh tự học, giúp các em biết tự giác tìm tòi, khám phá, phát hiện cái hay, cái đẹp, sửa chữa điểm sai của mình. - Dạy học lịch sử cần được vận dụng bằng nhiều hình thức sinh động, phong phú. - Giáo viên ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử. - Lịch sử là cần chính xác tuyệt đối về thời gian, về số liệu minh chứng. - Kiểm tra và đánh giá là khâu then chốt trong quá trình dạy học. Đánh giá vừa mang mục đích xác định mức độ năng lực và kiến thức được hình thành ở học sinh, vừa giúp giáo viên điều chỉnh được hoạt động dạy học của mình. 2. Đối với nhà trường: - Giáo viên chúng tôi mong muốn được cung cấp thêm tài liệu về lịch sử như sách, truyện, tư liệu, lược đồ các trận đánh và tài liệu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất; cung cấp trang thiết bị cho lớp học như( 16
- máy chiếu, tivi..). Trên đây là " Một số biện pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn Lịch sử lớp 4” mà bản thân tôi đã áp dụng. Tôi xin được chia sẻ và rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để công tác dạy học cũng như chất lượng học tập của HS ngày càng được nâng cao! Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí. Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị Cam Lộ, ngày 12 tháng 5 năm 2022 Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người viết sáng kiến Nguyễn Thị Mỹ Lan 17
- MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA Kết quả của chúng em sau những giờ học thú vị (Biện pháp 3) 18
- Chúng em đén với thành tân sở vua Hàm Nghi tại Cam Chính Cùa (Biện pháp 6) Hành trình về nguồn mừng non sông thống nhất (Biện pháp 6) 19
- Hoạt động trải nghiệm mừng 50 năm giải phóng Huyện Cam Lộ (Biện pháp 6) Hoạt động trải nghiệm (Biện pháp 6) 20

